THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP




12965



Image


x ó m .R Ạ C H .G Ố C
.......n h à .N g o ạ i .t ô i
____________________________________________________________________________



Theo lời má tôi kể lại thì tôi được sanh ra dưới chái hè (mái che nghiêng dọc theo hông nhà) do ông ngoại tôi cất tạm cho má tôi “nằm chỗ”. Vì cử kiêng theo dị đoan hơn là vì thiếu phương tiện hay hoàn cảnh khó khăn. Dị đoan vì thời bấy giờ, người xưa nghĩ rằng sự sanh nở có thể mang xui xẻo đến nhà. Quan hệ hơn nữa, các cụ e rằng máu me của sản phụ làm ô uế, xúc phạm đến thần thánh và hương linh ông bà “khuất mặt khuất mày ở cõi trên”. Má tôi sanh tôi ở chái hè như vậy, thì sẽ giữ được sự tinh khiết của các nơi thờ phượng trong nhà, mặc dù ông bà tôi vẫn tin chắc rằng thần linh cũng như tổ tiên đều “thấy biết hết mọi việc”. Thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ mà! Sá gì một tấm vách lá hay vách gổ? Chắc chắn không phải vì hoàn cảnh khó khăn; bởi má tôi là con gái đầu lòng, mà tôi là cháu đầu tiên dù là cháu ngoại. Vì bấy giờ, ông ngoại tôi là Hương Chánh, một hương chức đứng hàng thứ năm trong Ban Hội Tề làng Thới Luông, có địa sản, có thần thế ở vào bực trung, tuy không giàu có, nhưng cũng không phải nghèo nàn.

Xin nhắc qua rằng: cho đến 1945, Ban Hội Tề trong làng có 12 vị Hương chức: Hương Cả, Hương Chủ, Hương Sư, Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương Giáo, Hương Bộ, Hương Quản, Hương Thân, Hương Hào, Xã Trưởng (giữ con dấu và thâu các loại thuế như thuế thân, thuế điền) và Chánh Lục Bộ (giữ Sổ Bộ Đời: Hôn thú, khai sanh, khai tử v.v.). Hương Cả đứng đầu Ban Hội Tề, nên chữ Cả được kiêng. Là đứa con trai đầu trong gia đình, thay vì được gọi là thằng cả Trang, tôi đương nhiên bị hạ xuống thành “thằng hai Trang”. Sanh ra trán đã dồ cao (gồ), mấy cậu tôi liền thêm cho một chữ, tôi lại thành thằng Trang dồ, còn gọi tắc là “thằng hai dồ”. Ngày ghi trên khai sanh của tôi khác với ngày giờ ghi trên lá số tử vi của tôi. Vốn ông ngoại tôi là một Hương Chức trong Ban Hội Tề, thuận ngày ông ra “nhà việc” (trụ sở sau này), gặp được Chánh Lục Bộ thì nói để ghi vào sổ bộ đời ngày đó. Hơn nữa, theo tục lệ thời bấy giờ, ai có con thường chờ qua đầy tháng, thấy nuôi được mới đi khai sanh. Bởi chắc gì tôi được ở với ba má tôi lâu dài, có khi ông bà cõi trên kêu tôi về sớm!? Hồi thập niên 1930 con nít sanh ra không biết có nuôi được hay không, có nhiều nhà chờ qua 3, 6 tháng hay một vài năm mới khai sanh. Do đó, mà sau này, khi đi học có nhiều anh chị cùng học lớp với tôi, cũng sanh năm 1932 theo giấy tờ, nhưng tuổi thật lớn hơn tôi có khi 3 hay 4 tuổi.

Mà ông ngoại tôi cũng có lý, vì tôi đã toan trở về cõi trên khi vừa tròn tháng. Vẫn được nghe kể lại rằng: hôm tôi được chào đời, bà mụ vườn đã loay hoay buộc cắt thế nào, khiến tôi bị thúi cuống rún, khóc suốt đêm, cả tháng trời không cho làng xóm lân cận ngủ nghê. Bà Sáu Hương, má của Phó Hương Quản Lái ở nhà kế bên, nói với bà ngoại tôi: “Con nít khóc đêm lâu quá, không biết có bịnh hoạn gì không?” Khi được bà ngoại tôi cho hay việc này, chiều đó, ông ngoại tôi ẳm tôi ra hiên cho sáng sủa, vén áo vạch bụng tôi xem kỹ, thì thấy da thịt chỗ cuống rún của tôi đã chuyển sang màu xanh. Vốn là danh y của Tổng Thới Bảo, đêm đó, ông thức khuya, xem sách tánh dược. Đến khi nghe chuông chùa điểm công phu sáng, ông sữa soạn xong đi thẳng vào chợ Ô Môn, đến tiệm thuốc Bắc quen, chọn lấy mấy vị thuốc rồi nhờ tán nhỏ tại chỗ. Xong ông đem về rắc ngay vào chỗ rún thúi của tôi. Đêm đó, tôi không “khóc trường canh” nữa và sau đó lần hồi bớt khóc đêm, vì rún tôi lần lần lành lại. Má tôi kể lại chuyện này rất nhiều lần, mỗi khi nhắc đến ông ngoại tôi. Tôi nhớ nhập tâm về tài chữa bịnh ngặc của ông ngoại tôi. Sau này, năm 1944, ông ngoại tôi còn cứu tôi một lần nữa, khi tôi đau ban đen (thương hàn) mê sảng, ba ngày trước khi nhập thi bằng Sơ Học Yếu Lược (Certificat d’Études Primaires Complémentaires Indochinoises). Âu cũng vì “nặng nợ trần ai”, tôi mới còn sống sót sau trận đau thúi rún đó.

Tùy theo hoàn cảnh nghèo nàn chìm nổi của ba má tôi, anh em tôi theo má tôi sống, khi ở bên nội khi ở bên ngoại. Quê nội thì tôi không nhớ được nhiều, vì khi phải rời quê nội, tôi hãy còn quá nhỏ (chưa đầy 4 tuổi)! Từ khi biết nhận xét và ghi nhớ, tôi thường ở bên ngoại nhiều hơn, nên quê ngoại gần gũi với tôi hơn.

Bà ngoại tôi quê ở thôn Vạn Lịch, có 3 mẫu đất, nằm trên bờ kinh Giáo Dẫn vùng Ba Se. Khi thành hôn, bà về sống ở quê chồng. Ông ngoại tôi người gốc Bằng Tăng, làng Thới Luông, mồ côi cha từ nhỏ. Khi 4, 5 tuổi, được theo má tôi về thăm viếng hay ăn giỗ, tôi còn gặp bà cố ngoại tôi (bà nội của má tôi) mấy lần. Bấy giờ, bà hơn 80 tuổi, bị trướng bụng rất to; nhưng những người đa sự dị đoan trong làng đồn đãi bà mang thánh thai! Chừng ba năm sau, bà chết: vì già quá cũng có, mà vì bịnh nan y (đau gan?) này cũng có! Ông cố ngoại tôi (ông nội của má tôi) đến xóm Lung Tượng, thôn Bằng Tăng khẩn hoang được hơn trăm mẫu ruộng tốt dọc bờ kinh Ba Rít. Ông mất sớm, bà cố tôi ở vậy nuôi 7 người con trai gái cho đến khi 7 vị này trưởng thành và lập gia thất. Ông ngoại tôi thứ sáu trong nhà. May mắn hơn tất cả anh chị em, ông thông Nho học, sành đông y tánh dược, lại thêm giỏi chữ quốc ngữ và một số chữ Pháp. Với vốn liếng học hành như vậy, lại thêm là con nhà có điền sản do ông cố tôi để lại, ông ngoại tôi từng làm xã trưởng làng Thới Luông. (Thới vì kiêng húy chữ Thái trong vương hiệu của vua Thành Thái; Luông vì kiêng húy chữ Long trong đế hiệu của vua Gia Long?) Lần hồi ông tiến chức trong Ban Hội Tề lên làm Hương Chánh. Trong hưng thời xã trưởng, vì trách nhiệm về thuế khóa cộng thêm luật lệ douane (quan thuế) gắt gao, ông đã dự vào việc “bắt rượu đế “, gây ít nhiều ân oán với những tay nấu hèm lậu trong làng. Khi tôi biết chút đỉnh, thì thời vàng son của ông ngoại tôi đã qua rồi. Ông từ chức Hương Chánh làng Thới Luông, dở nhà dọn hết gia đình về xóm Rạch Gốc, làng Thới An, phía Đông cây Cầu Trắng chừng 200 thước. Về đây, ông cất nhà trên khu đất mới. Tôi còn nhớ: thợ mộc đẻo hơn 20 cây gổ lớn bằng ôm tay của tôi, làm bộ cột nhà ba căn lợp lá vách lá ba bề, không có cửa hậu, trọn mặt tiền và hai “đầu xông” toàn bằng ván gổ đóng mắt cáo; cửa cái gồm 12 thanh song cây vuông. Nhà khá rộng và chắc chắn vì năm đó, bà ngoại tôi còn thâu được lúa ruộng ở Vạn Lịch. Rồi khoảng tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”; ông ngoại tôi “biết mệnh trời”, khi cậu tám tôi học xong lớp nhứt và thi đậu bằng Tiểu học (C.E.P.C.I.). Ông ngoại tôi xách giỏ “cao, đơn, huờn, tán”, đi bộ từ thôn này qua xã khác, tới đâu nghe ai có bịnh thì “coi mạch trị bịnh hay ra toa thuốc” dùm bà con. Ông phiêu du khắp các tỉnh dọc hai bờ sông Hậu, những làng mạc xa xôi đèo heo hút gió, hang sâu dốc thẳm vùng Thất Sơn. Gót chưn ông thông thuộc nhiều chòm xóm hẻo lánh hai miền U Minh Thượng Hạ. Sau này, vào khoảng năm 1938-1944 lâu lâu ông ghé lại chợ quận bổ thêm thuốc, thì ông kể lại cho má tôi (và tôi) nghe về những nơi ông đã đi qua.

Ông ngoại tôi đi rồi, hoàn cảnh gia đình ngoại tôi bấy giờ suy sụp: 3 mẫu ruộng của bà ngoại tôi ở Vạn Lịch bị đem “cố 3 năm” (cố tức là cầm); nên bà ngoại tôi không còn thâu được lúa ruộng. Vì bị hoàn cảnh đẩy đưa, vào lúc này, má tôi lại mang anh em tôi 3 đứa: Trang, Điểm, Hồng về bên ngoại, sống nhờ vào bà ngoại và cậu dì trong ngôi nhà xây cất nói trên. Bà ngoại tôi, má tôi và dì Sáu tôi phải ra mấy cánh đồng trong làng, mót lúa ruộng luôn ba mùa, để lấy gạo nuôi sống cả gia đình gồm 5 người lớn và 3 trẻ con. Khi mãn hạn cố 3 năm, bà ngoại tôi lấy lại 3 mẫu đất, thâu được lúa ruộng, và hai cậu tôi đủ tuổi để bắt đầu mở lớp “dạy riêng” con nít trong xóm, thì hoàn cảnh khá hơn. Năm đó, tôi được hơn 4 tuổi, bắt đầu biết nghe chuyện, nên còn ghi nhớ được nhiều điều về quê ngoại.

