THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP






Image


1884 .- .1945

____________________________________________________________________________
t r â n


hôm ấy, Tuấn như vỡ oà dưới lăng kính mống trời. cậu vung roi, nghiến răng, quật tron trót. từng giọt uất hận kết tụ lại, tuôn thành dòng:"tổ cha thằng Tây! tao oánh cho chết mày! sao mầy qua lấy nước tao?... sao mầy bắt bỏ tù vua Duy-Tân của nước An Nam?...mẹ cha mầy." ông Tây quan Ba nằm sấp mặt dưới đất, quằn quại, rên rĩ, dậc lạc. chàng trai chân chất nước Việt với nền văn minh lúa nước nên ngơ ngác trước những biến tấu của dục lạc, mà tâm khảm vẫn hực hỡ một tinh thần dân tộc. Tuấn chẳng ngờ làn roi ấy lại giúp người đàn ông dị chủng phóng dậc, thực chất, cậu chỉ muốn trút những căm phẫn thuộc địa lên da thịt thực dân. thuở nay, giai cấp bị trị thường gục đầu ủ ê, âm thầm nuốt hận khi nghe nước mẹ Đại Pháp rủa xả dân tộc mình sale race annamite. lúc vua Duy Tân bị mạt sát là thằng nhãi ranh, Tuấn chỉ biết mượn lời của Corneille trong vở kịch La Cid để phản kháng: je suis jeune, il est vrai, mais aux âmes bien nées, la valeur n'attend pas le nombre des années. tuổi ta trẻ nhưng hồn ta khảng khái, giá trị người không đợi phải nhiều năm! bỗng dưng, có một ngày, thân phận nhược tiểu lại được quất kẻ thống trị tơi tả. ♫♫♫♫


châu Âu nhón gót đến nước Nam từ năm 1553 qua ngõ truyền giáo, nhưng mãi tới 1855, mười năm sau khi nhà Thanh ký các Nam Kinh Điều Ước, Trung-Mỹ, Trung Pháp Điều Ước, quân đội Pháp mới chính thức xâm chiếm Việt Nam. thoạt tiên, họ chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ-Gia định, Biên hòa và Định tường; tiếp theo, Pháp lấn nốt ba tỉnh miền Tây-Vĩnh long, An giang và Hà tiên. ngày 20 tháng Sáu năm 1867, vì sa mù giăng mắc lệch lạc, hạm đội của Pháp chĩa súng vây hãm thành Vĩnh long mà quân ta vẫn không hề hay biết. khi nhận được tối hậu thư của bộ tham mưu Pháp buộc phải nhượng thành, cụ Phan Thanh Giản, vị kinh lược sứ, liệu sức không thể đối phó bằng quân sự với Pháp, muốn điều đình nhưng thất bại. sau khi giao thành, cụ uống thuốc độc tuẫn tiết. vua Tự Đức hay tin, rất giận, truyền lột hết chức tước và đục bỏ tên cụ ở bia tiến sĩ! thôn tính xong lục tỉnh Nam kỳ, Pháp liền thò cánh tay lông lá ra miền Bắc. thành Hà nội khói lửa ngập trời thắm đẫm dòng máu hy sinh của các vị quan Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu và các binh sĩ, sau hai lần bị tấn công, đã mất vào tay quân Pháp ngày mồng 8 tháng Ba năm Nhâm ngọ. lần này, Pháp quyết tâm bình định toàn cõi Bắc kỳ để giành quyền bảo hộ nước Nam với Trung hoa. nên, họ đánh thốc lên Sơn tây, Bắc ninh, Hưng hóa và Tuyên quang, rồi thương thuyết với Trung quốc đang đóng quân ở ba tỉnh Cao Bắc Lạng, yêu cầu quân Tàu rút về nước. hòa ước Patenôtre ký vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 tại kinh đô Huế chấm dứt chế độ phong kiến rữa nát và đánh dấu một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên Pháp thuộc.

sau đó, nhà nước Đại Pháp bắt đầu củng cố bộ máy cai trị xứ Nam kỳ thuộc địa, lấn lướt hai xứ theo chính thể bảo hộ Bắc kỳ và Trung kỳ: nắm hết quyền hành khiến vua và triều đình chỉ là hư vị. ngoài ra, họ bắt đầu canh tân nước Nam: mở mang canh nông, công nghệ; xây nhà thương, sở bưu điện; lập hệ thống giao thông thủy lộ, cầu cống; làm đường cái quan nối liền Sài gòn, Huế và Hà nội; mở trường học dạy chữ quốc ngữ, chữ Tây, dạy toán Géométrie, Algèbre, dạy Physique, Chimie ...


như vậy, Tuấn vươn hình hài lớn dậy trong một xã hội đang phôi thai trong tiến bộ, nửa Âu nửa Á, nửa cổ điển nửa tân kỳ. nền khoa học kỹ thuật tuyệt hảo của Pháp quốc: máy bay, xe hơi, xe máy, đồng hồ, giây thép, trục giao thông thủy lộ...lẫn dòng văn chương học thuật Pháp: kịch thơ Alexandrius của Corneille và Ranice, tiểu thuyết hấp dẫn của Bernadine de Saint Pierre, lời thơ bất hủ của Victor Hugo và Alfred de Mausset...dọi những tia rực rỡ hấp lực thôi miên tâm thức Tuấn. tuy dầm mình trong dưỡng khí học đường chan hòa ánh sáng văn minh, Tuấn vẫn thích được làm nhaque. cậu từng trả lời với ông quan Một: "Que voulez-vous ? Mon père est nhaque, ma mère est nhaque, j'aimerais rester nhaque même quand je serais un licencié ou un docteur-ès-Lettres …" (Ông nghĩ coi, cha tôi là nhà quê, mẹ tôi là nhà quê thì tôi cũng sẽ thích là nhà quê, mặc dầu chừng đó tôi sẽ là Cử nhân hay Tiến sĩ Văn chương Pháp …). phải chăng thế hệ thanh niên ngày ấy, trừ một số nhỏ hám danh, đa số, tuy say mê văn hóa Pháp vẫn muốn bảo tồn lấy quốc hồn quốc túy của dân tộc? hơn nữa, lớp trẻ nhận ra rằng người Pháp gieo rắc hạt giống văn minh chỉ để phục vụ quyền lợi cho các nhà tư bản và đế quốc. như là, mở đường xá để chuyển dịch hàng hoá cho các nhà buôn hơn là phục vụ giao thông cho dân bản xứ. Pháp còn ra sức khai thác tài nguyên: thiếc, khoáng chất, than, đồn điền cao su ...và thẳng tay bóc lột đàn áp người Việt, xem dân ta như một loại bồi thần hạ cấp. do đó, đâu đây, phong trào Đông Du, Việt Nam Độc Lập, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đệ tứ quốc tế, Việt Nam Cách Mạng Đồng Chí Hội...như những tiếng trống tuy lạc nhịp nhưng hào hùng gióng giả lời kêu gọi khởi nghĩa kháng Tây. trong không gian đậm đặc hào khí dân tộc, những Việt Nam vong quốc sử, Lưu cầu huyết lệ thư, Hải ngoại huyết thư của cụ Phan Bội Châu, Việt Nam Hồn của Nguyễn Thế Truyền đã thôi thúc mầm ái quốc đâm chồi trong tâm tưởng Tuấn.

sông núi nước Việt cứ nỉ non khúc nam ai u hoài, mà thế hệ Tuấn, thế hệ những chàng trai sinh trưởng từ đầu thế kỷ, vẫn còn đang non nớt nấn níu tìm lối đi, chưa có giải đáp, mặc dù, họ có chung một mẫu số: muốn dành lấy độc lập, tự do, chủ quyền cho nước nhà.

*

ngày 19-8-1945... Tuấn không hành lý, hai tay không, với 100 đồng bạc trong túi, lên xe lửa vô Saigòn.





tài liệu tham khảo:
tuấn chàng trai nước Việt. nguyễn vỹ.
việt sử toàn thư. phạm văn sơn.

Image


19584



Image


1945 .- .1954

____________________________________________________________________________
t r â n


I. những mùa thương tích:

1. nội các nhạt nhoà nhuốm màu quên lãng: ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đánh úp thực dân Pháp ở Đông Dương, cướp cơ hội dày xéo nước Nam. trước đó, ngay từ những năm 40, mặt trời Phù Tang đã cứa lên dải đất hình chữ S một vết thương nhức nhối: nạn đói lịch sử năm Ất dậu. lần này, quân đội Nhật thập thò sau hậu trường sân khấu, xúc xắc chỉ đạo nội các Trần Trọng Kim, một chính thể quân chủ lập hiến đầu tiên của Việt Nam. ngày 13 tháng 8 năm 1945, sau khi bom nguyên tử của Hoa Kỳ dội xuống hai đô thành lớn là Trường Kỳ và Quảng Đảo, Nhật đầu hàng Đồng Minh, bị giải giáp và hồi hương. mất hậu thuẫn, chính phủ Trần Trọng Kim buộc phải giải thể, tồn tại được đúng bốn tháng (17/4/1945-23/8/1945).

2. cách mạng mùa thu vàng úa non sông: lúc ấy, tại Bắc Việt, Đại Việt Quốc Gia Liên Minh gồm Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng Đại Việt Quốc Xã của các ông Nhượng Tống, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Tiếu, và Mặt Trận Việt Minh của Đảng Cộng Sản Đông dương dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh & Võ Nguyên Giáp là hai lực lượng cách mạng nòng cốt, ra sức đoạt chính quyền từ tay Pháp Nhật. tuy nhiên, vì Việt Minh có nhiều kỹ thuật cách mạng và thủ đoạn sâu sắc nên được toàn dân ủng hộ, dấy lên cuộc tổng khởi nghĩa giành độc lập ngày 19 tháng 8. ngày 25 tháng 8 năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị và chính phủ lâm thời do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch ra mắt quốc dân ngày 2 tháng 9!

3. hiệp định sơ bộ Pháp-Việt ngày 6 tháng 3 năm 1946 đẫm vị gian giảo: Sơ ước 6-3 tạo thuận lợi cho thực dân Pháp lẫn cộng sản nhưng nghiệt ngã tiêu diệt phe quốc gia. một trong những điểm chính của sơ ước là chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc dân đảng để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 binh lính. như vậy, Việt Minh và Pháp cấu kết với nhau để loại quân Trung hoa đồng thời rảnh tay đàn áp VNQDĐ, một kẻ thù nghịch cố hữu của cả hai.

4. hiệp định Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 lầy lụa thảm cảnh ly tán hai miền đất nước nơi vỹ tuyến thứ 17: sau 9 năm trường kỳ lay lất kháng chiến, chiến thắng Điện Biên Phủ vào ngày 7 tháng 5 đã buộc Pháp phải hoà đàm và rút ra khỏi Đông Dương. người dân Bắc Việt lẩy bẩy khúc ca khải hoàn với tâm hồn sưng tấy những u uẩn: cải cách ruộng đất, phong trào tam phản... sau hiệp định Genève, Việt Cộng tiếp thu Bắc phần, lập chính phủ Cộng Hoà Nhân Dân. ở Nam vĩ tuyến 17, tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia độc lập tại Đông Nam Á. vào dịp này, ngót một triệu đồng bào miền Bắc đã di cư vào Nam.


II. nghe sầu miên rụng nửa hồn vong thân:

những năm đó, khi thực dân và phát xít nhốn nháo cấu xé lẫn nhau, nhân vật trong ba sinh hương lửa vẫn là những tinh tú ẩn trong dải thiên hà. một lãng tử lỡ mang hồn du mục (nguyên đỗ) vời vợi bóng hình lụa là ngân nhũ, một nàng tiên đi dưới trăng giữa rừng lau bạt ngàn sắc tím, một nghệ sĩ bách công thích độc tấu bản mặc niệm sắc gọn, réo rắt, bồi hồi thổn thức... họ thường bịn rịn với những giề ký ức xa xưa: trùm Chí trong tích Hoa Dung tiểu lộ, cụm hoa vàng trên đỉnh núi Sáng và cụ Hoàng Hoa, bài ai điếu buồn thảm "nguyễn thái học". nước non thiên nhiên tiết tấu vào nhau thành bản giao hưởng trong tâm hồn họ: giấc thẳm tình duyên non gối nước. màn sương để lọt ánh sao băng. hồn hoa chợp mộng thơm hồn gió. tóc liễu rừng thơ đón tóc trăng.

thế nhưng, vào ngày tổng khởi nghĩa, trong khi Tuấn lên xe lửa vô Sàigòn thì họ hoà vào đoàn thanh niên cứu quốc, vào đoàn quân Nam tiến, mê man trong cảnh huy hoàng của thuở ban đầu cách mạng.

dần dà bản sắc cộng sản tượng hình đọng lại nơi tâm tư họ.

"Cô nên gắng học tập nhân dân. Việc học tập này cực kỳ công phu bởi mình phải thường xuyên cảnh giác để chiến đấu với tinh thần cá nhân vị kỷ của chính mình…
- Đảng chú ý xây đắp hạnh phúc cho nhân loại, trong nhân loại có cha mẹ mình, anh em mình… Để bảo tồn quyền lợi của nhân loại, người sáng suốt phải biết nhìn xa mà hy sinh mọi tình cảm nhỏ hẹp…"


địa cầu nung rực lửa phiền
ta lầm lạc (vong thân) giữa cuồng điên dạt dào.
(hải phương)


III. lạc đường non nước lao đao:

miên vẫn cứ mong manh nhưng mạnh mẽ. ở hậu phương, giấc cô miên tai nghe bao khúc nhạc thăng trầm, lưỡi nếm toàn vị cay đắng, mắt thấy nỗi tột cùng của cõi vô thường. sự tàn tạ của cuộc kháng chiến qua màu áo phin trắng nõn nhuộm nâu vào bùn; lời tuyên truyền đậm đà hương đoàn kết và bữa cơm có bò non dê béo của cán bộ trong khi người dân đói rách; viên cố vấn thủ thuật luôn luôn ngớ ngẩn hỏi, ông xem có cần mổ không? ngay cả lúc tính mạng của thương binh sẽ nguy hiểm nếu không phẫu thuật; những buổi tự kiểm phê bình muốn cho nhau tiến mà thực chất chỉ là những phản trắc tráo trở; cuộc đấu tố kể khổ địa chủ, cải cách ruộng đất và cán bộ "tam cùng" đi bắt rễ trong thôn làng; phong trào tam phản theo mô hình cộng sản Trung Hoa trong trường lục quân Việt Nam hòng thanh lọc những thành phần phản động phá hoại Đảng ... sống giữa cảnh địa ngục, Miên phải phóng trí tưởng tượng đến trời Âu, nơi, sau cuộc đại chiến thứ hai đã tỉnh ngộ đang hàn gắn vết thương chiến tranh bằng những công viên xanh mướt cỏ đầy các cặp tình nhân, để thoát ly khỏi thế giới đau thương này. nàng thả hồn vào khoảng không gian huyễn ảo nơi có mùa xuân bất tận và tóc nàng sẽ lẫn với tơ trời còn hơi thở quyện trong nắng gió.

nhờ vậy, miên đã lắt lay hiện hữu cho đến ngày Hiển phản tỉnh, dẫn cô về thành. và họ thẫn thờ suy tư, "nước Việt Nam quyết không chịu là một thứ cóc vái trời, nước Việt Nam phải là một nốt nhạc có ý thức trong bản hợp tấu của nhân loại ", hay nước Việt Nam sẽ trở thành con chốt của cộng sản quốc tế?




tài liệu tham khảo:
việt sử toàn thư. phạm văn sơn.
ba sinh hương lửa. doãn quốc sỹ.


những chữ nghiêng trong ngoặc kép và lời thơ trích trong BSHL.


Image


19648



Image


r a u. r ă m. . L Ạ I...

____________________________________________________________________________
t r â n


Vân về Hà nội lúc phố thị bời bời nỗi niềm ly biệt, buồn tênh. cơn mưa phùn vừa dứt đọng lại dải mây tư lự hắt lên chút nắng ưu phiền. bóng chiều lấp ló vắt ngang làm chùn bước chân Vân mặc dù cô được chỉ thị về thành để níu những cánh thiên di.

*
Khoá: con ông đồ Cán, đỗ bằng thành chung ở Vientiane, làm việc cho Đoan (sở Quan thuế), rất thanh liêm, cương trực. làm công chức một thời gian ngắn, Khoá bỏ sở, đi buôn. nhờ tháo vát, biết nắm bắt cơ hội, Khoá làm chủ hai nhà máy xay bột gạo làm bánh mì nên tiền vào như nước phải đựng trong thùng sắt. tháng Ba năm 1945 nạn đói lịch sử diễn ra, Khoá mở quỹ cứu tế ngày ngày thổi cơm phát chẩn cho người dân. khi chính phủ Trần Trọng Kim nắm quyền, Khoá về làng làm đoàn trưởng đội thanh niên cải tổ những tục lệ cổ hũ, canh gác làng, đắp đường xá... đến thời Việt Minh, vì giàu có Khoá bị bắt và xử tử nhưng nhờ có tài hùng biện Khoá được chúng tha bỗng. về thành, Khoá tích cực đóng góp ý kiến trong các phiên họp hội đồng của chính phủ quốc gia: đổi tên đường Paul Bert bằng tên một danh nhân Việt Nam khác, bác bỏ dự án độc quyền của người Pháp về việc trông coi vệ sinh của thành phổ... tuy xốc vác nhiệt thành là thế, trong từng ngõ ngách nơi tiềm thức Khoá thản nhiên an trú một niềm tự ti không bao giờ nguôi, vì những vọng ám này: "Hai cấp bằng tương đương thật nhưng không giống nhau, chúng tôi là người Âu có cá tính văn hoá riêng, chúng tôi đã thành tập quận mà tập quán là thiên tính thứ hai. Bằng cấp của tôi tuy thấp, nhưng giá anh có bằng thạc sĩ của chúng tôi, anh cũng không thể hơn tôi, vì cái học của các anh không thành nếp, chỉ là cái học bắt chước."

Khiết: sau khi đậu bằng luật sư, Khiết không học thi tri huyện mà ra dạy học ở trường tư thục, hoạt động cách mạng mặc cho ông tuần phủ, bố Khiết, rất giận. năm 1936, Khiết và các giáo sư hùn tiền lương dạy học để xuất bản tờ báo: LA VOIX DES JEUNES, do Khiết làm chủ nhiệm, có nội dung đả kích thực dân Pháp kịch liệt. đến số thứ 4 thì bị chính quyền Pháp ra nghị định tịch thu khiến các đại lý báo không thanh toán tiền mua báo. thế là toà soạn phải đóng cửa vì cụt vốn. thất bại trong mặt trận văn hoá, Khiết kêu gọi các anh em thợ xẻ ở phố Bắc Ninh đình công chống sự bóc lột của ông chủ Pháp. vì không lập quỹ cứu cấp giúp các công nhân nghèo trong thời gian đình công, sau ba ngày đấu tranh, các công nhân tự động xin đi làm lại. không nản chí, năm 1942-1943, Khiết thành lập đoàn Thanh-Niên Hưng Quốc chống việc Nhật bắt dân quê nhổ mạ để trồng bông và đay, tổ chức mua súng ống để chống Nhật và Pháp. sau cách mạng tháng Tám, Khiết được G. mời về giữ chức chánh văn phòng bộ Nội-vụ của chính quyền Việt Minh. làm được mấy ngày, Khiết từ chức khi nghe G. phát biểu:"nước Nga trước đây hy sinh tám triệu cho cách mạng thành công thì mình có thể hy sinh nửa triệu chứ sao?" sau đó, Khiết cùng các bạn cách mạng trẻ sang Trung hoa tìm thế liên minh các lực lượng quốc gia để chống lại cộng sản. năm 1948, Khiết được bố trí về nước thì bị Pháp bắt đày ra Côn đảo biệt xứ mười năm. nhờ một đồng chí cũ của Khiết trong Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc giữ chức vị tối cao của chính phủ bù nhìn mà Khiết được ân xá nhưng bị trục xuất khỏi miền Nam.

Tân: người làng Lại vũ. bố mất sớm, Tân phải bỏ học về làng giúp mẹ buôn bán. lúc Nhật đảo chính Pháp, Tân không tham gia các tổ chức cách mạng mà lạnh lùng nhìn bầy sói đế quốc xâu xé lẫn nhau, bình thản về miền quê mua bán. trong chuyến hàng ở ga Thanh Ba, Tân gặp người đẹp trong trắng như màu lụa bạch, lòng đắm đuối tương tư. mối tình tuyệt vọng đơn phương này lại là động lực thúc đẩy chàng thu xếp lại cuộc đời để tiếp tục việc học. năm 1946, Tân đỗ tú tài phần hai. khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Tân theo các bạn thanh niên tình nguyện theo lớp huấn luyện cán bộ tăng gia sản xuất ở đồn điền Lợi ký. xong khoá học, nghe tin mẹ mất, Tân về Bắc ninh lo việc ma chay, bán hết ba mẫu ruộng đất tốt, rồi ghi danh vào trường thuốc năm 1947. học được 4 năm, năm 1950, Tân ghi tên vào bộ đội phục vụ cho quân y trung đoàn 36, dự các trận đánh Đông Khê, Thấy Khê...lúc này, cộng sản bắt đầu thay đổi, áp dụng chính sách điền thổ của Trung cộng ở Việt Nam, tổ chức những cuộc học tập riêng của cán bộ Đảng và lạnh lùng nghi kỵ quần chúng tiểu tư sản, ra sức bắn giết các cựu đồng chí của Việt Nam Quốc Dân Đảng. trước những phản trắc của giai cấp lãnh đạo, Tân chỉ biết tìm vui trong nghề nghiệp: chàng tận tâm mổ xẻ săn sóc thương binh băng bó vết thương nhân loại, chờ ngày về thành.