Nhà ngoại tôi cất trên một khu đất rộng quay mặt ra đường lộ cán đá. Qua bên kia bờ lộ chừng 10 thước là sông Ô Môn. Lộ làng này chạy song song theo bờ sông Ô Môn từ cầu ván Ông Cả Được ra tận vàm sông cái Hậu Giang. Sông Ô Môn chảy ngang hai làng Thới An và Thới Thạnh, qua chợ Ô Môn, rồi vào Vòm Nhon, Thới Lai. Từ đấy có nẻo vào Cờ Đỏ thông sang Thác Lác Giồng Riềng.

Trước nhà ngoại tôi, dọc theo đường lộ là một hàng sáu cây gòn thân thẳng vỏ xanh nhiều gai, nhánh xỏa ngang rợp lá che mát cả đường lộ lẩn sân trước nhà. Đến mùa bông gòn nở trắng. Cuối mùa, trái gòn khô hái không kịp; tét bung, bông gòn bay đầy trời. Dưới hàng gòn là hàng rào gồm những cây đinh lăng đủ kiểu từ lá đơn tròn đến lá xòe nhiều cánh, đủ màu từ xanh đậm đến vàng trắng lẫn chen. Trong sân, dọc theo hàng rào, là một hàng bốn gốc mai vàng. Mỗi năm cứ đến khoảng rằm tháng chạp thì cả nhà tựu ra lặt lá mai, mong cho mai trổ nụ đúng ngày. Có năm, dì sáu tôi nấu nước sôi tưới vào gốc, thúc cho hoa mau kết nụ. Đúng hay sai, tôi không biết, chỉ biết rằng đến 21, 23 tháng chạp thì thấy nụ hoa đơm đầy cành, và chiều 29, 30 ta thì mấy cội mai đã lác đác điểm vàng chờ đón giao thừa.

Từ trong nhà nhìn ra, cuối bờ rào đinh lăng, về phía Đông, có một cây bưởi chua, tàng rất rộng. Cây bưởi này là cây làm ranh với hàng xóm lâu đời là ông phó hương quản Lái. Cây bưởi ranh này có rất nhiều trái. Bưởi tuy chua nhưng chấm muối ớt, cũng thành ra “món hảo” trong quê. Tất nhiên đó cũng là món đưa cay đậm đà mà 3 ông cậu của tôi thường chiếu cố, nhứt là cậu ba tôi vốn là thợ bạc khéo tay kiêm một tay nhậu nổi danh trong chợ quận. Dưới bóng cây bưởi, dọc ranh hàng xóm bên phải, là mái rạp lá dài chừng 10 thước, che chiếc ghe tam bản lật úp nằm phơi đáy không biết bao nhiêu năm, nhưng rất đắc dụng sau này: năm 1945, khi bà ngoại tôi cho trét dầu chai, rồi dùng chiếc tam bản này tản cư về xóm Lung Tượng, sau đó chèo theo kháng chiến trong Thới Lai, Cờ Đỏ. Dọc đầu xông nhà, phía Đông là một hàng ổi gồm nhiều giống khác nhau, nên mùa nào cũng có ổi để ăn. Dưới gốc ổi là những bụi khóm (gọi theo nhà quê Hậu Giang, chỗ khác gọi là dứa) rất nhiều gai nhiều trái. Trái khóm tròn màu xanh ửng vàng thật hấp dẫn cho người lớn cũng như trẻ con. Nói chung, đầu xông phía Đông nhà ngoại tôi sản xuất những trái chua (bưởi, ổi, khóm) thường được đi kèm theo chén muối ớt ba màu xanh vàng đỏ, đủ gây hào hứng náo nhiệt cho những buổi trưa hè nắng chói chan.

Từ lộ vào sân, có chừa một khoảng trống làm lối ra vào, mà không làm cửa rào. Vẫn từ trong nhìn ra, đầu hè phía Tây là vườn trầu vàng của bà ngoại tôi trồng, vì Bà ăn trầu suốt ngày, trừ những khi cơm nước. Thỉnh thoảng nhằm đợt lá ra nhiều quá, một mình ăn không hết, Bà cũng cho hái trầu rửa sạch, đơm thành ốp 20 đôi giao cuống, đem vào chợ quận bán lấy tiền mua những thứ cần thiết khác như thuốc rê, cau trái, vôi sò, để bà ăn chung vói trầu. Bà ăn trầu đến đen răng không phải nhuộm. Răng Bà chắc, không hề bị sâu cho đến Bà già chết vào năm 1954 trong khi tôi còn du học ở Pháp. Không biết ai đã gieo, mà vườn trầu có một cây ớt sừng bò: trái bằng ngón tay út con nít, non thì trắng mà khi chín thì chuyển sang màu vàng ửng đỏ. Cây ớt này đứng đó bao lâu không rõ, nhưng chắc chắn nó lớn hơn tôi. Khi tôi biết nó là cây ớt, thì nó đã cao ngang vai bà ngoại tôi. Tôi nhớ như vậy, vì nó che gần khuất bà ngoại tôi, khi bà vào vườn hái trầu.

Đầu xông nhà phía Tây, có một khoảng trống chừa làm lối ra vườn sau, rồi tới một sàn nước lộ thiên bắt chồm ra mé rạch cùn để rửa chén dỉa nồi niêu. Một giàn đậu dán ken lá che mát sàn nước. Tôi rất thích sàn nước với dàn che này vào mùa đậu đơm hoa. Hoa đậu dán từ màu trắng chuyển sang màu vàng rồi màu tím đậm. Vào mùa hè, thường vào sáng hay chiều có nắng, hằng trăm con bướm đủ màu nhởn nhơ bay trên giàn đậu để tìm hút nhụy hay làm duyên chuyển phấn cho đậu mau kết nụ? Bướm mùa hè còn chập chờn trên giàn đậu, nhưng rất nhiều hoa đã nhạt màu, đài hoa úa héo bao quanh nụ kết trái non màu xanh lợt. Lần hồi trái lớn lên chuyển sang màu xanh đậm rồi tím than. Trên giàn, màu hoa sắc trái đẹp bao nhiêu; khi vào nồi, đậu dán càng ngọt bấy nhiêu.

Dọc theo vách sau nhà, bà ngoại tôi trồng những bụi thơm (trái lớn) khóm (trái nhỏ) ken dày, vì thơm khóm nhiều gai, tưởng nhờ đó mà ngăn được trộm vào nhà. Nhưng hàng rào thơm khóm hoàn toàn vô hiệu, không ngăn được trộm. Một sáng tôi phải dậy sớm bởi trong nhà xôn xao khác thường. Số là nhà ngoại tôi bị trộm vào ban đêm, cả nhà bị mất nhiều áo quần đồ vật v.v. Tôi có nhìn thấy cái ngách do trộm đào rất sạch sẽ, thẳng thớm, sâu chừng một thước, xuyên dưới hàng thơm khóm nhưng giữ đất đủ dày cho rào thơm khóm nguyên vẹn không bị sụp. Ngách nầy luồn dưới vách nhà, chui dưới đáy lu mái đầm (lu rộng và cao ngang bụng người lớn có bốn núm quanh miệng lu để làm chỗ bám khi cần di chuyển) rồi trổ lên tại đó. Công việc trộm đào ngách vào nhà nhiều công phu và xáo động như vậy, không hiểu họ đã làm thế nào? trong bao lâu? mà cả nhà lớn nhỏ 8 người mà không ai hay biết! Về sau, có người nêu nghi vấn: trộm đã xông thuốc mê cho cả nhà ngủ say để trộm tha hồ đào khoét cả đêm.

Cách dẩy thơm khóm vài bước là mấy cây chanh nhiều gai nhưng ít trái. Hoa chanh không thơm lắm nhưng màu hoa trắng tươi. Dưới mấy gốc chanh, đám ngò gai lưu niên chen lẩn với đám rau “càng cua” nhằm mùa mọc ken kín đất. Ngò gai thường thì dùng nêm các nồi canh chua. Ngò gai cũng là một thứ rau sống kèm theo các món nhậu, thường hay đi với các dĩa mắm sống loại ăn xổi như mắm sặc, mắm trèn, mắm linh v.v. Rau càng cua là sà lách của dân quê. Càng cua trộn dấm chấm nước cá kho hay mắm kho đã ngon; càng cua trộn dầu dấm lót dĩa cho một lớp thịt bò xào nằm trên thì được kể là “cao lương mỹ vị” đáng được kèm theo một ly đế cho đệ tử Lưu Linh. Gần mấy cây chanh, là một bụi tre mạnh tông hơn chục cây lóng dài màu nâu pha tím, thân thẳng, ít nhánh. Hằng năm, mấy cậu tôi móc đất sình dưới mương đắp vào gốc bụi tre này. Mấy tháng sau, mưa xuống vài trận thì thấy những mục măng nhú khỏi ụ đất. Bà ngoại tôi thường đợi cho măng nhô lên khỏi đất chừng ba tấc thì moi đất quanh gốc để xắng măng. Gặp dịp nhà có giỗ quảy, chỉ cần hai mục măng mạnh tông làm món xào thì đủ cho cả họ hàng nội ngoại gần xa thưởng thức. Sau bụi tre mạnh tông, bà ngoại tôi trồng sáu cây bưởi ngọt tàng rộng nhánh nhiều. Sáu cây bưởi ken nhánh liền nhau. Bà ngoại tôi thường quét quanh gốc bưởi thành một khoảng sân rộng mát. Vào mùa vườn cây có trái, già trẻ bé lớn nhà ngoại tôi hay tụ lại trong sân này.

Sau mấy cây bưởi, đến một hàng cây mít nghệ. Mít lâu kết trái, nhưng dái mít (nụ non, trái mít con) rất nhiều, ăn được nhưng rất chát. Hàng mít sau vườn đối chiếu cụm bần dưới bờ sông là một đề tài tiếu lâm mà có một dịp ông ngoại tôi chọc tôi cười đau bụng sau nầy. Sau hàng mít là một đường mương thẳng, rộng chừng ba thước có cầu bắt ngang. Gọi là cầu, thực ra chỉ là một khúc cây tròn xù xì bằng bắp vế người lớn. Bên kia mương là bờ tranh, mà cũng là thế giới đầy bí ẩn đối với tôi hồi đó. Càng bí ẩn càng hấp dẫn, vì bên kia bờ mương có ba cây dâu cứ sang đầu mùa hè thì đầy trái kết thành chùm dài, đong đưa theo gió (dâu da đó). Vào khoảng tháng ba ta (âm lịch), trái dâu đã lớn bằng ngón chưn cái. Dù còn xanh, nhưng vào buổi trưa, dì Sáu tôi hái vài chùm, rửa sạch, đâm dập dập, chan nước mắm đường, chia cho mỗi đứa vài muổng, gọi là ăn dâu non trong khi chờ đợi dâu chín theo mùa. Đến cuối tháng năm ta, thì dâu chín vàng. Chín nhưng không chắc là ngọt, mà chỉ chua chua ngòn ngọt, nuốt được mà ê cả hai hàm răng; uống thêm một gáo nước lạnh vào, thì có khi còn bị tào tháo rượt chạy không kịp.