Hiển: hôm ở rạp Eden phố Tràng tiền, Hiển phát điên vì nỗi nhục vong quốc trước cảnh người thanh niên Việt phải bỏ chạy khi bị cô đầm hung hăng tấn công. thật ra, chàng trai dư sức đánh trả cô tây nhưng không làm vì hành động ấy chẳng đẹp đẽ gì mà còn làm cho đám thanh niên người Pháp nhảy vào đánh hôi. cô tây kia không hiểu, đã vậy, còn buông lời thoá mạ: đồ hèn! do đó, sau khi Hiển đỗ xong tú tài, Miên vẫn không thấy anh trai mình ghi tên vào Đại học mà đang hoạt động một việc gì bí mật lắm, liên quan đến "đuổi Nhật đánh Tây" và mặt trận Việt minh. thì ra, Hiển đã gia nhập đoàn thanh niên cứu quốc từ ngày đó. khi toàn quốc kháng chiến, Hiển dự lớp huấn luyện quân sự cấp tốc cho các sĩ quan để sửa soạn Nam tiến. xông pha nơi chiến tuyến công phá hết đồn này đến đồn khác của giặc khiến nỗi đau vong quốc bớt đè nặng tâm thức Hiển. tuy hết lòng với cách mạng, Hiển vẫn không được dự lớp học về trọng pháo, xe tăng cùng các loại cơ giới quốc phòng khác ở Mạc tư khoa vì Hiển không thuộc thành phần công nông. và, Hiển chợt tỉnh ngộ.

Kha: tối hôm ấy, cả rạp rúng động trước cảnh mài gươm dưới ánh trăng của Lê Lợi và giọng hát sang sảng đậm nét ai hoài: trượng phu không hay xé gan bẻ cật. phủ cương cường. học chửa thành. thân chẳng lập. trai trẻ bao lâu mà đầu bạc... vạt áo lam bàng bạc màu trăng cảm khái ngâm khúc nam phương hồ trường, trăm năm thân thể... bóng tà dương. vỗ gương mà hát nghiêng đầu mà hỏi. trời đất mang mang ai người tri kỷ. lại đây cùng ta cạn một hồ trường. Kha đó. vào dịp kỷ niệm mừng đệ nhất chu niên ngày tổng khởi nghĩa 19 tháng 8, Kha thủ vai Lê Lợi trong vở kịch người tráng sĩ núi Nam. chàng mê man hãnh diện làm người con dân của một dân tộc lần đầu tiên được thoát ách nô lệ qua vai diễn, say sưa với không khí tưng bừng của thuở ban đầu cách mạng đến nỗi chỉ xem Vân như một đường viền nhỏ trang sức cho bối cảnh mênh mông hùng tráng ấy. cho đến ngày Kha dự phong trào tam phản khoá bảy ở trường lục quân Trần quốc Tuấn tại Phụng Minh Thôn, rồi, vỡ mộng.

*

vòm trời xam xám đan chéo những đàn di thê xoãi cánh về phương nam, đượm buồn, nhưng tràn trề hy vọng. mùa đang đổi. phương bắc chỉ còn lại tia nắng cuối trời, bạc thếch; giông tố và bão tuyết sẽ lên ngôi. bên kia phương trời, nắng trỗi nhạc cười chúm chím hứa hẹn đồng ruộng biêng biếc mạ non, sông lạch chằng chịt khắp nẻo nghìn nghịt cá tôm và luống đất màu mỡ xum xuê hoa quả.

chiếc bè nữ chúa chở Kha vùn vụt ra khỏi không gian, rồi đột ngột dừng lại, ủ mầm hoan hỉ, nở ra vô số chồi non. là Vân. cô không thể di cư vì con trai đang còn trong tay đoàn thể. nhưng cô cũng không tha thiết với nhiệm vụ được giao phó: thuyết phục những người thân ở lại. cô hiểu những chàng trai tiểu tư sản, trí thức, nặng tình non nước sẽ thiên di về nơi ấy như những cánh chim để phỉ chí tang bồng. cô chỉ muốn hoài thai với Kha để giữ lại trên đất Bắc một kỷ vật với người tình. và, Vân muốn giống Hữu “tớ ở lại chúng không giết đâu, các cậu cứ vào Nam, ai làm được gì thì làm, nhưng tớ ở lại, giờ phút này mới là bắt đầu kháng chiến!”: ươm ngát tuổi thơ con bằng thương yêu, vị tha, lãng mạn trên miền đất cằn cỗi, vô tình.

gió đưa cây cải về trời. rau răm ở lại... rau răm ở lại, sẽ ra sao? sẽ như những cụm hoa vàng trên triền dốc vẫn tươi thắm dù bị đất đá từ những ụ lô cốt rơi xuống, vùi dập?



* những chữ in nghiêng trong ngoặc kép là đoạn trích trong người đàn bà bên kia vỹ tuyến của doãn quốc sỹ.


19728



Image


1955 .- .1963

____________________________________________________________________________
t r â n


giấc ngủ của Tân cứ phảng phất một tạp hương rối bời, nhằng nhịt. thoang thoảng nơi Nguyên. cô mười bảy tuổi, nõn nà mềm mại như một con búp bê được nhồi bằng thổ cẩm lụa là. vừa khi Nguyên dậy thì, cha cô, một nhà thầu khoán, đã biến con gái mình thành món quà "ngoại giao" để giành các mối thầu béo bở. dần dà, Nguyên sa lầy tan chảy trong hoan lạc nhưng vẫn phơi phới nét hồn nhiên. khi ông Xương ông Hiệp, đồng nghiệp của bố, muốn làm vừa lòng tên Thủ hiến, trùm chính phủ bù nhìn, để thầu được con đường rải đá từ ổ cầu Giấy vắt qua đường Chuối vồ, các bác ấy đã chèo kéo Nguyên thì cô chỉ ấm ứ từ chối lấy lệ...

trong cơn mê trầm khác, Tân thấy vất vưởng những hình ảnh của các nhân vật có thế lực trong chính phủ uống rượu, ôm gái nhảy, hút thuốc phiện và hôn điếm...giữa các cuộc điều đình làm ăn. họ nhởn nhơ bàn chuyện tiền nong (thường thường tỉ số huê hồng mà họ bắt chẹt từ những nhà thầu lên tới mười bảy, mười tám phần trăm) ở các tiệm nhảy quanh phố Tràng tiền, hoặc các khách sạn Métrophole, Splendide trong khi đất nước đang bị rách toang hoang.

có còn không... một hình ảnh lá cờ vàng ba gạch đỏ phe phẩy thanh bình vẫy gió còn mãi mãi về sau này in hằn trong tâm tưởng Miên một ấn tượng của thịnh vượng và tình người...? (người đàn bà bên kia vỹ tuyến. doãn quốc sỹ)

*


nỗi lòng
gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông
hỏi bến: thuyền không lái cũng không
xe muối nặng nề thân vó Ký
đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng
vá trời lấp biển người đâu tá?
bán lợi mua danh chợ vẫn đông!
lần lữa nắng mưa theo cuộc thế
cắm sào đợi khách thuở nào trong?
ngô đình diệm


ngô đình diệm sanh ngày 3 tháng Một năm 1901 con quan thượng thư Ngô Đình Khả triều Nguyễn. năm 1933, ông được bổ nhiệm làm thượng thư bộ lại dưới triều Bảo Đại. sau khi vua Bảo Đại thoái vị, ông bị Việt minh bắt ở Tân hoà nhưng được ân xá vào năm 1946. ông lui về ở ẩn vài năm rồi xuất ngoại. khi hiệp định Genève được ký kết năm 1954, Mỹ và các nước phương Tây lo sợ vì thế giới cộng sản đã tạo thêm được một căn cứ ở Đông Nam Á bằng chính phủ Việt minh ở Bắc phần Việt Nam, bên cạnh Trung hoa. do đó, họ muốn lập một pháo đài ở miền Nam Việt Nam để chặn làn sóng đỏ đang lan tràn, và, hậu thuẫn ngô đình diệm về nước chấp chính.


từ những nét son...

1. dẹp loạn "sứ quân":
-lực lượng Bình Xuyên-Bảy Viễn: đó là một tổ chức mafia có 25 ngàn thủ hạ và 1,500 tay súng do Ba Dương cầm đầu, vừa làm thổ phỉ vừa làm cách mạng chống Việt Minh và chính phủ Pháp. khi Ba Dương mất, Lê Văn Viễn lên thay và quy thuận Pháp quốc, nhận bổng lộc và quyền lợi rất hậu. tháng Hai năm 1955, Pháp ngưng chi viện cho Bảy Viễn, nên hắn yêu sách với chính phủ NĐD. thủ tướng Diệm từ chối và ra lệnh tấn công. cuối tháng Tư 1955, tàn quân Bình Xuyên rút về bên kia cầu Tân Thuận trong Chợ Lớn và cố thủ ở đó. đến ngày 3 tháng Năm 1955, quân Bình Xuyên hoàn toàn tan rã.

-giáo phái Hòa Hảo Cao Đài: từ khởi thủy, chủ trương của giáo phái là chống cộng và chống Pháp. sau hiệp định Genève, Việt Cộng rút về miền Bắc còn quân Pháp phải hồi hương. tuy đạt được mục đích, các vị giáo chủ vẫn trăn trở trước tương lai của đất nước. họ không có niềm tin vào chính phủ ngô đình diệm nên một số tướng lãnh như Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ ... của Hòa Hảo vẫn chùng chình chưa muốn giải giới sáp nhập vào quân đội quốc gia theo lời kêu gọi của thủ tướng Diệm. cuối năm 1955, quân đội Việt Nam Cộng Hoà tấn công vào chiến khu Tây ninh. tháng Hai năm 1956, Hộ Pháp Phạm Công Tắc buộc phải đào thoát sang Cao Miên, còn binh sĩ Cao Đài buông súng quy hàng.

2. che vạt nắng muộn: ngày quốc trưởng Bảo Đại mời ngô đình diệm làm thủ tướng, ông yêu cầu NĐD thực hiện hai điều: giành lại độc lập cho nước nhà và kiến thiết Việt Nam hùng mạnh. NĐD làm tròn lời hứa nên tạo được nhiều ưu thế khiến Bảo Đại e ngại và kiếm cách bãi chức thủ tướng của ông. được sự hậu thuẫn của Mỹ, cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức ngày 6 tháng Mười năm 1955 để chọn lựa vị nguyên thủ Quốc gia và thể chế chính quyền ở miền Nam Việt Nam. sau đấy, Bảo Đại sống lưu vong ở Pháp lúc 40 tuổi.