Bên này bờ mương, thế giới gần gụi của tôi còn có một cây khế, đến mùa hoa trổ đầy cành. Điều mà tôi chờ đợi, không phải là hoa khế, vì hoa có đẹp bao nhiêu cũng không hấp dẫn bằng những trái khế to bằng nắm tay người lớn. Khế non xanh ngon theo khế xanh; khế chín vàng ngon theo khế chín vàng. Gần đó, còn một cây chùm ruột rất sai, nhằm mùa trái đeo oằn nhánh. Chấm muối ớt ăn sống nó đã chua; xênh đường làm mức nó vẫn chua. Nói chung bưởi, ổi, khóm, dâu, khế, chùm ruột đều được chiếu cố tận tình; nhứt là cậu ba tôi là một đệ tử thuần thành của Lưu Linh. Cậu rất rành cách làm các món nhậu, trong đó các loại trái chua kể trên đều được dự phần làm bổi đưa cay.

Ngoài mấy loại cây có trái chua, trong vườn ba ngoại tôi cũng có mấy loại cây có trái chát. Có một cây nhàu thường dùng làm thuốc hơn là món ăn, vì trái nhàu chín khá nặng mùi.

Kế đến phải kể mấy cây chuối hột. Nghe nói rằng khi chuối hột trổ buồng, thì cả thân cây chuối chuyển mình làm rung các tàu lá, gây tiếng kêu rùng rợn khi bắp chuối non chen các bẹ bọc quanh mà chui lên khỏi ngọn. Cũng nghe kể rằng mấy ông thầy pháp chờ hứng những giọt nước đầu tiên khi bắp chuối vừa trồi đầu, để làm bùa phép “rù quến” gái tơ. Những chuyện này đều có nghe nhưng không được thấy ứng nghiệm thế nào! Nhưng thật tế thì chuối hột vừa tròn trái, được hái rửa sạch, xắt mỏng ăn sống kèm với thịt mỡ cho bớt ớn. Chuối hột xắt mỏng làm dưa chua cũng thường có mặt trên mâm nhậu. Đến khi chín thì vì nhiều hột quá khó ăn, nên chỉ dành cho những người bị “kiết lỵ” ráng nhai nuốt để chữa bịnh, vì trong quê thường thiếu thuốc “cầm tả”.

Rồi tới mấy bụi gần hai chục cây chuối xiêm. Chuối xiêm được trồng nhiều hơn, vì sống hay chín, chuối xiêm vẫn ngon. Còn sống thì chuối chát, chuối nấu, chuối đóng vóc chẻ hai nạo bằng muổng lấy bột nấu canh. Chín vừa ươm ướp có sao ăn vậy, hoặc chờ chín muồi chưng nước cốt dừa, hay làm nhiều thứ bánh.

Trong vườn còn có một cây sung nhiều trái, với hai công dụng. Vào dịp cúng kiến những chùm sung đẹp được hái chưng trên bàn thờ để ước cầu “sung túc”. Trái sung sống thì chát quéo môi, có thể dùng làm thuốc cầm tả như chuối hột; mà cũng có thể được xắt lát làm bổi độn cho có vị chát, khi những ông con Ngọc Hoàng đụng độ mà chưa có chuối hột trong vườn. Mấy bợm nhậu tự phong là con Ngọc Hoàng mà cũng tự trách bằng chữ “thằng” qua mấy câu vè phổ thông như sau:
Hiu hiu gió thổ đầu non
Mấy “thằng” uống rượu là con Ngọc Hoàng
Ngọc Hoàng ngự tại long sàng
Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi
Tưởng rằng con uống con chơi
Nào ngờ con uống con rơi xuống sình.


Từ trong nhà ngoại tôi nhìn ra, đầu xông phía tây, kế vườn trầu là một ngọn rạch cùn, nhánh của rạch Cầu Trắng cách đấy hơn 400 thước. Ngọn rạch cùn chạy dọc dưới sàn nước, ven theo vườn trầu, ra đến con đường lộ đá thì gần cạn; dù nước ròng cũng chỉ sâu chừng một thước. Có gần đủ loại cá bơi lặn dưới đoạn rạch cùn nầy: cá lóc, cá trê, cá sặc, cá rô, cá thòi lòi. Khi nước lên, tôi nhìn cá đớp bóng để biết nhiều hay ít. Khi nước cạn, cứ tìm trong mấy vủng nhỏ mà đếm cá còn kẹt lại, mỗi thứ vài con. Nhiều nhứt là bầy cá thòi lòi từ trong hang bò ra, “phùng mang trợn mắt” rượt nhau trên bùn hay trên mấy cái bộp dừa. Một hôm, khi nước lớn, cậu bảy tôi câu được bốn con cá rô lớn bàng bàn tay tôi. Vì bị chê ít hay bị chê nhỏ lại không sạch vì ở mương cạn, cá không bị đánh vảy mổ bụng như mọi khi khác. Cậu lượm bốn trái mù u sọ (khô tróc vỏ) đem dùi lổ. Cậu kiếm bốn khúc dây chì (kẻm): một đầu xỏ ngang lổ mù u, một đầu xỏ ngang kỳ trên cá rô, rồi móc ngoéo hai đầu dây chì lại. Bốn con cá rô bị xỏ dây chì mang trái mù u trên lưng được đem thả ngoài sông rộng. Tôi rất vui thích khi thấy bốn con cá rô lôi trái mù u chìm xuống một chút, rồi bị mù u lôi trở lên mặt nước. Loanh quanh trồi hụp chừng 5, 6 lần, rồi bốn cá con cá rô xâu mù u bị nước cuốn không còn thấy nữa! Sau này nghĩ lại thì thấy trò chơi này hơi ác: cá chắc không chết, nhưng không bơi lặn thung dung được. Không biết chúng sống được bao lâu? hay cũng bị người khác thấy rồi vớt lên kho nướng chung với những con cá khác?

Khúc sông Ô Môn trước nhà ngoại tôi rộng chừng 50 thước, mỗi ngày đêm nước ròng nước lớn hai lần. Khu đất nhà ngoại tôi bề ngang cũng khoảng 30 thước dọc bờ sông. Ngoại tôi có làm một cái “xẻo cá”. Nó giống như một cái ao nhỏ khi nước lớn đầy sông, khi nước ròng thì cạn trên mắt cá. Xẻo xoay mặt ra sông, có cửa làm bằng phên tre. Khi nước lớn thì kéo cửa treo lên, thả một nắm cám làm mồi nhử cá. Khi thấy cá ăn móng nhiều thì hạ cửa xuống, chận giữ cá lại bên trong xẻo. Các ngỏ ngách quanh cửa xẻo và phên tre đều được che bít kín đáo, không cho cá thoát lọt trở ra sông. Khi nước ròng sát thì xẻo gần cạn, cứ xuống xẻo dùng rổ con mà xúc vớt. Thường thì chỉ được cá lòng tong, cá thiểu, cá trắng là loại thích mồi cám. Lâu lâu, mới được một con cá lóc lớn bằng cườm tay theo bầy cá lòng tong kiếm mồi; có khi được một con cá trê đi lạc! Một lần chận xẻo như vậy, thường thì được một tô cá, đủ cho cả nhà ăn một ngày.

Còn một cách bắt cá trắng khác, dãn dị hơn, là chờ cơn nước lớn, giăng ngược một cái mùng, cách miệng xẻo chừng ba thước, dùng bốn cục đá bằng cườm tay dằn chìm bốn góc mùng, mí mùng kéo khỏa chìm dưới mặt nước chừng một gang tay, bốn góc buộc vào bốn cọc cây. Thả một chén cám vào giữa mùng rồi chờ cho cá vào ăn móng khá nhiều, thì hai người nâng bốn góc cho mí mùng lên khỏi mặt nước khi cá còn mê mồi. Mùng được chầm chậm cuốn gom lại cho tới khi vừa tầm tay thì chỉ còn lấy rổ mà vớt cho hết. Bắt cá kiểu này không nhiều và chỉ được cá nhỏ như cá linh, cá thiểu, cá lòng tong hoặc cá rằm.

Hai bên bờ đất miệng xẻo là hai cây dừa sai trái, đủ cho cả nhà dùng quanh năm. Cạnh xẻo, còn một cây mù u lão, có hoa trổ theo mùa. Hoa mù u trắng mượt nhụy vàng, rất đẹp và rất thơm. Trái mù u rụng lang thang trên mặt đất và cả trên mặt sông, nương tấp theo mấy đám lục bình. Những trái khô rụng trên bờ thường được lượm gom lại. Khi được khá nhiều, thì đem chà sạch vỏ ngoài thành mù u sọ; phơi khô, đập bể sọ đi, lấy hột xắt mỏng thành lát. Dùng que tre, hay cọng dừa, xỏ những lát mù u tròn thành xâu, đem phơi khô, dành đốt làm đèn. Mấy năm 1943-1945, dầu lửa khan hiếm, đèn mù u khá thông dụng. Ánh sáng đèn mù u không rực rỡ, nhưng khói mù u có mùi thơm dễ chịu mà cũng rất khó quên. Trên bãi sình trước miệng xẻo có mấy cây bần, mà cậu Tám tôi dựa theo sách gọi là thủy liễu. (Hình như tên này có từ thời Gia Long tẩu quốc). Đêm có trăng, nước sông đầy, ánh trăng xuyên qua nhánh bần cũng thướt tha mê hoặc. Đêm không trăng, từ những lá bần, hằng ngàn con đom đóm lập lòe, khiến bờ sông thêm huyền bí hơn, nhắc nhở những chuyện cũ về con sấu ma, và cặp cá hộ thần lớn bằng chiếc xuồng. Nhưng những cây bần mang lại cho tôi một hình ảnh khác, khiến tôi say mê hơn. Không phải những trái bần chua khi còn xanh, trở thành ngòn ngọt khi vừa chín, nếu hái kịp trước khi mùi rụng. Mà là những rể bần, oái oăm mọc ngược đầy bãi. Công dụng duy nhứt của rể bần mà tôi biết là được phơi khô, cắt thành khúc ngắn, làm nút chai rất kín và bền. Gọi là rể bần, nhưng thật ra chúng là phần ngoi lên khỏi mặt đất cứng trong bờ, ngoi lên khỏi mặt sình ngoài bãi. Chúng chen nhau thành đám lởm chởm mọc không thứ tự, lớn nhỏ cao thấp không đều, không hề có rể phụ, mà chỉ có thân rể khởi lớn từ gốc rồi nhỏ lần cho đến khi thành ngọn nhọn hoắc. Khi nước lớn hay nước ròng, tôi thường ngồi hằng giờ để nhìn đám rể bần ngăn nước rẻ thành những làn sóng nhỏ lan rộng dần rồi tan mất. Khi nước chảy mạnh thì rể bần lao chao run rẩy. Khi nước lên cao thì rể bần dần dần chìm xuống theo thứ tự, thấp chìm trước cao chìm sau. Sau đó mấy năm, khi lên học lớp tư, trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị do trường cho mượn, tôi đọc bài sử ngắn nói về Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán của Hoằng Thao trên sông Bạch Đằng. Từ bấy, mỗi lần nhìn nước đùa đám rể bần, tôi tưởng tượng đấy là những cọc gổ nhọn bọc sắt do quân binh Ái châu đã cắm ngược giữa lòng sông làm chìm thuyền bè quân Nam Hán và bắt thái tử Hoằng Thao.

Nhưng sau này nữa, hình ảnh oai hùng của rừng cây nhọn cắm giữa lòng sông chờ giặc còn được kèm theo một tràng cười không kềm được. Số là, khi lên lớp ba, thầy Lưu Nhơn dạy chúng tôi tìm một số câu đối Nho như :
Thiên tăng tuế nguyệt, xuân tăng thọ
Xuân mãn càn khôn phước mãn đường

thì tôi lật sách ra tìm để chép:
Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung
Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu

nhưng khi tìm những câu đối nôm thì bí, loay hoay cả buổi mà chưa thấy câu nào.
Nhằm lúc ông ngoại tôi ghé về, tạm nghỉ để bổ thuốc làm cao, đơn, huờn, tán cho cuộc phiêu du kế tiếp; nghe tôi tìm câu đối nôm. ông vuốt râu mỉm cười thong thả đọc cho tôi nghe:
Nước chảy c..rể bần run bây bẩy
Gió đưa d..nụ mít dảy tê tê

thì tôi cười ha hả không nín được, mà cũng không dám chép nộp Thầy. Khi gió đưa mấy cây mít sau hè, nhánh mít oằn thư thế nào, và tất nhiên những nụ mít non “dảy” như thế nào tôi đã nhìn thấy rõ. Những rể bần “oai hùng” mọc tùm lum dưới bãi, run như thế nào khi nước lớn hay nước ròng, tôi cũng theo dỏi tường tận lâu nay. Hai chữ “tê tê” thì hơi nhộn, chưa chính xác; nhưng hai chữ “bây bẩy” thì đúng bon, rất hiện thực. Khi được đọc thêm sách vở, tôi còn được biết thêm bài thơ của ông Nhiêu Tâm (?) đã ngạo nghễ trước uy quyền của vị quan của triều đình theo Pháp, Tổng Đốc Lộc hách dịch bắt ông Nhiêu Tâm vịnh cây bần với thái độ khinh khi thân phận hèn mọn của học trò nghèo. Ông Nhiêu đã hạ một bài thất ngôn bát cú với lời lẻ ngổ ngáo châm biếm mà tôi chỉ còn nhớ một câu duy nhứt, trong đó ông đã văng tục với tên mãi quốc một cách tài tình:
C..rể trổ chẳng kiên gò đất cứng”
(Vị nào còn nhớ trọn bài thơ này, xin nhắc lại dùm. Thậm cảm)

Tôi sống trong ngôi nhà ngoại tôi từ ngày tôi được sanh ra. Tùy theo hoàn cảnh đẩy đưa, tôi theo má tôi về bên nội sống ít lâu, không được lại phải trở về đây. Năm 1937, ba má tôi cất nhà trong xóm Ngã Ba Thới An, cho tôi đi học được gần trường. Đến cuối năm 1945, tôi theo má tôi tản cư mấy tháng, khi trở lại được thì căn nhà này bị lính Tây đốt mất; má tôi dẫn anh em tôi về sống trong nhà ngoại tôi. Cho đến năm 1946, tôi rời nhà ngoại tôi xuống Cần Thơ nhập học. Quê ngoại từ đó, càng ngày càng xa vời. Con đường Ô Môn Cần Thơ thường bị gián đoạn. Du kích đắp ụ, đốn cây chặn nẻo lưu thông liên miên. Mỗi sáng, quân đội Pháp phải mở đường thông thương rồi mới cho xe hành khách chạy. Chi đội thiết giáp do đại úy Nhỏ chỉ huy bắt đầu từ Ô Môn chạy xuống, nếu bình yên thì dừng lại khoảng trên cầu Rạch Nọc, hoặc khu rừng tràm năm xưa, gần ngã ba đi Ba Se chờ đội thiết giáp từ Cần Thơ lên tới gặp tại đây. Vì rừng tràm gần điểm hẹn của 2 toán thiết giáp mở đường, cách lộ non trăm thước, nên thỉnh thoảng du kích núp trong đó bắn ra. Lẽ tất nhiên khu này liền bị càn quét và sau đó, dân ở gần bị sung công đốn bớt tràm. Rừng tràm chỉ rộng chừng 5 mẫu ta, khoảng trên vài ngàn cây tràm. Lúc bình yên, chưa chiến tranh, thì chim cò tựu về mỗi chiều hàng ngàn con kêu hót vang lừng. Sau chừng chục lần chạm súng, lính Pháp và partisans bắt dân đốn bớt tràm gần sát gốc. Rừng lần hồi hẹp lại, tràm bị hạ thưa đi. Du kích mất chỗ để phục kích, chim cò cũng mất chỗ làm ổ, mất luôn chỗ xôn xao buổi sáng, mất chỗ tựu về mỗi chiều. Khu này chỉ còn môn và lác mọc lang thang, lâu lâu cũng bị phát dọn cho quang đảng, đề phòng du kích núp trong lùm bụi bắn sẻ.

Sau 1946, làng Thới An không còn bình yên nữa, hôm nay lính Tây đen “bố”; ngày mai Pạc-ti-dăng (partisans) làm “ráp” (rafle); lại còn những cuộc ruồng bắt bất thường của các đội Hòa Hảo võ trang. Vì cậu Tám tôi theo kháng chiến, bà ngoại tôi tản cư theo cậu Tám tôi vào khu Thới Lai Cờ Đỏ. Ngôi nhà bị lính Tây đốt; sau người khác về đó cất nhà. Vật đổi sao dời! Quê ngoại từ 1947 chỉ còn trong ký ức chứa đầy kỷ niệm ấu thơ. Bốn cội mai già, gốc tròn hai gang tay, cao gần 5 thước, không biết còn được cây nào đứng nguyên chỗ cũ, hay đã bị đốn rụi hết rồi? Mong sao còn lại một cây, vì trên cây đó, tôi đã bắt chước tiểu thuyết, khoét vỏ, khắc chử T lớn bằng bàn tay hồi cuối 1944, trước mùa thu Nam Bộ kháng chiến!!!



L o n g T u y ề n
Houston, ngày 8 tháng 9 năm 2004



12978



Image


x ó m .R Ạ C H .G Ố C
.......h à n g .x ó m .q u ê .N g o ạ i
____________________________________________________________________________



Từ trong nhà ngoại tôi nhìn ra, đầu xông phía tây, kế vườn trầu là một ngọn lạch cùn, nhánh của rạch Cầu Trắng cách đấy hơn 400 thước, trổ vòng tới đây. Lạch nước này là ranh giới giữa nhà ngoại tôi và khu đất của ông Bảy Lá. Bên kia lạch nước là bụi tre gai hằng trăm cây chen nhau chằng chịt. Tre rất cao mà chỉ cách bờ sông chừng 30 thước nên hưng gió đủ chiều. Ngọn tre gai oằn theo gió thật dịu dàng, như vẩy ngoắc, như đón mời. Những thân tre đón gió cọ vào nhau thành những tiếng kêu kỳ dị như rên siết réo gọi, có khi thảm thiết có khi tức tưởi. Vì không là nhạc sĩ, tôi không đủ ngôn từ để diễn tả những tấu khúc thiên nhiên, triền miên bao hàm âm thanh vừa quyến rủ vừa ghê rợn.

Ngay dưới bụi tre gai đó (vẫn bên kia bờ lạch trên khu đất của ông Bảy Lá) là nhà của một gia đình chuyên nghề làm bún. Gia đình ông bà Tư Nhự rất đông người, làm hết mọi công việc từ ngâm gạo, xây bột, ép bún, luộc bún. Có hôm, tôi mải mê nhìn bà Tư lấy một cục bột trắng tinh, lớn bằng bắp chưn đã được chuẩn bị “xe” sẳn. Bà cho khối bột vào khuôn ép được kê vững chải trên miệng một cái nồi lớn đầy nước sôi bốc khói. Khi khối bột tròn dài vừa vặn chui vào khuôn, lập tức cậu ba Đảnh (con trai trưởng ông bà Tư) tỳ mạnh tay lên cần ép. Những cọng bún từ từ chui ra khỏi những lổ khuôn chậm chậm chìm lần vào trong nước đang sôi. Dần dần cần ép hạ xuống cho đến mãn tầm, tức là khuôn đã hết bột. Ép hết ba khối bột thì bún đã đầy nồi. Bấy giờ bà Tư lấy một chiếc đủa dẹp lớn gạt ngang dưới khuôn cho các cọng bún đứt rời chìm trọn trong nồi nước. Bà dùng đủa khỏ lên miệng nồi một tiếng rồi ngưng không cho thêm bột vào khuôn nữa. Cậu ba Đảnh rời cần ép, lấy một cái rổ thật to, mang lại cạnh nồi. Bà Tư dùng một cái rổ quảo có cán, cho vào nồi, lần lượt vớt tất cả các cọng bún đã chín, chuyển vào cái rổ lớn do người con trai kê cạnh nồi. Khi bà ra dấu, cậu con vội bưng rổ đầy bún, băng qua đường lộ trước nhà, xuống thẳng bờ sông, đi trên cây cầu dừa cho đến khi nước lên đến đầu gối. Cậu nhún trọn rổ bún xuống nước, đảo đi đảo lại nhiều lần cho đến khi bún trong rổ nguội hẳn. Bấy giờ cậu mang rổ bún trở lên nhà, để trên bộ ván ngựa, chờ người khác đơm thành bún chén, hay quấn bún lọn theo nhu cầu của mối trong chợ quận hay những người mua quen thuộc. Phần cậu thì trở lại giúp bà Tư lo ép những nồi bún khác.

Ở gần lò bún lâu ngày, tôi không thích ăn bún nữa. Mùi bột chua lưu cữu, mùi bún mới chín vớt từ trong trả nước sôi ùn ụn khói đã thành quá quen thuộc với tôi hồi đó. Nhưng kỷ niệm đẹp về lò bún không phải là những thỏi bột tròn dài được ép thành những rổ bún trắng tinh thơm phức; mà là những chiếc mão kết bằng lá mù u hay lá dừa tươi. Mão cho quan văn có hai cánh chuồn nằm ngang hai bên lổ tai. Mão cho quan võ có hai thẻ xếp cũng từ hai bên màng tang dựng đứng lên. Nhà này đông anh chị em mà phần đông có máu mê hát xướng. Mấy anh chị này thay nhau đóng những vai như Bao Công, Quách Hòe, Lý Thần Phi trong tuồng Ly miêu hoán chúa, thiêu hủy Bích Vân Cung; hay Đổng Trác, Lữ Bố, Điêu Thuyền theo tích Phụng Nghi Đình. Đối với tôi, năm đó đã bắt đầu đọc truyện Tàu, đứng từ bên này lạch nước nhìn sang, những mũ mão đan bằng lá mù u hay lá dừa tươi, những bộ râu tướt bằng lá chuối, những câu xướng hát, ca ngâm, nói lối, kèm điệu bộ múa may của các vai trong tuồng tích là cả một bầu trời mới lạ, thừa gây quyến rủ say mê, cũng vương ít nhiều thắc mắc lẫn ngỡ ngàng. Vì Bao Công mà mặc quần vá, thì thiếu vẻ nghiêm chỉnh của một “đường quan thiết diện vô tư của Tống triều”; còn Lữ Bố mặc áo bà ba cũng làm mất vẻ oai phong của “đệ nhứt anh hào thời Tam quốc”.