3. kiến thiết quốc gia:
-giao thông: tái thiết hệ thống đường sắt từ Sàigòn ra Đông Hà. Đến năm 1960, xây thêm một tuyến đường mới từ Chiêm Sơn đến An Hoà.
-nông lâm nghiệp: mở rộng đất canh tác qua chương trình dinh điền. từ năm 1957 đến 1961 đã có 210,000 người từ miền duyên hải lên cao nguyên Trung Phần khai hoang 89,000 hecta đất rừng. số lượng xuất cảng gạo cao nhất vào năm 1959 là 340,000 tấn. lâm sản chính là cao su, đạt sản lượng 77,000 tấn vào năm 1960.
-công thương nghiệp: chính phủ NĐD tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nhân Việt Nam bằng cách hạn chế quyền kiểm soát của Hoa Kiều. tháng 9 năm 1956, đạo luật 53 cấm ngoại kiều (Hoa kiều) tham gia 11 nghề nghiệp liên quan đến gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn...
- học đường và giáo dục:
. cưỡng bách giáo dục cấp tiểu học và trung học trong hạng tuổi từ 6 đến 14.
. thành lập Viện Đại Học Huế gồm 4 phân khoa: khoa học, văn khoa, luật và sư phạm. năm 1959, mở thêm chương trình dự bị y khoa, rồi khuếch trương thành đại học Y Khoa Huế.
. hỗ trợ trường đại học Chính Trị Kinh Doanh, Quốc Gia Hành Chánh, Võ Bị Quốc Gia.
. xây cất trường Quốc Gia Nghĩa Tử hầu nâng đỡ các con em chiến sĩ trận vong.

4. chính sách chống cộng: với quốc sách ấp chiến lược để cách ly dân chúng với lực lượng du kích nằm vùng. phát động chiến dịch tố cộng, diệt cộng....


...qua những nốt trầm:

1. gia đình trị.
2. sùng bái cá nhân: không ra lệnh dẹp bỏ bài hát suy tôn Ngô tổng thống hay được trình diễn sau bài Quốc ca.
3. độc tài: đàn áp những đảng đối lập như Đảng Xã hội, Đảng Đại Việt...
4. không uyển chuyển, tinh tế trong lãnh vực tôn giáo.
5. dung túng nạn tham nhũng và lạm quyền của các tướng lãnh thân cận.


cho đến rạn vỡ oan nghiệt... ngày 1 tháng 11 năm 1963.




tài liệu tham khảo:
tổng thống Ngô Đình Diệm, kẻ sĩ cuối cùng. phạm phong dinh.
Đệ nhất Cộng Hoà. wikipedia.


19770



Image


1964 .- ....

____________________________________________________________________________
t r â n


ê,Quỳnh Như! đuổi Mỹ về nước thì làm sao ông bô đi thầu rác cho Mỹ...

và tiếng cười hô hố nhểu từng giọt khả ố lên tà áo trắng Đồng Khánh khiến tấm biểu ngữ lỏng chỏng hàng chữ US Go Home đang trẩy hội biểu tình phải khuỵu xuống, tím tái.

hai hôm sau, cô bé ngoại vụ bỏ không tham dự đêm không ngủ ở Morin mà đi solex lên nhà Diễm, ngồi lượm sỏi, lấy hết sức ném tới con sông đào trước mặt, rồi phá lên cười khi viên sỏi nửa vời rớt xuống...bỏ lại sau lưng cơn sốt của Huế.


vài thiên niên trước, thanh thiếu niên vẫn còn xanh nõn những dấn thân trên quê hương tả tơi hoa lá. như Tuấn anh, Tuấn em. nhà nghèo rớt mùng tơi, được đến trường là nhờ nhà nước Đại Pháp cưỡng bách. khi đỗ bằng thành chung làm thông ngôn đứng đầu ở Tòa Sứ, Trần Anh Tuấn vẫn đau đáu chuyện vua Duy Tân, Hàm Nghi. chẳng bao lâu, phán Tuấn bị bắt đày đi Ban Mê Thuộc vì đã bí mật gia nhập tổ chức chống Pháp. đang học ở Quốc học, còn một năm nữa sẽ ra trường, có cơ hội đỗ đạt tú tài, làm việc cho chính phủ Bảo hộ, tương lai sáng lạn, Tuấn em vẫn không màng, vẫn tổ chức bãi khóa rồi bị đuổi học.

phải chăng, ngày đó, hương sắc thần tượng còn rỡ ràng kết đóa thênh thang để thế hệ Tuấn hãnh diện, tôn thờ? ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự là tinh thần anh dũng, là truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam. chính hình ảnh cụ già với đôi kính trắng và vòm trán cao vút tận đỉnh đầu bước thung dung dưới bóng cây mặc dù đang trong cảnh cá chậu chim lồng đã dấy mầm ái quốc nơi tâm tư lớp trẻ.


đến thời Quỳnh Như. chỉ còn lại "những thế hệ ngã ba: Ông Văn, nhà giáo, tiêu biểu cho thế hệ thứ nhất, lạc đường trong các ngõ quặt của lịch sử: bị mất liên lạc với cách mạng, về thành, nuối tiếc dĩ vãng "vàng son", say sưa kể lại những chiến thắng Vạn Giả, Ninh Hoà... Cuộc đời còn lại bên cạnh vợ con, kể như không, kể như bất hạnh, kể như bỏ. Nhưng nếu bị con vặn lại: "Nếu ba không mất liên lạc, thì bây giờ sẽ thế nào?" Thì ông khựng lại. Không có câu trả lời. Không biết trả lời. Ông, kẻ bị hỏi và người hỏi ông đều bối rối. Họ là những kẻ đứng trước ngã ba đường của lịch sử, nhưng không biết chọn ngã nào cho thoả đáng, ngã nào cũng kẹt." (mùa biển động của nguyễn mộng giác- Thụy Khê)


cho nên, những đêm thao thức trước hiện tình đất nước, dường như, chỉ là mốt thời thượng mà giới trẻ háo hức đua nhau thưởng lãm để khẳng định mầm mống thức thời, cái tôi lồng lộng. khi cuộc biểu tình nhàn nhã lướt qua, Quỳnh Như thất vọng vì quá nhàm chán và vô vị. "Cô bé tiếc cái thời biểu tình mà “được” cảnh sát chận đường lăm lăm khẩu súng đe dọa một năm về trước, lòng buồn vu vơ!" có gay go như thế, cô mới được tiếng anh thư, gan dạ. lúc bà Thanh Tuyến, mẹ cô, than thở: "chúng nó đem chuyện thằng Tường nói xấu thầy mày với tụi Mỹ. sợ sau vụ lộn xộn này thầy mày không thầu được nữa", Quỳnh Như mếu máo khóc, rồi bỏ bẫng việc tranh đấu "đòi Thiệu Kỳ Có phải từ chức, đòi CIA Mỹ không được nhúng tay vào chuyện nội bộ Việt nam..." vì sợ nồi cơm nhà cô sẽ bị vỡ.

*
sau biến cố ngày 1-11-1963,thời kỳ quân quản tựa một bầu trời lợn cợn những vện mây xám, thất thần sắc lại, ụp xuống đất nước hoang vu.

để lại một thế hệ - nhận quá nhiều những di sản hoang mang (thế hệ tôi- thế hệ buồn. Gia Hiển).




những chữ in nghiêng trong ngoặc kép là đoạn trích trong mùa biển động của nguyễn mộng giác.


20200



Image


m ộ t .t h ế..h ệ .B U Ồ N

____________________________________________________________________________
t r â n


một Tường cực đoan, một Ngữ lừng khừng, một Ngô lãng mạn .... thế hệ (thứ hai) ngã ba: ngã nào cũng kẹt! (Thuỵ Khê)


1.

Tường dạy Triết ở Quốc Học. Không hiểu sao tôi lại mường tượng ra cặp mắt của chàng mơ mộng dưới gọng kính trắng, giống ông giáo sư Thịnh dạy Triết ở Đại học Huế của Lệ Hằng, trong Bản Tango Cuối Cùng. Cho nên, tôi cứ hồi hộp lật từng trang sách, dõi xem Tường có giống Thịnh ở chỗ "nhàn hạ dửng dưng trước thời cuộc, ngồi trước cái bàn rộng bằng gỗ quí trang trọng, lúc giảng bài hay nhìn học trò cười nhè nhẹ, rồi đẩy gọng kính lên cho khỏi trễ xuống sống mũi". Mà bên ngoài cửa lớp, sinh viên học sinh đang than khóc cho quê hương điêu linh.

Không. Đôi mắt của Tường không mơ màng, mà hơi nhỏ và có đuôi, mỗi lần không nhìn ai thì lờ đờ, còn khi chủ ý nhìn thì muốn tọc mạch xoáy sâu vào tâm hồn kẻ khác. Tường không bàng quan, mà lăn xả vào cuộc cách mạng xã hội, muốn tước đoạt tài sản của bọn tư bản bóc lột để chia cho dân nghèo theo lý tưởng cộng sản. Và, chàng đã từng mím môi mắng bố, ông Thanh Tuyến: “Thầy không muốn nghe người trong nhà nói thì cũng có lúc người ngoài phố chận thầy lại, sau khi đập nát cửa kính, đốt cháy chiếc Toyota trắng của thầy, họ sẽ quát vào mặt thầy: “Ê, xuống đi. Thằng nhà giầu bần tiện. Mày đổ chính máu tụi tao, mồ hôi của tụi tao vào cái xe của mày để làm nhiên liệu, mày biết không?”

there. Tường chẳng nhàn hạ chút nào như Thịnh. Mà sao tôi vẫn ngài ngại Tường; rồi chỉ biết mê mệt Phong, một nhân vật khác của Lệ Hằng trong BTCC. Có lẽ, vì tôi sợ cái khuôn mặt biến dạng của Tường-vẻ vất vả hấp tấp, khuôn mặt cau có vì gặp nhiều khó khăn, mái tóc xơ xác rũ xuống trán, cặp kính cận lệch xuống đầu chóp mũi-khi yêu thương Nam ngay lúc Huế đang hồi hộp chờ đón cơn cuồng nộ của lịch sử. Hình như, trong bão táp, Tường đã đánh mất sự tự chủ. Sau này, Nam phải vò võ nuôi con một mình. Trong khi đó, chọn kiếp phiêu bạt lãng tử theo cách mạng, Phong ý thức không nên ràng buộc với nhiều hệ lụy. Nên chàng đã trân trọng gìn giữ sự trong trắng cho cô sinh viên nhỏ bé, đa tình. Tôi buồn theo Nam trước những lời dối trá của Tường về cuộc sống ở đại học Huế, về phong trào đấu tranh Phật giáo, về đời sống dân miền Nam trên đài Hà nội. Còn Phong, lúc giảng thuyết, giọng nói chàng khi vang cao như chiêng đồng khi ngân vang như tiếng chuông, khi gầm gừ như sóng vỗ và khi thiết tha như lúa reo ngoài đồng. Và, tôi tiếc nuối hình ảnh lồng lộng của Tường ngày xưa trong những đêm thao thức đấu tranh; giờ đây chỉ còn lại một người đàn ông nhỏ thấp, da mai mái, tóc dài và dơ nên bết từng mảng, vai so nên dáng đứng trở nên khép nép khi trở về thăm Nam trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Trái lại, sau bao năm tranh đấu, Phong vẫn mắt buồn thăm thẳm, vẫn dáng dấp phong trần, vẫn nụ cười lãng đãng xót xa, và mái tóc vẫn bồng bềnh gió sương.