Một kỷ niệm khó quên khác về gia đình này: cậu ba Đảnh ( người con trai trưởng trong nhà chuyên ép bún và giạo bún dưới sông giúp mẹ) đã cùng bạn bè trong xóm ăn thịt chó. Xong tiệc về, cậu vào nhà không được; vì giữa nhà, trên trính có thờ Quan Thánh (tức Quan Công thời Tam quốc). Cậu bị Ông hành chạy tuôn trở xuống sông, ngụp lặn gần nửa ngày như “chó lội nước”. Bạn bè xúm lại lôi cậu lên, mà không xuể, vì cậu lực lưỡng khỏe mạnh, ba bốn người vật không lại cậu. Cho đến chiều tỉnh lại cậu lò mò về nhà, lén lén vào cửa sau. Tuy không bị ba má cậu rầy, nhưng cậu bỏ công ăn việc làm cả ngày, không có bún cho bà Tư đem bán buổi chợ hôm sau. Không biết vì Ông linh thiêng hành cậu hay cậu bị rượu đế quá ngon quất cậu sụm bà chè khiến cậu thành “con Ngọc Hoàng” trọn buổi. Vì cơn say đó, cậu xẻn lẻn cả tháng, mấy tháng sau cả nhà dọn đi nơi khác. Bụi tre gai vốn đã u uất trước đây, dù dưới gốc có lò bún sinh hoạt nhộn nhịp cả ngày; bây giờ lò bún dọn đi, phong cảnh càng thêm tiêu điều vắng vẻ. Gia đình ông bà Tư dọn lò bún đi rồi, thì láng giềng gần nhà ngoại tôi nhứt, ở đầu hè phía Tây là gia đình ông Bảy Lá.

Vài nét về ông Bảy Lá. Ông thứ bảy, còn tên thật ông là gì tôi không biết. Thời đó, con nít mà tìm biết tên người lớn thì thường bị rầy, bị cho là hỗn hào, tọc mạch. Nhưng vì ông có vựa lá bó và lá chằm duy nhứt từ lâu trong làng Thới An, nên bà con cứ chuyền nhau gọi ông là ông Bảy Lá. Mỗi năm cứ sau mùa lúa, thì nhiều ghe lớn chở lá dưà nước được bó thành bó từ miền biển Bạc Liêu, Cà Mau, đem lên bán cho ông. Các bó lá được chất dọc bờ sông, thành đống vuông vắn, mỗi bề 10 bó, lên cao khỏi đầu tôi vói hết tầm tay mà chưa tới (chừng 2 thước tây). Có năm, bờ sông trên phần đất của ông không đủ chỗ, phải gởi qua khoảng trống trước nhà ngoại tôi. Khi các ghe buôn lá lui rồi, ông cho mua cây cau, mướn ngươi cắt thành khúc dài 3 thước, chẻ thành thanh nhỏ gọi là hom. Ông gọi bà con trong xóm, ai muốn làm công, thì đến chằm lá mướn cho ông. Ông trả tiền công tính theo từng trăm tấm lá chằm rồi. Lá chằm xong, được chất thành đống có thứ tự, rồi ông lần hồi bán quanh năm cho những ai cần lá lợp nhà, nghĩa là bà con xa gần từ các làng kế cận (trừ vùng quanh chợ quận Ô Môn, vì ở đây đã có trại lá chằm của ba má Nguyễn Phước Cương).

Nhà cửa của ông rất khang trang. Bên này bờ lộ, khi làm ăn khá giả, ông cho xây thêm một ngôi nhà ba căn gạch nền đúc mái ngói cao ráo rộng rãi, có vườn cây ăn trái bao quanh. Hồi lập nghiệp, ông đã cất một dảy nhà sàn cây lợp lá khá lớn, ngay trên bờ sông làm nơi buôn bán. Các ghe lá từ Bạc Liêu, Cà Mau lên đều neo dọc theo các trụ gổ cắm sâu xuống đáy sông, dọc nhà sàn, chờ đến phiên trống bến hầu xếp những bó lá lên bờ. Tuy nhiên, ông vẫn chừa một khoảng trống rộng chừng 10 thước, ngay chỗ cây cầu rửa bún trước đây, để làm một cái bò kéo cá. kéo này giống như một cái chuồng lớn bằng cây, có phên tre che kín bốn phía, chạy lưu động trên hai thân cây dài chừng 7, 8 thước, nằm trên bãi sình từ trong bờ ra giữa sông. Trong chuồng ông cho chất đầy những nhánh cây lớn nhỏ gọi là chà cho cá vào ở. thả ngâm chìm dưới nước. Cứ hai hay ba ngày, ước chừng trong bò đã có nhiều cá, ông cho hai người kéo lên gần khỏi bờ. Khi được chèn cứng chắc chắn, một người giở bớt chà gần miệng ; một người mở cửa nhỏ, thò tay vào lùa cá tôm các loại các cỡ vào rổ. Đây là cách bắt cá khá tân kỳ vào thời đó; nhưng cần có hai người giứp việc lực lưỡng mới kéo nỗi cái lên bờ; rồi khi bắt cá xong lại đẩy nguyên cái bò với chà chôm xuống sông chờ lần kế tiếp sau đó vài ngày. Có thể ông không có thì giờ câu cá dù nhà sàn ông nằm ngay trên sông, nên ông bày cái kéo này để một công hai việc: vừa giải khuây vừa bắt cá làm món ăn nuôi những người làm công trong ngày.

Không biết bà Bảy mất hồi nào, chỉ thấy ông sống với ba người con: cậu hai Xìn không học hành làm ăn gì giúp ông mà chỉ rông rải cờ bạc quanh năm rồi vướng bịnh ho lao héo mòn chết sớm. Kế đến là cô ba Điệp, từng nổi danh tài sắc một thời ở quận Ô Môn. Sau chót là cậu tư Bính. Cậu học hết chương trình tiểu học trường quận Ô Môn rồi ở nhà lo giúp cha buôn lá. Đến mùa tiêu thổ kháng chiến 1945, trại lá này bị đốt ra tro, ông Bảy qua đời, cô ba Điệp theo chồng xiêu lạc phương nào tôi không rõ. Duy cậu tư Bính thì tôi còn gặp lần chót năm tôi học Première Année Phan Thanh Giản khoảng 1946. Cậu ghé lại nhà thăm má tôi. Cậu thấy bộ Thiếu Lâm Trường Hận của Hải Bằng mà tôi rất nâng niu, vì không ai có mà cũng không còn kiếm đâu ra được. Cậu hỏi mượn để đọc và hứa trả lại cho tôi khi cậu xuống thăm má tôi vào chuyến xe Ô Môn Cần Thơ kế tiếp. Bộ kiếm hiệp này thất lạc luôn, vì cậu tư Bính trở vào bưng rồi tuyệt tích giang hồ luôn từ bấy đến giờ.

Cạnh nhà ông bảy Lá là cậu năm Biên. Cậu cũng thuộc hàng khá giả trong làng, tuy không phải giàu có lớn. Cậu chuyên giăng câu trên sông mỗi đêm; sáng hôm sau mợ đem cá tôm vào chợ quận bán, nên tiền bạc rộng rãi. Nhà cậu ba căn hai chái, vách ván, nền lót gạch tàu vuông. Vườn tược trước sau luôn dọn dẹp quét tước sạïch sẽ. Khi tôi biết thì mợ năm bị bịnh ngặc chết sớm, cậu ở lại nuôi cô con gái (lớn hơn tôi nhiều). Vốn là một tay mê cổ nhạc, trong nhà cậu có cây đờn kìm, lúc mợ Năm còn sống, thỉnh thoảng cậu cũng đem đờn ra hiên một mình rỉ rả hò xự xang xê cống. Nay mợ mất, nhà vắng vẻ, cậu sanh buồn, bèn mời thêm mấy tay sành nhạc tựu lại. Bấy giờ thì có thêm đờn cò, đờn gáo, đờn tranh, chiều chiều tựu lại bốn năm cây đờn hòa nhau cho những người khác ca theo. Thôi thì đủ thứ: vọng cổ, xàng xê, bình bán, trường tương tư, nam xuân, nam ai... Qua các bài bản nghe lóm được, tôi bắt đầu quen với các nhơn vật Khổng Minh, Châu Du; Tần Thúc Bảo, Đơn Hùng Tín; Triệu Khuông Dẫn, Đào Tam Xuân, Cao Hoài Đức trước khi đọc được Tam Quốc, Thiết Đường, Phi Long diễn nghĩa...Qua khỏi nhà cậu năm Biên chừng 50 thước thì tới Cầu Trắng sườn cây lót ván bắt ngang một con rạch nhỏ. Tại đầu cầu, có cây sa kê nhiều trái như trái mít nhỏ, nhưng xẻ ra không có múi như mít. Vào sâu trong vườn chừng 30 thước là nhà cậu Ba Đắc, có sân tập võ đằng trước sát bờ rạch. Bà con lứa tuổi với cậu (khoảng trên dưới 20) thường tụ lại đây tập đánh quyền múa roi. Roi tức côn (nói theo võ hiệp) thường là gậy tầm vông (khúc gốc) dài chừng ba thước. Vì là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, cậu treo lá trần điều trên trính nhà để thờ. Khi Việt minh nắm quyền, họ buộc cậu phải tháo lá trần điều này xuống.

(Sau đó ít lâu, thì nhà cậu Năm Biên hết hát xướng đờn ca và sân trước nhà cậu Ba Đắc cũng thôi tập võ, vì khởi mùa Nam Bộ kháng chiến cuối 1945. Bà con làm ăn càng ngày càng khó khăn. Lâu lâu người đi làm ruộng gặp thây ma “mò cá rô” trườn lên bờ đìa. Thỉnh thoảng thợ câu giăng kéo trúng thằng chổng “mò tôm” chưa nổi vướng vào. Bà con nhốn nháo kinh hoàng. Rồi lịnh của Ủy Ban Kháng Chiến ban ra, mạnh ai nấy lo tản cư.)