Thật ra, Phong chỉ là nhân vật hư cấu được thần thánh hóa để thi vị cuộc đời. Tôi ghiền Phong như ghiền những viên thuốc an thần. Phần Tường, nhân vật tiêu biểu cho một nhóm thanh niên tràn trề nhiệt huyết thời đó, tuy ngài ngại, tôi vẫn thấy xót thương. Ngày ấy, nếu có một hướng đi khác đẹp hơn, chính nghĩa hơn cho Tường, biết đâu chàng sẽ rất đáng yêu?



2.

Ngữ chết… phải không?

“Ngữ đã chạy hết mô đất cao. Trước mặt là bãi sình. Không còn cách nào khác, Ngữ nắm chặt tay Thúy và thằng Bình nhảy xuống sình chạy trốn. Súng bắt đầu nổ. Ngữ cứ lao người về phía đêm đen trước mặt, bất chấp mọi sự. Chàng không còn biết cái gì đang xảy ra, không còn biết mình đang làm gì. Đột nhiên giữa cái hoang mang bập bềnh chung, Ngữ cảm thấy lưng nhói đau. Đôi bàn chân dưới bùn sâu tê dại. Ngữ cố sức mà không rút chân lên nổi. Rồi mắt Ngữ hoa, mũi Ngữ mát lạnh và ngầy ngật mùi bùn. Ngữ cố hết sức xoay người để thở, lưng lại lạnh buốt. Hình như Ngữ nghe thấp thoáng được tiếng khóc. Phải rồi, tiếng khóc chợt rõ mồn một; mà có tới hai giọng khóc khác nhau chứ không phải một. Một giọng khóc nhỏ và thanh. Một giọng lảnh lói, như những mũi kim xuyên vào da thịt Ngữ. Mắt Ngữ thấy những hình ảnh chập chờn không rõ nét, hình nọ chập lên hình kia. Hình như Ngữ thấy hình ảnh một dòng sông, rồi hình ảnh một người thiếu nữ đang khóc. Mây ở đâu cuồn cuộn kéo về phủ mất hình ảnh thiếu nữ, đến khi mây trôi qua hết Ngữ lại thấy một khu rừng đang bốc cháy, rồi một đàn hươu cao cổ ló đầu lên khỏi đám lửa dáo dác nhìn quanh...”

Tôi cẩn thận dò dẫm từng dòng chữ một… Tiếng đạn nổ, Ngữ lao người chạy, rồi nhói đau ở lưng… Chắc Ngữ chỉ bị thương. Mà sao lại có đến hai tiếng khóc? Ngữ ơi, đừng chết!


Thì, Ngữ cứ nhàn nhạt, lừng khừng. Có lẽ tại Ngữ đắm chìm triền miên trong nỗi hoài nghi, ngờ vực. Trong giờ Việt văn của cha mình, Ngữ thờ ơ lãnh đạm trước những lời giảng rừng rực lửa đam mê lý tưởng của ông giáo Văn. Chắc Ngữ còn đang bận rộn nhớ lại những hình ảnh quá đỗi tầm thường của cha-“lời cằn nhằn lúc và phải một miếng cơm lộn thóc, nét mặt đăm đăm cau có khi bị con phá giấc ngủ trưa, những cái ngáp đến sái quai hàm khi thiếu thuốc lào.” nên hững hờ trước những điều cao viễn mà cha mình đang thao thao giảng thuyết. Ngữ “do dự vì chưa hiểu con người nào giữa hai người mới thực là cha mình, mà có tìm ra được con người ấy thì mới mong nhận được lời giải đáp thực tiễn.”

Lần khác, trong lúc đi ngủ đò với Tường và Ngô để chúc mừng một đêm nhớ đời, một đêm bắt đầu một giai đoạn lịch sử mới, cô gái điếm đã làm đủ cách mà Ngữ vẫn không thể nhập cuộc. Ngữ bị ám ảnh vì một tấm ảnh người đàn ông mặc đồ lính treo ở phía góc phải tấm vách. Anh đoán, đấy là người chồng quá cố của cô gái buôn hương. Trước những lời rủ rỉ tâm sự của Ngữ, Tường gắt nhặng lên, mắng Ngữ: lại giở cái giọng ru em ra. Đoạn, Tường phác họa ngay một phương án hành động: "nếu cô gái phải bán thân nuôi con sau khi chồng tử trận, thì trước hết phải “làm” cho nhanh, trả tiền cho đủ để cô ấy còn có cơ hội đi tìm thêm mối khác nội trong đêm nay." Sau đó, tìm hiểu lý do tại sao chồng cô ấy bị chết. Tìm ra rồi, thì xông ngay vào việc tiêu trừ những nguyên nhân tạo ra những bi kịch ấy đi. Hãy tham gia làm cách mạng! Rõ ràng và dứt khoát thế mà vẫn không thuyết phục được Ngữ. Ngữ lại khề khà lôi chuyện ông Guillotine và bằng sáng chế ra cái máy chém cho cách mạng Pháp. Tưởng là nhờ có máy chém, tử tội không đau đớn và chết nhanh hơn là hữu ích cho nhân loại. Nào ngờ, khi hành quyết khó khăn, người ta còn ngần ngại mỗi khi muốn giết người. Từ khi có chiếc máy chém... Ngữ bỏ lững không nói hết câu, nhưng Tường hiểu Ngữ đang chất vấn cái hướng đi chắc nịch theo lý tưởng cộng sản của mình, và, Tường cáu tiết.

Vào những năm 60s, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, hình như, thế hệ thanh niên miền Nam canh cánh với những thao thức: muốn cải thiện xã hội. Họ có vẻ dấn thân vào những cuộc xuống đường để biểu tình tranh đấu. Còn Ngữ, vì luẩn quẩn trong những hoài nghi khúc mắc ấy, anh luôn lạc lõng và cô độc. Anh không quyết tâm tham dự theo dòng, nhưng cũng không dứt khoát để lội ngược dòng. Anh chọn làm người hạ sĩ quan hầu cận, giữ chân cạo giấy ở Tiểu khu.


Nhìn Ngữ thất thểu dắt xe ra khỏi nhà Diễm, lòng tôi buồn tênh. Anh đi chầm chậm dọc theo bờ sông, "mắt nhìn phía trước chỉ thấy lãng đãng những vệt màu di động qua lại." Thấy Ngữ khố, tôi giận bà Bỗng, mẹ Diễm, quá sức. Ai đời, có Ngữ đến thăm mà bà gắt gỏng càu nhàu, đá thúng đạp niêu. Diễm chỉ biết xấu hổ ôm lấy mặt vì thái độ của mẹ, còn Ngữ thì ngồi sượng trân. Cuối cùng, Ngữ đành lủi thủi ra về. Mà, cũng tại Ngữ cứ vuông chành chạnh, không biết trở thành “những hòn bi ve lăn đi đâu cũng lọt”. Anh sống với cái “lưng thẳng và đôi mắt nghiêm trọng”, không chịu đựng được những trâng tráo trở cờ. Khi bão nổi ở miền Trung với đám tang của thiếu úy Nguyễn Đại Thức, Ngữ thà làm kẻ đào ngũ và chịu kỷ luật chứ không tuân lệnh “hành quân” với những kẻ “chạy làng trước để còn sau này gỡ tội và giữ lon”. Tử thủ ở đồn Mang cá vào tết Mậu Thân đẫm máu, tính mạng bị đe dọa nhưng "Ngữ thầm cảm ơn hoàn cảnh đã đưa đẩy để chàng được sống trong một thứ trật tự lý tưởng, ở đó lòng chân thành và lòng can đảm được ngoi lên trên vị trí trung bình." Lúc về được Sài gòn sau khi Pleiku mất, và mặc dù vị Tổng thống đương thời đã bỏ chạy, Ngữ vẫn theo trung tá Thanh -vị chỉ huy đáng kính của mình, ra trình diện. Ngữ được sự vụ lệnh đi bổ sung cho Sư đoàn 18 ở những giờ phút cuối cùng, lúc mà Sài gòn đang lên cơn sốt với việc tản cư ra nước ngoài. Ngữ đến quốc lộ 4, và ở lại để nghẹn ngào xúc động nghe những lời kêu gọi thống thiết của vị tân Tổng thống: "...Đồng bào, anh em, những người yêu nước! Trong những giờ phút khó khăn này, tôi chỉ có thể xin quí vị một điều, là hãy can đảm đừng bỏ rơi quê hương, đừng bỏ chạy. Mồ mả ông cha ta ở đây, đây là quê hương ta, và ta thuộc về đất đai này...". Và, để nhục nhã, đau đớn khi nghe lời kêu gọi đầu hàng cũng của vị Tống thống ấy: “Tôi yêu cầu các quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng hòa chấm dứt tình trạng chiến tranh, bình tĩnh ở yên vị trí, đừng nổ súng....” Thế thì, làm sao bà Bỗng có thể giao cô con gái cưng cho Ngữ?

Lúc nào, tôi cũng muốn Ngữ được sống. Suốt mấy mươi năm lận đận theo vận nước, Ngữ long đong đã nhiều. Hãy để cho anh thoát nạn, đến miền đất hứa. Tuy nhiên, tôi hơi lo lo. Chỉ sợ, khi Ngữ thấy vị cựu phó Tổng thống giờ đây trở về hòa giải và hợp tác với nhà nước cộng sản, thấy thế hệ con cháu của người lính Cộng hòa ngày xưa đòi hỏi phải để nghệ thuật lên tiếng, Ngữ có được vui?



3.