Hàng xóm đầu xông phía Đông nhà ngoại tôi là nhà bà Sáu Hương. Bà ở chung với con gái và rể với bầy cháu ngoại. Rể bà là ông phó Hương Quản Lái. Chức vụ Phó Hương Quản thời bấy giờ khá quan trọng trong làng; nên ông được “kêu tưng” là Hương Quản. Đôi khi có việc kiện tụng, thì ông bận áo dài quần bà ba đen ngồi để tay trên ghế nghi, đặt ngay đầu bộ ngựa gỏ giữa nhà. Lúc đó, nhìn ông oai nghiêm khác ngày thường. Khi không có việc quan, ông cũng ở trần, mặc quần ngắn, lo việc ruộng nương rẩy bái. Dưới bờ sông, nhà ông có cây cầu ván nhỏ, để neo một chiếc ghe tam bản. Ông dùng chiếc tam bản nầy chở những bó cây điên điển do ông trồng quanh năm trong đồng; cứ vừa cỡ dùng được thìa ông đốn đem về. Những bó điên điển dựng dọc bờ sông lần hồi được chặt thành khúc, làm củi nấu bếp ít khói mà lửa rất đượm, mau tàn vì than nhẹ mà xốp. Than điên điển tán nhỏ trộn với các thứ thuốc như lưu hoàng diêm sinh làm pháo Tết, nên than bán rất được tiền vào tháng chạp. Pháo thuộc loại hàng kiểm soát chặt chẽ trong làng, mà ông là phó hương quản, ông theo dỏi thường xuyên những nhà nào có trồng nhiều điên điển. Ông có hai cô con gái, một cậu con trai. Chị hai Kim học hết 6 năm tiểu học rồi ở nhà chờ ngày lấy chồng. Chị ba Hường vào trường trước tôi, nhưng bị đứng lại ở lớp ba. Chị đậu lên lớp nhì một năm một lượt với tôi và học chung với tôi ba năm cho tới lớp nhứt. Chị rất siêng học nên tôi bị bà ngoại tôi rầy la hoài. Số là, mỗi tối, khi nhà chị lên đèn, thì chị bắt đầu học bài. Chị đọc rất lớn mấy bài cần phải thuộc lòng. Còn tôi, thì lén kiếm chỗ kiếm hiệp “loại 3 xu” rất phổ thông vào thời đó: Thiếu Lâm Trường Hận của Hải Bằng, Hồng Sa Tru Tiên Kiếm của Thanh Đình Lê Văn Giới, Long Hình Quái Khách của Lý Ngọc Hưng v.v. Khi tôi vào mùng ngủ thì vẫn nghe chị học bài. Tôi đọc thầm theo chị cho đến lúc ngủ thiếp đi. Nhờ đó, hôm sau, khi bi dọn bài thì thôi trả thuộc lòng trơn tru; còn chị thì thường ngập ngà ngập ngừng. Chị rất tức vì chị biết tôi không thức đêm học bài như chị, mà mỗi khi bị kêu tôi đều thuộc bài hơn chị. Tức cũng có mà ghét cũng có, cho tới ngày chị biết không cách gì chị học hơn tôi được, chị mới thôi háy nguýt. Em trai chị, tên Tám Sanh, cũng vậy. Học hành không khá nên phá ngang nửa chừng ở nhà. Ông phó hương quản muốn con trai duy nhứt tiếp tục học hành vì nhà ông khá giả, nhưng không hiệu quả, ông đành chịu thua. Kế xảy ra vụ tản cư vào khu kháng chiến, gia đình ông dọn lên một chiếc ghe khá rộng. Bấy giờ chị hai Kim đã có chồng trong Vàm Nhon, cũng theo cha mẹ hai bên chèo ghe vào vùng Cờ Đỏ. Ghe xuồng tản cư đậu chen nhau nhiều quá, bị máy bay “bà già” của Pháp thấy được, chỉ cho phi cơ giặc dội bom. Gia đình ông phó hương quản Lái chết gần hết trong tai vạ này. Sở dĩ tôi nhắc nhiều đến gia đình ông; một là vì ông là láng giềng kế cận quen biết lâu đời của bà ngoại tôi; hai là vì má vợ ông là bà sáu Hương đã chịu nói với bà ngoại tôi khi tôi “mới sanh” bị bịnh khóc đêm; nhờ đó ông ngoại tôi mới lo tìm phương thuốc chữa bịnh cho tôi được sống cho đến bây giờ.

Cạnh nhà ông phó hương quản là nhà bà năm Thạnh. Đây là một nhà giàu có trong xóm vì nhà ba căn nền đúc rộng rãi cao khỏi cổ tôi. Trước nhà bà có sân bằng phẳng rào dậu đàng hoàng. Dưới bờ sông, có cầu tàu lớn (gọi là cầu tàu vì tàu đò đạp Sa Đéc Cần Thơ hay ghé rước khách tại đây). Vì tôi không thường léo hánh đến nhà giàu, nên chỉ biết bên ngoài. Lần duy nhứt tôi vào trong nhà bà Năm là lúc Thanh Niên Tiền Phong họp sơ khởi không hạn chế năm 1945, tôi nghỉ học ở nhà tò mò theo coi cho biết. Cậu tư Từ, con bà Năm bấy giờ “làm báo” tham gia kháng chiến, được Ủy Ban Kháng Chiến Tỉnh Cần Thơ cho về làng nhà công tác. Hôm đó, cậu tư Từ “diễn thuyết” khá trôi chảy, nhưng chậm chạp và không mấy hùng hồn vì giọng nói của cậu hơi nhừa nhựa; lại thấy có một người đứng sau lưng nhắc chừng mỗi khi cậu ngập ngừng. Nhưng sau đó, không thấy cậu tư Từ xuất hiện thêm, có thể vì cậu thuộc thành phần con điền chủ; lại thêm nghe nói cậu là “đệ tử của Phù Dung” (giống ông thầy địa lý ở trọ gần nhà ba má tôi trong chợ quận sau này).

Kế tiếp, là nhà dì năm Phi chuyên làm bánh hỏi và bánh bò trong. Lò bánh hỏi nhỏ hơn lò bún; mùi bánh bò trong thơm, át mất mùi bột bánh hỏi. Rồi đến nhà ông Bố, lớn con lực lưỡng, quanh năm ở trần đi từ làng trên xuống xóm dưới, lãnh làm những việc nặng nhọc lấy công. Khi vắng mặt ông, tôi nghe mấy anh lớn nói lén với nhau: “Bố căng ky; bố khỉ khì” rồi cười với nhau có vẻ như nhạo báng. Cho tới bây giờ tôi vẫn không hiểu nghĩa 6 chữ này!

Một tiệm hàng xén khá khang trang cột cây vách ván lợp ngói là điểm hội của trẻ con trong xóm từ sáng tới chiều. Tôi đi học mỗi ngày nên lâu lâu mới có dịp xuống đây một lần khi bà ngoại hay má tôi sai xách chai đi mua dầu lửa hay nước mắm. Ban đêm tiệm này có đốt đèn măng-sông (manchon) sáng rực một khoảng đường đá lộ làng trước tiệm.

Kế đó, là lò hủ tiếu và giá sống. Ông bà chủ (không biết tên gì) có cô con gái lớn tên Lan; một cậu con trai mà bọn con nít tụi tôi bấy giờ cứ gọi “thằng hai hủ tiếu”. Nó có cặp chưn mày rất lạ: đen rậm và xoắn thành xoáy hai bên đàu mày, nên trán nó rất hẹp. Không ai kêu ông bà chủ lò hủ tiếu này là ba má cô Lan; mà cứ kêu rằng “ba má thằng hai hủ tiếu”; lâu riết thành danh. Lò hủ tiếu và giá sống này cung cấp cho cả chợ quận và mấy chợ làng chung quanh mỗi ngày. Đặc biệt, cái bến của lò này là nơi có nhiều tôm cá bu lại để ăn giá sống và bột hủ tiếu rơi rớt; nhiều nhứt là cá lưỡi trâu. Cứ xúc đại sâu dưới nước là thường được vài con cá lưởi trâu bằng bàn tay. Lọai cá này không mấy ai thích, nên ngoài chợ bán ít người mua. Nhưng đối với tôi, chim trời cá nước, con nào vô rổ là bắt luôn. Đem về mổ bụng mới biết cá lưởi trâu méo miệng hai con mắt nằm chung một bên lưng có vảy, kho nấu gì cá cũng bở rệp. Sau này đi Pháp, mới biết món ăn này khá đắc tiền! Vì mùi bột chua lưu cữu và mùi đậu xanh ngâm làm giá liên miên trong mấy chục cái hủ sành; nên khi phải đi ngang đây, người trong xóm đều ráng đi mau trên khoảng đường lộ làng duy nhứt, cho tới cầu Rạch Gốc mới bớt mùi. Qua khỏi cầu Rạch Gốc chừng 100 thước thì tới nhà hương hào Quí, có người con trai tên Khương học cùng lớp với tôi.

Con đường lộ làng tráng đá chạy dài từ vàm rạch Ô Môn ngoài sông cái Hậu Giang vào ngã ba trong chợ quận, trổ thẳng vào con đường tráng nhựa Cần Thơ – Long Xuyên. Mỗi sáng có một chuyến xe ngựa chở khách từ ngoài vàm, qua Bà Sự, Rạch Gốc vào chợ; rồi giữa trưa lại trở về. Xe ngựa không bóp kèn mà đánh chuông boong bong. Đếm cả ngày, may ra được non hai chục chiếc xe máy (xe đạp); phân nửa là của mấy anh chị học lớp lớn (con quí vị hương chức trong làng) như anh ba Lữ, anh Đồng (sau theo kháng chiến luôn), anh Thời (đang ở Úc), anh út Kiệt, anh Được, chị Yến, “chị Lệ môi hồng”, chị chín Còn, chị Hồng Y, chị Dự, chị Đính v.v. Phần còn lại là của những người đi làm trong chợ quận như ông thầy bảy Quảng, cậu ba Du v.v.

Đường rộng chừng 5 thước, được sửa chửa vài năm một lần. Khi thấy những chiếc ghe chài chở khẩm toàn đá cục lấy từ Châu Đốc (?), ghé bến, xúc đá đem đổ thành nhiều đống dọc bờ sông, thì biết Sở Trường Tiền sắp đem hủ lô (rouleau) vào làng khởi công. Trước tiên, nhóm phu lục lộ xúc đá trải đầy những chỗ hư hỏng trên mặt đường. Xong cho xe hủ lô chạy chầm chậm cán lên. Xong lại thấy mấy người phu nấu nhựa đen (asphalte) xông mùi khó chịu, dùng gáo cán dài múc vào thùng, xong xách từng thùng đầy nhựa đen tưới lên mặt đá. Chờ qua một vài ngày cho kho cứng, mới cho xe ngựa chạy. (Xe đạp thì phải leo lề mà đi, tránh chỗ đang làm). Sau khi được sửa chữa, đường khá bằng phẳng dễ lưu thông cho đến mùa mưa năm sau.