Ngô chỉ là họa sĩ. Chàng thích vẽ các cô gái cổ dài, ốm yếu, ho hen phỏng theo Modigliani. Ngô chọn màu ngọc bích làm màu nền cho các bức tranh của mình; một cái màu lơ lững giữa ngậm ngùi, bồi hồi, vui không duyên cớ, buồn không hiểu vì sao lại buồn. Rồi Ngô đắc chí bảo bạn, đã lắm! Ngô không thèm đoái hoài đến những lời dè bĩu của Tường rằng, những tấm tranh đầy màu sắc u ám của chàng rặt mùi ẩm mốc, đìu hiu và bất lực. Ngô khẳng định: “ … Tao chưa hề, và chưa bao giờ muốn ống sơn dầu của tao lộn bất cứ loại hột nổ nào, dù hột nổ nhãn hiệu USA hay nhãn hiệu USSR. Tao vẽ cho tao. Cái gì tao thấy đã thì tao vẽ, hôm nay thấy đã mà ngày mai hết thấy đã thì xóa đi. Ngày mốt lại thấy đã thì vẽ lại…”

Ngô cứ say sưa vác giá vẽ đi nhặt từng mảnh da dương liễu, từng đám mây bay cho đến một hôm. Cái hôm mà Tường bị đảng Cần Lao hành hung suýt nữa thì biến thành một đống thịt bầy nhầy trên khoảng cát đen. Ngô nghẹn ngào nhìn Tường, vị-thánh-tử-đạo-của-cách-mạng trông giống như một cái xác ướp Ai cập: đầu quấn băng trùm kín và hai chân cũng quấn băng, rồi vươn vai giác ngộ.

Sau đấy, Ngô vẽ một thiếu nữ cổ ngắn, vai mập tròn, mắt long lên, nắm tay phải giơ cao đang hét gì đó, phía sau cô là lá cờ Phật giáo đang lộng gió. Khi tướng Kỳ mang quân vào Đà nẵng để dập tắt biến động ở miền Trung năm 1966, Ngô tham gia đoàn thanh niên quyết tử, tử thủ ở Lăng cô, bị bắt và bị cầm tù cho tới Tết Mậu Thân. Những người lính Bắc Việt đã phá trại giam, buộc cho Ngô một băng vải đỏ ở cánh tay trái, và ấn vào tay chàng khẩu súng AK-47. Ngô bất đắc dĩ trở thành người chiến sĩ cách mạng rồi bỏ Huế thoát ly vô rừng sau Mậu Thân.

Vào khu. Ngô nhận ra rằng chàng phải trả một cái giá thật đắt cho những giây phút bốc đồng của mình. Tường, vị anh hùng đã lột xác Ngô-người từng làm rúng động các hội trường tranh đấu của sinh viên bằng những lời lẽ đanh thép- nay đã cam phận, đồng lõa chỉ dám phát biểu những bài bản có sẵn trong tài liệu học tập của cách mạng. Và, Tường đã hướng dẫn Ngô đi theo lối đi ấy để tránh mọi rắc rối. Ngô ngỡ ngàng nhìn bạn rồi chua xót hỏi, bài học lớn mày muốn truyền cho tao đấy, phải không? Tường chỉ biết trả lời nho nhỏ như tự biện hộ, rồi dần dần cũng quen đi, hồi đó tao cũng khổ sở như mày.

Mười mấy năm sau, Ngô từ miền Bắc trở về. Chàng mất hết cả sĩ khí, sống mệt mỏi với niềm đau riêng. Trước cảnh đất nước hoang tàn, người dân đói rách sau ngày giải phóng, Ngô xót xa tự chất vấn bản thân và đám người đấu tranh ngày trước: tại sao hồi trước xuống đường đả đảo ngụy quyền Sài gòn được mà bây giờ im thin thít không dám xuống đường đả đảo một chế độ còn tàn tệ hơn? Khi Diễm, cô em gái, đóng ghe vượt biên đưa cả nhà đi, Ngô từ chối. Chàng không có can đảm để thay đổi chiến tuyến một lần nữa.




những chữ in nghiêng trong ngoặc kép là đoạn trích trong mùa biển động của nguyễn mộng giác.


20312


Image


n Ắ n g .s ẽ..v Ề ...
___________________________________________________________________________
t r â n


một phiến thế kỷ đã phải vặn vẹo oằn người theo chiều dài lịch sử long đong: từ lúc tuấn Anh rưng rưng ngấn lệ trước tin vua Duy Tân bị lưu đày, tuấn Em ngây thơ hỏi thầy trợ giáo Phạm cự Hải "cộng sản hay cách mạng đều lo cho quốc gia độc lập và dân tộc tự do. tôi không hiểu sao lại chia ra cộng sản, cách mạng quốc gia, làm chi vậy? ", Hiển dang tay định đánh người lính cộng sản vì tính bất nhân của hắn nhưng chính giây phút ấy những mảng suy đồi của hàng ngũ quốc gia lũ lượt hiện về khiến anh xuội lơ, cho đến khi Ngữ nằm xuống...

vầng trăng nghẹn. đẫm muôn phương. quê hương khánh kiệt hồn vương bụi hồng.

*

khoảng thế kỷ thứ XV, để phát triển nền kinh tế chính quốc, các nước phương Tây nỗ lực xâm chiếm thuộc địa, ráo riết giành thị trường nhân công và tài nguyên. cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII đã chắp cánh cho tham vọng đó. bên bờ Biển Đông, Trung hoa vẫn ngủ mê trong kén bướm "thiên triều". mãi tới lúcchiến tranh nha phiến xảy ra giữa những năm 1840 – 1843, họ mới nhận ra sự lạc hậu của dân tộc mình, phải nhục nhã ký các Nam Kinh Điều Ước, Trung-Mỹ, Trung-Pháp Điều Ước ngày 3-7-1844, kết thúc chuỗi ngày bá chủ Á châu.

ngày đó, nếu triều đại phương Bắc không bị sụp đổ bởi tàu chiến bọc thép chạy hơi nước của Hải quân Hoàng gia Anh, liệu nước Nam có chấm dứt (tạm thời) được một ngàn năm đô hộ giặc tàu?


năm 1939, đệ nhị thế chiến bùng nổ. tại Đông Dương, quân đội Nhật đánh úp đế quốc Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, chiếm đóng Việt Nam. chẳng bao lâu Nhật đầu hàng Đồng minh, Pháp quay lại và bị kiệt quệ ở Điện Biên Phủ. tuy có kháng chiến trường tồn bền bĩ, hình như, cũng phải nhờ hoàn cầu đại chiến làm Pháp rung rinh, ta mới thoát được một trăm năm đô hộ giặc tây?


"từ khi hay tin ông Nixon đi Bắc Kinh, ông Thiệu hết sức e ngại. Ông biết rằng Mỹ vào Miền Nam Việt Nam là để 'ngăn chặn làn sóng đỏ từ Trung Cộng lan tràn tới các nước khác’. Đó là theo học thuyết ‘Domino’ từ thời Eisenhower: ‘Nếu để Miền Nam sụp đổ thì những quốc gia khác tại Đông Nam Á cũng đổ theo như những con bài domino’. Bây giờ Nixon sắp đi Bắc Kinh bắt tay với Mao Trạch Đông thì liệu Miền Nam có còn là ‘tiền đồn của Thế giới Tự Do’ nữa không?" (khi đồng minh tháo chạy- nguyễn tiến hưng), rồi Mỹ rút quân. từ đó, người dân Việt không còn buồn bã nghêu ngao, hai mươi năm nội chiến từng ngày. có phải "nhân dân ta anh hùng, đánh cho mỹ cút ngụy nhào" hay là nhờ đồng minh tự tháo chạy?

*

bốn mươi năm qua, kể từ tháng Tư năm đó, dày đặc những phản kháng, nổi dậy. những ngày đầu là vụ án Hồ con rùa, nhà thờ Vinh Sơn và linh mục Nguyễn Hữu Nghị, Trần văn Bá và Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam, cựu đề đốc Hoàng Cơ Minh và đảng Việt Tân. phản tỉnh của giới văn nghệ sĩ: Dương Thu Hương và những thiên đường mù, Nguyễn Huy Thiệp & tướng về hưu đã chửi "mẹ mày! Láo!" khi đứa cháu vô tình hát đường ra trận mùa này đẹp lắm! thế hệ 9x làm cách mạng: sinh viên Nguyễn Phương Uyên. và linh mục Nguyễn văn Lý, Tạ phong Tần, blogger Điếu Cày...

sao quê hương vẫn núi đoạn sông lià? có khi nào ta vẫn cần một chất "xúc tác" nào đó như là tàu chiến bọc thép của quân đội Anh, là đại chiến hoàn cầu, là thể chế tàn bạo ấy tự hủy diệt?

hay, thể nào cũng có một ngày nắng sẽ về....


20398



Image


m ộ t. t h ờ i. K I Ế N . T R Ú C

____________________________________________________________________________
t r â n


thời-không-gian *chronotope* (Thụy Khê-Bahktine), sự đa dạng của xã hội ngôn ngữ một cách văn chương - (Bahktine), thủ pháp miêu tả, nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật... những kỹ xảo tạo nên kiến trúc tiểu thuyết.

và. tôi rụt rè lần mò vào kiến trúc một thời của vỹ.sỹ.giác.


1. mộc mạc.

bằng giọng văn kể chuyện tự nhiên không trau chuốt, nguyễn vỹ vẽ lại một xã hội Việt Nam cổ kính đang ngoắc ngoải chuyển mình trước định mệnh ngoại xâm để tự hội nhập vào thế giới văn minh. những dấu tích thay đổi ở ba miền Trung Nam Bắc về lịch sử, xã hội, phong hoá, tập tục và kinh tế được sắp xếp theo trình tự thời gian: bắt đầu từ 1900 và kết thúc 1945. ở mỗi chương sách chính, tác giả viết mốc thời gian và điểm những biến cố xảy ra trong giai đoạn đó. thí dụ, ở chương thứ 8, vào những năm 1910-1916, lần đầu tiên xe hơi xuất hiện làm dân chúng hoảng sợ, thanh niên Sài gòn mang giầy ma mị, năm đó trường Quốc học ở Huế mới có kỳ thi tiểu học đầu tiên... những chương phụ kể thêm chi tiết: giầy ma mị là loại giầy của khách trú Chợ lớn, giống giầy hạ ở Trung Bắc, nhưng đế lót lông đuôi ngựa. các thầy ký hay diện giầy này với áo xuyến đen dài tới đầu gối và quần lụa bông...

nhân vật chính và duy nhất trong tuấn chàng trai nước Việt là Tuấn. chàng trẻ tuổi hăm hở bước vào đời, trố mắt quan sát những biến chuyển trong đời sống tinh thần lẫn vật chất của người dân Việt: cảnh ông Xã ngồi khóc ròng khi lê văn thanh đòi cúp tóc-cái búi tóc để thờ cha mẹ, trầm trồ thán phục những tiến bộ phi thường về khoa học kỹ thuật và văn chương từ phương Tây, thảng chút ngây thơ về các tổ chức chính trị: quốc gia và cộng sản, nhưng đa phần là suy tư trăn trở trước vận mệnh tổ quốc. có lẽ Tuấn không phải là nhân vật hư cấu, nên, dường như, tác giả hoá thân thành nhân vật khiến những tâm tư tình cảm lẫn hành động của Tuấn cứ ồ ạt tuôn không bị gò bó dưới bất cứ hình thức nghệ thuật miêu tả tâm lý nào.