Họa hoằn mới có một chiếc xe hơi từ Cần Thơ lên theo đường đá này ra Thới An thăm một nhà quyền thế trong làng. Đấy là một dịp cho dân làng trầm trồ cả tháng. Thỉnh thoảng còn có một chiếc xe máy dầu (moto) của một thanh niên dưới tỉnh đưa vợ về thăm nhà. Xe nổ bành bành phun khói mù trời, lại là một dịp khác cho trai gái trong làng bàn tán; mà cũng là một thích thú cho bầy trẻ nít, trong đó có tôi. Có lần, xe bị hư; anh rể quý này phải sửa chữa xe ngay trong sân nhà cha mẹ vợ. Chuyện hi hữu này được tụi tui chiếu cố tận tình; vây chung quanh dòm ngó, chỉ chỏ, theo dỏi, bàn tán; vì món nào tháo ra hình thù cũng lạ mắt, không biết dùng vào việc gì. Khi mọi sự đều xong xuôi, chỗ hư tháo ra đã được ráp lại, chủ nhân leo lên xe ngồi, đạp máy thử. Những tiếng nổ “păng păng” ròn rã vang lên. Người thử xe cười khoái chí đã đành, mà tụi tui cũng reo lên (hồi đó chưa đứa nào biết vổ tay tán thưởng).
Dọc con đường lộ đá, có nhiều cây che tàng lớn, cũng có nhiều cây ăn trái như xoài, mận, có những khúc quanh rợp bóng mát, có những cây cầu ván do Sở Trường Tiền bắt ngang cho xe chạy: như cầu ông Cả Được (vì gần nhà ông Cả Được), cầu Trắng (gần nhà bà ngoại tôi), cầu Rạch Gốc, cầu Bà Sự (cầu nầy 3 nhịp khá lớn) v.v. Mùa hè nghỉ học, tôi theo bạn, lén đi chơi từ chợ quâïn ra vàm thấy sông cái, nên có biết và còn nhớ mang máng. Cũng trong vài dịp đi chơi hoang này, nên tôi có nhiều dịp cùng bạn học tắm sông không có người lớn kiểm soát. Có lần chúng tôi bày một trò chơi hào hứng. Lúc nước ròng, sông cạn bớt đi, lòng sông hẹp lại, để lộ hai bãi sình xoải dốc khá dài. Đứa thì dùng một tấm mo cau; đứa thì tìm một tấm ván mỏng thả trên sình từ trong bờ, rồi ngồi lên mo cau hay đứng trên ván; cho chạy chùi xuống lòng sông. Ban đầu vài ba đứa; sau nhiều đứa thi nhau. Có hôm cả hai bên bờ cùng đua nhau trong trò chơi lấm lem này; la hét vang cả khúc sông. Bị hàng xóm cho hay, nên khi về nhà, tôi bị má tôi thưởng cho cả chục roi vì trốn khỏi nhà không xin phép mà còn dự vào trò chơi mà má tôi cho là nguy hiểm (!). Có hôm, chúng tôi đi theo người lớn học “móc cá chạch” hay “thụt cá bống”. Với một cái rổ sâu lòng kèm bên cạnh, người “móc cá” bươi sình bằng hai tay. Khi chạm hay thấy cá chạch thì lanh tay hốt nó cho mau bỏ vào rổ, chứ không thể nắm đầu hay móc mang như các con cá khác. Cá chạch mà chui vào sình thì nhanh vô cùng, thoáng một cái là nó đi mất luôn. Đúng là “lẩn như chạch”. Cá bống tương đối dễ bắt hơn. Cứ thấy hang nào có nước đục, thì cứ thọc tay xuống, đụng cá thì lưa bàn tay nắm đầu là bắt được. Dọc theo mấy thân cây dừa, mà nhiều nhà thả nằm dài trên sình từ trong bờ ra giữa sông làm cầu, cũng là nơi cá bống nằm chờ cơn nước lớn kế tiếp.

Cũng nhơn một dịp đi chơi hoang này, mà tôi theo dỏi được một bầy vịt hảng từ ngoài vàm về tới xóm. Người lùa vịt bơi xuồng chậm chậm thả trôi theo cơn nước lớn. Bầy vịt vừa lội vừa kêu cạp cạp vang sông. Khi bầy vịt tới gần thì thấy hàng ngàn con vịt lứa (chưa lớn) chen chúc nhau bơi lội hổn loạn, nhưng vẫn phải theo hướng của người lùa, đưa lần về khu ruộng cầm. Bầy vịt được giữ và chăn trong ruộng nầy cho đến khi lớn vừa làm thịt, thì có người đến mua sĩ về đem chợ bán lẻ lấy lời. Người cầm vịt cất chòi trong ruộng mà ở có khi gần hai tháng; trong khoảng thời gian này, vịt mái đến lứa đẻ lang thang ngoài ruộng. Trẻ nhỏ tụi tui lượm được cả trăm trứng vịt, chú cầm vịt thưởng cho tụi tui mỗi đứa mấy trứng đem về; còn bao nhiêu thì chú bán rẻ cho bạn hàng quen hay nấu chè đãi bà con trong xóm.

Dù trốn nhà theo bạn đi hoang đầu làng cuối xóm, ra đồng lượm trứng vịt hảng để được thưởng công, hay tắm sông thi nhau ngồi mo cau hay đứng ván chạy trên bãi sình; không bao giờ tụi tui dám léo hánh đùa giởn ở hai bên sông khúc gần cầu ông Cả Được. Một là ở đây, ngay đầu cầu có cái miểu lớn, nhang đèn không tắt vì ông Cả Được sợ bị quở phạt, tụi tui cũng ngán không dám phá phách; hai là vì tại đây có cây gừa rể phụ chồm xa khỏi bờ, cành lá sum xuê, tàng che rợp bóng, gây cảnh tượng thâm u dễ sợ, ngay cả ban ngày “không có ma”. Thêm một lý do quan trọng hơn nữa, là tụi tui dù biết lội nhưng không phải là những tay cừ, mà tại khúc sông này còn có cái xoáy nước rất nguy hiểm do kinh Ba Rít đổ vào sông Ô Môn. Xoáy lớn rộng giữa rún rút rất mạnh, đứng trên bờ nhìn ra thấy trủng xoay tròn sâu hoáy, lại có tiếng nước kêu. Tại vàm kinh này, có bến đò đưa khách qua lại lấy tiền. Thầy giáo và học trò qua đò miễn phí (chữ sau này). Tôi có mấy anh bạn ở bên kia sông (như Trần quang Hội, Nguyễn Long Giao, Nguyễn Thị Xuyến), thỉnh thoảng vào lớp trễ vì kẹt đò. Có một hôm, mấy anh đã đến trễ mà còn bị ướt loi ngoi. Ông Đốc Tường xuống tận lớp hỏi thì biết đò bị xoáy nước nhâïn chìm; may mà còn gần bờ và mấy anh chị đều lội khá, nên không chết ai. Ông Đốc còn hỏi: “Các trò ở đây, còn mấy đứa con gái đâu?” Anh Hội lớn nhứt vừa cười vừa thưa: “Dạ, mấy chĩ, bị ướt áo quần, nên trở về nhà, nghỉ luôn bữa nay!”.

Cái xoáy nước này là đề tài cho nhiều chuyện được kể ra giữa những người lớn với nahu; đám con nít vừa lắng nghe vừa sợ hải. Nghe kể rằng xoáy nước này khởi đầu đường ngầm ăn thông tới xoáy nước trên Vàm Nao (?). Nó là đường đi của ông Đạo Cậy vì ông biết độn thủy (?). Nó là hang của con sấu mủi đỏ (?) đã từng hiện hình người ở trần chỉ có manh chiếu nhỏ quấn quanh lưng. Năm 1944, tôi có thấy một người đờn ông có râu mang khố chiếu đứng giữa chợ (không phải Trần Miên khố chuối trong tập thơ lục bát rất phổ thông trong xóm nhà nghèo). Tôi còn thấy vài người (đờn ông và đờn bà) chỉ bận quần xà lỏn may bằng bao bố tời hay chỉ vấn chiếu, đứng dựa hông nhà lồng chợ. (Mấy năm đói kém trước 1945, dân miền ruộng Hậu giang không có áo quần lành lặn là chuyện thấy hằng ngày).

Lại còn nghe kể rằng đem một trái bưởi có đánh dấu đề ngày thả vào khu nước xoáy vàm kinh Ba Rít, mấy ngày sau có người vớt được trái bưởi này trên vùng Xoáy nước Vàm Nao (?). Người lớn bàn tán với nhau như vậy, nhưng ai thấy và thấy hồi nào thì không ai nói rõ ràng. Có điều tôi biết chắc về xoáy nước này là khi nước lớn thì xoáy nước không nguy hiểm như khi nước ròng. Khi bơi xuồng về thăm xóm Lung Tượng, tôi tiếp má tôi bơi mũi và má tôi bơi lái. Lần đi, chờ cơn nước lơn, kinh đầy và thuận giòng. Má tôi bơi xuồng qua sông khi còn cách xoáy nước chừng 200 thước và giữ cho xuồng trôi gần bờ sông rồi rẻ vào kinh. Tôi chỉ thấy nước vận nhẹ giữa sông mà không cuốn hút dữ dằn như mọi khi. Lần sau, chuyến trở về, nhằm cơn nước ròng, xuồng trôi băng băng trên kinh, không cần bơi nhiều, mà đến vàm kinh rất mau. Cẩn thận hơn chuyến đi, khi vừa ra khỏi kinh vào vàm, má tôi giữ cho xuồng theo sát bờ sông, cách xa xoáy nước. Nhờ ngồi trước mũi xuồng, tôi vừa bơi vừa nhìn thì thấy xoáy nước rất sâu và rộng; nước rút kêu như hú, thật nguy hiểm dễ sợ.
Sau này, khi lên lớp nhứt, được thầy Trần Văn Sửu giảng cho biết rằng: “Khi nước lớn, luồng nước chia đôi: phần lớn chảy thẳng theo sông Ô Môn, phần nhỏ chảy rẻ vào kinh Ba Rít. Vì giòng nước chia đôi, nước không xoáy mạnh mà chỉ cuốn quanh lờ đờ. Vào cơn nước ròng, sông Ô Môn vừa gom luồng nước của hai nhánh Rạch Phê và Rạch Tắc Ông Thục đổ ra; lại gặp liền luồng nước từ kinh Ba Rít thẳng đứng tuôn xuống. Hai luồng nước chảy mạnh, gặp nhau theo góc vuôn thước thợ, nên quện vào nhau gây thành xoáy tròn vừa siết vừa rộng, cuốn theo rác rến, lục bình, có lúc trung tâm hủng xuống rất sâu tạo thành tiếng hút nghe rùng rợn. Xoáy nước mạnh đến mức có thể lôi ghe xuồng vào trủng mà nhận chìm và từng làm chết nhiều người. Bà con trong tổng Thới Bảo, nhứt là dân các làng Thới An, Thới Long và Thới Thạnh đều biết “xoáy nước nguy hiểm này”. Khi phải qua lại vàm Ba Rít bằng ghe xuồng vào cơn nước ròng, bà con đều men sát theo bờø, cách xa xoáy nước chừng 10, 15 thước, thì được bình yên vô sự.