điểm xuyết giữa dòng hồi ký của Tuấn là những đoạn văn tả cảnh sống động: Sài gòn nhà cửa phố xá đông nghẹt, có nhà lầu cao ba tầng, có đường đi rộng ba thước, trên bộ xe hơi chạy "boong boong", dưới nước tàu thuỷ chạy "vù vù", tối đến đèn điện thắp sáng choang như ban ngày, ông tây bà đầm ôm nhau "đăng xê" vui mắt quá chừng!(c9. tctnv) hay lối tả thực cách khởi động của xe ô tô: "quan thống soái Nam Kỳ" từ trong dinh bước ra sân, lên ngồi chiếc xe hiệu Peugeot, một người lính An nam lật đật cầm "ma-ni-ven" đút đầu vô máy, khom lưng quay ba bốn vòng liên tiếp. máy nổ ầm ầm xịt khói ra sau đít. bác lính sốp phơ bóp cái kèn đồng kêu "toe! toe!" rồi chiếc xe có cặp mắt kiếng tròn vo phía trước, lù lù chạy tới"(c9. tctnv) ... giúp ta tạm quên nỗi buồn thời cuộc trong chốc lát.

trong lời nói đầu, nguyễn vỹ bảo, bộ sách này không phải tiểu thuyết, tôi bỗng băn khoăn, hồi ký có *kiến trúc* hay là không?


2. hồn nhiên, thơ mộng.

những mẩu chuyện lý thú cứ ứa lên trang sách, cuốn tôi đi vun vút. Tân đang ngồi trong lớp vỡ lòng với ông giáo Hanh ở xóm chợ, run rẩy nghe ông cáu bẳn "thế là cái đếch gì" vì gặp chữ khó, thì tiếng đàn bầu của chú Phan khoằm chân réo rắt vọng lại khiến Thụy thổn thức, rồi bác Ký, bác Tử, bác Thạc mỗi nhà mỗi cảnh... chuyện này xoắn xuýt đuổi theo chuyện kia, dẫn độc giả đi từ làng Lại Vũ với ba hoa khôi hồng nhan bạc phận đến Phụng Minh Thôn và đôi bạn nhỏ Uy-Đồng; từ lúc mười ba liệt sĩ lên đoạn đầu đài năm 1930, đến lúc "tàu há mồm" cập bến để đưa đồng bào tản cư lên tàu lớn của Hạm Đội Thứ Bảy Mỹ năm 1954; từ thế giới loài cá: tháng nào là mùa đẻ trứng, đặc tính của cá đẻ ra sao, phải hiểu tâm lý "cá chuối chết đuối vì con" thì câu mới được nhiều, đến chuyện con hổ thọt thành tinh có ba vết chân to như ba cái mũ và vết còn lại nhỏ như bông sen hàm tiếu bị bạch hổ tướng tinh của bủ Tôn đánh bạt vía.

dòng chữ chật ních những tình tiết rải vào trang giấy thật điềm đạm, hồn nhiên."ta thảm bại vì quân báo cáo kém, cán bộ báo cáo sai. quân báo không nắm vững tình hình địch, không báo rõ vị trí địch cách chân núi bao xa, nên khi bộ đội vừa tới chân núi không ngờ là đã tới sát đồn địch. cán bộ báo cáo dân tình hoàn toàn theo ta; sự thực người Mèo ở trên cao, người Mán Cao lan ở dưới thấp đều ở rất rải rác, cán bộ đi thăm ba gia đình ở ba bản khác nhau là vừa hết một ngày rồi, ấy là nói lúc cán bộ đã hoàn toàn thuộc đường, biết trước chặng đi chặng nghỉ. Như vậy làm sao nắm vững được dân tình?" (p2- c4. bshl). đó là những rút tỉa sau sự thất thoát của quân ta trong trận đột kích đồn Pháp năm 1948. lúc ấy, vì quân báo kém, bộ đội vừa bò qua ruộng lúa đã bị quân Pháp bắn tới tấp, phải rút quân ngay tức khắc, vừa bị mooc-chi-ê của địch bắn vừa bị cái lạnh cắn ngập da nên cả đại đội trăm người chỉ còn một người sống sót. thiết tưởng, trước sự mất mát lớn như thế, giọng kể ít ra phải đượm chút chì chiết, trách cứ. trái lại, khi đọc đoạn văn trên, ta vẫn cảm được sự điềm tĩnh, tự chủ của tác giả.

điểm nhấn trong bút pháp của doãn quốc sỹ là nghệ thuật miêu tả tài tình, thơ mộng. ông hay phủ lên cảnh vật một nỗi niềm nào đó của nhân vật theo lối tả cảnh ngụ tình. ngày Hiển chưa đi bộ đội, Miên ngụp lặn trong tình thương của người anh trai nên "trăng nơi đầu làng ngọc ngà hoặc lẫn trong mây bạc, hoặc lừng lững đi sâu vào khoảng vô tận với những đợt mây khói xám trôi nhè nhẹ như một dòng sông xuân." vầng trăng ấy bỗng u sầu khi linh tính báo cho Miên biết mình sắp mất Hiển vào tay của Đảng, "trăng sáng vàng vạc, nền trời xanh mịn đắm ánh trăng thành một màu nhung biêng biếc huyền ảo nhiều khi sầu vời vợi như cái nhìn của mỹ nhân xưa ở chốn thâm cung." ông sử dụng biện pháp tu từ nhuần nhuyễn khi vẽ lại vẻ đẹp mong manh của Thi như một "mảnh nắng vàng chiều hôm cố rực rỡ lên một phút trước khi đổ vỡ không một tiếng vang và chìm nghỉm vào bóng đêm" (c7. ndbbkvt). hoặc , cảm xúc siêu thoát của Kha khi ôm Thi vào lòng được ví von như " ôm một sự hoang vắng thân yêu, sự hoang vắng làm con người trở thành nhẹ bỗng trở nên hư vô, thoát khỏi mọi phiền lụy của thế gian"(c7. ndbbkvt). ngữ âm trầm bổng, khoan nhặt suốt những trang chữ: "sự chiếm hữu kia chính là một nhát búa đập xuống, phiến đá vỡ ra và một thoải ngọc xuất hiện, lấp lánh như một nụ cười bất diệt của tin yêu" (c16. ndbbkvt), & "niềm tin mất hút chẳng khác một cụm sà-phòng lớn thoạt rơi trên mặt nước rồi lăn tăn... lăn tăn tụt dần xuống, thu nhỏ lại cho đến khi tan biến hẳn vào khối nước lạnh lùng, lạnh lùng như định mệnh" (c4. ndbbkvt), nên văn phong của ông có một sắc thái riêng biệt. ngoài ra, tôi đặc biệt yêu thích chi tiết Tân nằm trong phòng, nghe tiếng nước sối mạnh, chàng liền tưởng tượng đến "con sông đêm ở ga Thanh Ba ... cuốn lấy thân hình ngà ngọc của cô gái đẹp mát như lụa." (p1- c2. bshl) đấy có phải là một ẩn dụ hết sức tinh tế, giàu hình tượng và rất gợi cảm?


3. trần trụi.

"Nguyễn Mộng Giác yêu thích văn chương của những nhà văn lớn của thế giới. Nhưng có lẽ người anh yêu quý và nể phục nhất là Fyodor Dostoevsky."(nhớ nguyễn mộng giác. và tưởng nhớ một thời văn-bùi vĩnh phúc.) và, hình như, nguyễn mộng giác có chút ảnh hưởng văn phong từ thần tượng của mình. ông hay dạo chơi ở tận đáy tâm hồn các nhân vật, ngay cả những nhân vật phụ. chỉ với vài nét phác họa về dáng đi lóm thóm của anh tùy phái ở tòa hành chánh khi vào văn phòng tỉnh trưởng với đôi vai khép lại, lưng hơi khom khom và một lúc sau anh ta bước ra, đứng thẳng người đưa tay hách dịch ngoắc Ngữ vào (tập2 -c 19. mbd), tác giả giới thiệu đến độc giả một tuýp người thích thượng đội hạ đạp. ngoài lối miêu tả ngoại hình và hành động để diễn tả tâm lý của nhân vật, ông còn để cho nhân vật tự phơi bày tâm trạng của mình qua những mẩu độc thoại nội tâm: "Chữ nghĩa múa may nhạt nhòe trước mắt Quế. Quế bắt đầu thấy mắt mình cay cay, tủi thân. Nàng nhớ lại những đêm ngồi ở quầy thu tiền trong quán rượu ngập ngụa khói thuốc lá và nồng nặc hơi rượu, nhớ lại những lúc “nguy hiểm” phải đi dây giữa sự cương quyết thủ thế và sự mơn trớn mời gọi để khỏi mất khách, nhớ lại những câu chửi thề thô tục tiếp theo sau những lời đề nghị lộ liễu, nhớ lại những giọt nước mắt nhỏ xuống xấp phiếu “Sàigòn tea” dày cộm thu được mỗi đêm cuối tuần… Quế bắt đầu thút thít khóc." (c50. tập 3. mbd) hương liệu ê chề ẩn khuất trong từng nỗi nhớ, dàn dụa trào ra. đọc những cung bậc cảm xúc của cô gái trẻ con nhà gia giáo vì miếng cơm manh áo của gia đình phải lăn lộn trong quán rượu, lúc thì cương để giữ mình lúc thì nhu để chiều khách, chai lì trước những thô tục lộ liễu, hồn tôi lại rách bươm! như thế, thủ pháp miêu tả của tác giả đã hết sức thành công?

ông Thanh Tuyến, một nhân vật phụ khác, cũng được nguyễn mộng giác chăm chút kỹ lưỡng. ngày bị bán thân bất toại, ông nằm bẹp, triền miên ôn lại đời mình. lạ lùng thay, ông chỉ nhớ toàn những chuyện phi luân tàn ác đáng ân hận nhất như hốt phân trâu thả xuống giếng để trả thù ông lão Tuất, lấy dĩa mắm kho cho con mèo xiêm liếm sạch khiến đứa con gái ba tuổi bị đòn...lần này, tác giả để cho hai nhân vật ( Ngữ và ông Thanh Tuyến) đối thoại với nhau để lột tả thế giới tâm lý phức tạp này.

"nhưng tại sao chỉ nhớ toàn những điều ân hận?
– vì trong thâm tâm, bác cứ cố giải thích cái thất bại cuối cùng, cái rủi ro trước mắt. Những điều lâu nay bác hãnh diện hay các việc tốt bác đã đóng góp cho đời, không giúp ích gì cho bác. Nó chỉ khiến bác thêm uất ức, thấy ông Trời bất công. Bác cố trấn an bác rằng tất cả đều theo lẽ công bằng, rằng hiện trạng của bác là hậu quả tất nhiên. Bác phải moi óc tìm cho ra những điều ân hận để nối kết chúng lại thành một dây nhân quả hợp lý. Con xin thưa ngay với bác rằng, theo ý con, nếu thật sự có luật nhân quả, thì luật ấy không đơn giản như chuyện những con suối phải đổ hết vào sông, và giọt nước nào trên sông cũng trôi ra biển. Không đâu. Có những dòng suối chết. Có những mạch sông ngầm. Có những giọt nước bốc hơi tan loãng vào hư không. Có những giọt nước hóa thành đá nghìn năm trên đỉnh tuyết. Bác còn có nhiều, quá nhiều niềm hãnh diện trong đời, bên cạnh những điều ân hận. Bác đừng cố giải thích gì cả!" (c25. tập 2. mbd)


đột nhiên Ngữ lại có thể "gặp gỡ" ông Thanh Tuyến một cách rõ ràng, mồn một như thế? có lẽ vì họ cùng chung một tâm trạng: bất lực giữa một thời cuộc quay cuồng, cô độc trước cuộc đào thải tàn nhẫn nên bấu víu nhau để tìm chút hơi ấm cảm thông chăng? (c25. tập 2. mbd)

nguyễn mộng giác viết mùa biển động năm 1982 trên đảo Kuku, bảy năm sau tháng Tư đen. lúc bấy giờ vết thương mất nước chưa kịp kéo da non, lòng người vẫn băng giá trong hận thù thất vọng. có khi nào những yếu tố đó đã ảnh hưởng đến từng nhân vật của ông khiến họ trần trụi, khô khốc? hình ảnh người lính cộng hòa qua hình tượng Ngữ buồn quá. đi học tập về, sống dựa dập vào vợ, lén lút qua lại với người tình xưa, rồi nằm xuống trên đường vượt biển. Lãng và chuỗi xâu tai người đeo lủng lẳng trên ngực hơi hơi giống với giọng điệu xuyên tạc của phía bên kia. Diễm, cô nữ sinh Đồng Khánh với mục đích duy nhất trong cuộc sống là thoát kiếp nghèo để khỏi bị nhục, bị khổ nên lăng nha lăng nhăng.


*

thật ra, tôi cũng chỉ mới có thể rón rén sờ vào khung sườn gỗ hay mộng và lỗ mộng của ba công trình kiến trúc vỹ.sỹ.giác. còn biết bao thiết kế bình đồ, chạm trổ hoa văn, đồ họa nội thất mà tôi chưa đủ sức tham khảo. tuy nhiên, khi mày mò vào cấu trúc văn chương của những trường thiên tiểu thuyết đó, tôi đã phiêu diêu trong thực ảo nghệ thuật. và từng thông điệp về đất nước tôi, về thế hệ cha anh bỗng gợn sắc. bàng hoàng...


20600


Image


p h Ụ t
___________________________________________________________________________
t r â n


đạo cứ như giọt sương ngậm nắng xuân mềm (hoàngvũnguyên) trong văn doãn quốc sỹ. ở tác phẩm *người đàn bà bên kia vỹ tuyến*, năm đó, nước sông Tần Hoài u uẩn vần thơ trần tình với con trai của người goá phụ trước khi đi bước nữa: cán mai gốc mít cho cam. ở đời luống những miên-man nợ-nần. có người nợ cả bản thân ...(c5-nđbbkvt). góa bụa khi tuổi xuân chưa phai, cô Mai luôn nề nếp suốt những đêm dài cô quạnh. chỉ vì ân tình, cô nhận lời cầu hôn của chú Nìn. ngày xưa, nhờ có ông đô Cán giúp đỡ, gia đình cô mới thoát cảnh bần hàn. cho nên khi ông ướm lời hỏi cưới, mặc dù đấy là một ông già nghiện ngập, Mai vẫn gật đầu. những tích tụ giáo huấn, thốc lên, khiến cô không thể vong ân. giờ đây, trước vạn mùa hoa quân tử, cô lại như vạt nắng vàng tằm góp hương thêm sắc cho hoa. tuy khóc mù sương trước dặm trường của mẹ, Khoá mặc nhiên xem bài thơ là kim chỉ nam cho đời mình: quân tử thi ân bất vọng báo.

một thí dụ khác. trên chuyến xe hàng từ Hải Dương về Hà Nội, một trái ổi phơi phới bụi trần đã xé toạc miền tịnh độ của Khoá. mãi sau này, Khóa vẫn bùi ngùi xưng tội với Tân: "anh xem tôi luôn luôn nghĩ thẳng thắn, làm thẳng thắn mà rồi tự nhiên nảy lòng tham quả ổi rơi như vậy...tôi thấy con người chúng ta bao giờ và mãi mãi chỉ là con vật dễ sa ngã...con người với mấy ngàn năm văn hoá tích lũy, nhưng nếu buông tuồng một thời gian nhỏ là trở về với thú tính ngay..." (c9-nđbbkvt)

"Giáo dục với tác giả KRL là chuyện tối quan trọng. Kể cả nghề viết văn, bản chất cốt lõi vẫn là giáo dục. Nhu cầu giáo dục để đưa ý niệm đạo lý vào quần chúng được dõng dạc biểu lộ khắp nơi. Một quả ổi rơi trên xe đò cũng là dịp cho Khóa nhân vật của ông khai triển đề tài đạo lý..."(mai kim ngọc- đọc và đọc lại khu rừng lau của doãn quốc sỹ)

văn dĩ tải đạo nên Diễm phải lượn lờ ngổn ngang để mơn trớn niềm đê mê bất chính của Kha. Vân về, chín mọng dục cảm, gợi nhớ hương da thịt thanh tân ngày xưa. hai hạt mầm đã từng nẩy thành hoa, đan quấn vào nhau bỗng chốc thành hư không. phút khai xuân vuột mất, giờ đây, ánh mắt Kha man rợ những khao khát.

...Vân cũng đứng phắt theo, lùi lại một bước:
-mẹ em sắp vào kìa anh ơi, đừng, anh về đi.

(c10-nđbbkvt)

Kha lại thôi... nhưngmùi hương phấn người(TCS) da diết quá nên chiều hôm đó, về nhà, gặp Miên, chàng bất ngờ khẽ đạp từ từ cho cánh cửa khép lại.

cửa chưa kịp đóng, luân lý lật đật kick-in :-) Diễm khát tình dậm dật từ thuở mười lăm có khuôn trăng từa tựa Vân, căn phòng rậm rịt của Tân... đã thõa mãn đợt-sóng-Kha-cuồng và giữ gìn sự trong trắng cho Miên.

*

một sự sắp xếp tài tình chỉn chu...nhưng sao tôi lại nghe mơ hồ vài tiếng phụt phụt hoang hoải cô liêu vọng ra từ căn phòng ngập ngụa màng nhện ấy.



20753


Image


Đọc những bài trích, suy nghĩ của Trân, các nhân vật trong các văn chương, theo giòng lịch sử... tự nhiên tôi lại nghĩ ngược giòng nhớ lại một nhân vật của Tự Lực Văn Đoàn, xa lắm, đọc từ ngày còn tiểu học. Đoạn văn tả một chiều cuối năm, nhân vật Dũng dừng chân nhà người bạn, ngồi trên đồi ngó xuống... khung cảnh thật đẹp. Đoạn văn này còn đọng trong ký ức của mình cho đến bây giờ:


Một buổi chiều về cuối năm, một buổi chiều êm như giấc mộng; mấy cây thông ở đầu hiên nhà đứng lặng yên, đợi gió.

Dũng và Độ, hai người thẫn thờ, không nói, ngả đầu vào lưng ghế, nhìn khói thuốc lá từ từ lan ra ngoài nhà rồi tan vào quãng không.

Trên bàn phủ vải trắng, có để một chai rượu mùi, hai cái cốc đầy rượu và một đĩa quả: sắc thủy tinh trong, pha với màu xanh, vàng, đỏ của trái cây diễn ra một quang cảnh ấm áp.

Ngoài kia, ánh nắng vàng buổi chiều như tiếc ngày cuối cùng của một năm, còn lảng vảng trên các ngọn đồi, chòm cây lướt thướt trên những cánh đồng cỏ màu xanh già. Những thôn xóm rải rác dưới chân đồi hay bên bờ con sông trắng cong queo như bị đè nén dưới vẻ to tát của trời đất rộng rãi. Khói thổi cơm chiều ở một vài nhà gần không có sức lên cao nữa, tỏa ra thành từng đám màu lam ôm lấy các mái tranh.

Tiếng người gọi nhau ở dưới đồng đưa lên khiến Dũng nghĩ đến cái đời của dân quê, cái đời lạnh lẽo, vô vị kéo dài đã mấy nghìn năm. Đã mấy nghìn năm, họ sống như bám lấy mảnh đất già cỗi, xưa thế nào giờ vẫn thế, vui ít khổ nhiều, bao giờ cũng thảm đạm như buổi chiều đông này, không hề khao khát một cảnh đời sáng sủa hơn, mong ước một ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay.

Chiều hôm ấy, Dũng như cảm thấy tâm hồn của đất nước, mà biểu hiệu cho đất nước ấy không phải là những bậc vua chúa danh nhân, chính là đám dân hèn không tên không tuổi. Dân là nước. Yêu nước chính là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân.


Tiếc là Nhất Linh không viết tiếp về Dũng và Loan nữa, người đọc mất đi một cuộc tình đẹp và khung cảnh thơ mộng của đất Bắc thời bấy giờ.


20782 top -
những gia vị . vu vơ
1 ... 15, 16, 17, 18, 19, 20
_______________________________________________
Đời Gió - thơ - Chu Thuỵ Nguyên _______________________________________________

Image

để thấy những chiếc lá úa vàng
chưa bao giờ làm nên nổi mùa thu
mà chỉ có mùa thu
tự tay nó nhuộm cho mình diêm dúa
điệu đàng tùy thích

xem tiếp...

_______________________________________________
Cần Nhau - văn - Đình Nguyên _______________________________________________

Image

Đất khô rang. Đất rất cần mưa. Mưa làm cho những mảnh khô cằn kia liền lạc, liên kết nhau thành một khối lớn. Thành một sức mạnh vững chải mà không bao giờ có thể chia lìa nhau ra được nữa. Những khuôn mặt khô nứt nẻ sẽ thành một. Một khuôn mặt chung đẹp, xấu xí biến mất, bao la và mạnh mẽ vô cùng.

Điều bí ẩn là... mưa cũng cần đất biết bao nhiêu!

xem tiếp...

_______________________________________________
Sao Đêm - nhạc - Phạm Anh Dũng _______________________________________________

Image

Em, ánh sao đẹp xa cuối trời đi về đâu?
Đêm quá sâu hồn ta rã rời trong trời nâu.
Tìm em không gian hồ đổ vỡ, theo tinh cầu bay.
Hằng đêm gối sách mơ trăng sao...

xem tiếp...

_______________________________________________
Autumn Equinox? - ảnh - Võ Trọng Kỳ _______________________________________________

Image


xem tiếp...