L o n g T u y ề n
xong 04:30 sáng, ngày 5 tháng 10 năm 2004



12989



Image


v à i .c h u y ệ n .n h ỏ
.......t r ê n .m ộ t .k h ú c .s ô n g
____________________________________________________________________________



Quê ngoại của tôi là xóm Rạch Gốc, làng Thới An. Chữ Thới đây là phát âm trại đi của chữ Thái, kiêng uý đế hiệu Thành Thái (dù nước đã bị thực dân xâm chiếm); cũng như Tổng Thới Luông thay vì Thái Long (kiêng uý thêm đế hiệu Gia Long). Từ vàm rạch Ô Môn vào chợ quận, bên trái là con đường trải đá cán bằng hủ-lô (rouleau) nhưng không tráng nhựa, có cầu sắt lót ván ngang, đủ vững chắc cho xe ngựa và xe hơi (auto) loại nhỏ chạy qua. Từ Rạch Gốc đến chợ Ô Môn khoảng 1 cây số rưởi (1.500 thước), từ Rạch Gốc đến vàm sông Ô Môn trổ ra Hậu Giang, khoảng 3 cây số. Dọc bờ phiá Nam, tất cả nhà cất quay mặt ra đường, tức cũng quay mặt ra sông, vì đường lộ chỉ cách bờ tùy chỗ chừng 10 hay 20 thước, ban ngày đi bộ trên đường thì thấy tất cả mọi việc xảy ra dưới sông, như xuồng ghe xuôi ngược, trẻ nít tắm lội v.v... Bờ phiá Bắc, chỉ có đường đất đắp dọc theo sông, có đoạn xe máy (xe đạp) chạy được.
Hằng năm, cứ đến mùa gió bấc, thì lần lượt những chiếc ghe bầu từ miền Trung vào đậu xếp hàng một dọc bờ phía nam: từ cây gừa cạnh đầu cầu ông Cả Được, đến đầu cầu nhà ông hai Triều (nếu tôi nhớ không lầm thì ông Hai Triều là ông nội của cô Lê Hồng Thu, giáo sư trường Phan Thanh Giản sau nầy). Khúc sông này xế vàm kinh Ba-Rít, cách xoáy nước chừng năm chục thước, nhưng nhờ cây gừa cổ thụ tàng che gần giữa sông, rể gừa lớn nhỏ thòng từ nhánh xuống sình ken như hàng rào lớn chặn trên giòng, nên nước sông không cuộn xoáy nữa mà trôi êm ả, thuận tiện cho ghe neo dọc bến. Năm nào ít thì 15 chiếc, có năm nhiều gần 30 chiếc, chiếc nào cũng lớn với ba bốn người “bạn” theo ghe. Chữ bạn ở đây chỉ những người làm thuê theo thuyền, nhưng chủ nhân đãi như bạn bè, không hề xem như tôi tớ. Với số ghe bầu nhiều và người đông như vậy, xóm bỗng nhiên rộn rịp khác ngày thường, vì quang cảnh tấp nập lên bến xuống thuyền và những người qua lại dừng chân thăm hỏi. Khác lạ vì những giọng nói từ Mủi Né, Phan Thiết hay xa hơn như Sông Cầu, Quảng Ngãi (nhưng vẫn được bà con hồi đó phát âm là Ngỡi), vang trên bến mỗi khi có chuyện cần nói giữa hai thuyền cách nhau. Hầu hết là đàn ông, lâu lắm, đôi ba năm mới thấy có một người đàn bà trên ghe. Thường thì ghe chở đầy nước mắm, muối, rau câu phơi khô, những bó nang tre đủ cỡ. Ngoại trừ nang tre, những món kia được đem bán lần hồi trong chợ Ô Môn. Thỉnh thoảng, vài ghe đường mía từ Quảng Ngãi cũng cặp bến ở đây. Một năm, tôi được thấy một chiếc thuyền thúng di chuyển giữa những ghe bầu lớn. Vài hôm sau khi cặp bến, những ngưòi trai trẻ đào vài lổ tròn trên bờ đất ven sông. Hôm nào trời nắng, họ vác những bó nang tre từ thuyền lên đặt gần lổ đào sẳn, rồi rút nang tre trong bó, đan thành những cái vĩ to nhỏ tùy theo nhu cầu. Đặc biệt là họ ngồi xổm trên vĩ nang tre bện được cho thụp sâu xuống lổ, rồi ở trong đó họ từ từ xoay tròn đan thêm từng cái nang, cho đến khi đúng cỡ thì đặt hai thanh tre dẹp chuốt sẳn gài vào rồi buộc chặt làm vành, dùng dao tề dọc theo vành thúng cho bằng, xong tiếp tục buộc giây quanh vành thật chặt chẽ, cho đến khi được một cái thúng vừa chắc chắn vừa trông đẹp mắt. Chợ quận Ô Môn là giao điểm của mấy làng vây quanh chuyên về nghề nông, nên dân ruộng rất cần thúng để dùng trong việc xúc hay đội lúa từ ruộng về nhà. Thúng nhiều cỡ vì người lớn hay trẻ con đều phải xúc hay đội lúa quanh năm, mỗi khi có dịp cần.

Qua giêng sau Tết, thì các ghe bầu đều khẩm vì chở lúa. Đấy là món hàng chánh mà các chủ ghe đều gom mua từ tháng chạp lúc lúa chín vàng đồng, và lần hồi chất các bao lúa từ đáy thuyền cho đến khi đầy. Tất nhiên không ghe nào chở quá nhiều, vì thuyền còn phải vượt sóng về “ngoải”, dù đó là mùa biển lặng. Và khi lựa được ngày tốt hạp với chủ ghe, hôm trước hôm sau, từng chiếc một rời bến với vài ba người đứng trên bờ bịn rịn tiển đưa. Hình như có những mối tình bầu Trung bến Nam kết thành vĩnh viễn hay chỉ tạm bợ một mùa. Vĩnh viễn vì tôi biết có vài người đã ở lại Ô Môn như chú hai Lưỡng ở trọ nhà chú Ba Dảnh cạnh nhà tôi, lấy vợ rồi chọn nghề chạy xe lôi mà sống; như cô Đào ở đậu nhà tôi, ngày ngày chầm nón lá đem bán bên chợ, cho đến mấy tháng sau thì lấy chồng là chú Trứ, một anh Tàu rặt nhưng nói thạo tiếng miền Nam v.v... “Tạm bợ một mùa” vì tôi có viết dùm những bức thơ thương nhớ của người Ô Môn gởi ra Phan Thiết, hay đọc hộ vài lá thơ, từ Quảng Ngãi gởi vào. Đặc biệt, khi học thông quốc ngữ, tôi được xem một truyện ngắn của Thanh Tử trên tờ Trung Bắc Chủ Nhựt, kể một chuyện tình dang dở xảy ra bên Sa-Đéc giữa một cô gái “dưới bến” và một anh trai “trên bầu”, trong đó có hai câu thơ :
Nhưng anh còn bận tình quê cũ
Để mặt sầu em bóng lẻ trêu

Chuyện kẻ ở người đi khi ghe bầu tách bến, dù có gây chút ngậm ngùi, cũng giống như trong bài tập đọc lớp ba. Thoảng qua một đôi ngày rồi tan biến, vì tuổi thơ còn mê mải nhiều chuyện khác xảy ra trên khúc sông bình yên đó.

Ngồi trong nhà học bài, hay nằm trong mùng sắp ngủ, vẫn còn nghe được tiếng người nói chuyện trên xuồng ghe ngược xuôi qua lại dưới sông, dù nước lớn hay ròng.Vào những đêm tối trời, nhằm cơn nước ròng, lòng sông hẹp lại, thỉnh thoảng nghe vọng lên tiếng một người hô “quát” đầu này, lập tức nghe một người đáp lại “cạy” ở đầu kia. Hồi nhỏ tai tôi thính lắm, nên nghe rất rõ. Hỏi má tôi thì được cho biết là ghe xuồng đi trên sông vào lúc đêm hôm tăm tối, không thấy nhau, dễ đụng chìm xuồng, có khi làm chết người, vì bị thương hay chết trôi. Hai chiếc ghe xuồng xuôi ngược khi nghe tiếng nói chuyện, tiếng dầm chèo khuấy nước, hay thấy dạng nhau; ai thấy trước thì hô quát (hình như có nơi hô bát thì phải?) và giữ cho ghe xuồng của mình sát bờ phiá mặt. Đầu kia, đáp cạy, cốt cho biết là hiểu rồi (như đáp nhận 5/5); và cũng lái sát vào bờ bên mặt của mình. Đây là cách trao tin đơn giản của dân quê, hầu tránh tai nạn, khi có việc cần phải đi thuyền ban đêm trong sông rạch miệt Hậu giang (hay ít nhứt là vùng tôi ở như Ô Môn, Bằng Tăng, Vàm Nhon, Thới Lai, hay Sơn Trắng,Trà Nóc, Bình Thủy v.v...)

Thời tôi đi học trường quận 1938-1945, thì mỗi tuần đều được nghỉ thứ năm và Chủ Nhựt. Nhân những ngày nghỉ này, tôi thường về nhà bà ngoại tôi ở Rạch Gốc, nên thỉnh thoảng được thấy chiếc “đò đạp Sa-Đéc” theo nước lớn xuôi giòng từ ngoài vàm vào chợ Ô Môn, rồi chừng hơn một giờ sau lại xuôi theo con nước vừa ròng thì từ chợ trở ra vàm. Khoảng 8 giờ sáng thì nghe tiếng tù-và âm trầm từ xa vẳng lại. Cũng nên nói qua một chút về cây tù-và. Đấy là một dụng cụ quen thuộc trong vườn để kêu gọi nhau, khi có chuyện cần nhóm họp, hoặc kêu cứu, tuỳ theo việc huởn đãi hay cấp bách mà phát âm. Nó là chiếc sừng trâu cắt bằng hai đầu được trao chuốt trơn láng, có cái dùng quá lâu ngày thì thành bóng lưởng. Khi cần thì thường một người có hơi dài, kê đầu nhỏ vào miệng, phùng mang thổi. Âm thanh thoát từ tù-và vọng xa thê thiết u hoài. Không biết tại sao chủ đò lại dùng tù-và để gọi khách? Có thể vì không có còi tàu (súp-lê) nên dùng âm thanh tù-và gần gụi với dân quê hơn, mà nghe cũng hấp dẫn, cũng đủ thôi thúc mà cũng gợi ý kẻ ở người đi, dù giữa ban ngày? Nghe tiếng tù-và, tôi xuống đứng ở bờ sông để chờ xem đò đến. Đò là một chiếc thuyền cỡ lớn đi trên sông chở được 20, 30 người ngồi đứng tới lui trong khoang. Cuối thân thuyền (thay vì bên hông thuyền như trong các phim trên sông Hoa Kỳ), có bánh xe lớn chìm gần phân nửa dưới nước. Bánh xe có nhiều tấm ván gắn ngang. Hai người vạm vỡ hai tay níu một thanh gổ ngang, dùng chân di chuyển bàn đạp để xoay một cần trục. Họ thường mặc áo ngắn tay và quần xà-lỏn (quần đùi). Nhìn họ kéo buông đôi tay, đầu nhô lên hụp xuống, đôi chân rắn chắc nhịp nhàng bước trên những bàn đạp nhỏ, chầm chậm đẩy lui các bàn đạp về phía sau. Nhờ một hệ thống đơn giản bánh xe răng ở hai đầu trục này, mà bánh xe ngâm dưới nước xoay tròn, đưa những tấm ván quạt nước một chiều, đẩy chiếc đò đi tới (hoặc đi lui khi cần). Đò có thể ghé lại đưa hay rước khách bất cứ bến nào, miễn là có chỗ bắt đà ván dài từ đò lên bến cho hành khách xuống lên. Khi đò di chuyển có trớn, thì nước tuôn ào ào ra phiá sau lái. Đò cũng rẻ sóng mà lướt trên mặt sông, dù chỉ là sóng gợn.

Nói đến sóng trên đoạn sông này, khiến tôi lại nhớ những chiếc tàu. Thỉnh thoảng, có một chiếc tàu vào chợ Ô Môn rước hay đưa khách. Tàu nầy có súp-lê hẳn hoi, nên khi nó vừa vào khỏi vàm thì cả xóm đã biết. Đối với tôi, năm đó, chiếc tàu chở hành khách chạy trên sông là một sự việc lạ mà xa vời, thấy được nhưng không dám ước mơ sẽ bước chưn xuống đó. Tàu đi trên sông ban ngày đã là một kỳ thú, vì nó sang trọng tân kỳ quá, nó còn đùa những lượn sóng lớn dạt vào vổ mạnh hai bờ sông . Nhưng tàu chạy trên sông ban đêm lại đáng xem hơn, vì đèn đuốc trên tàu sáng choang, người đi lại trong khoang tàu lại càng rộn rịp dễ thấy, hấp dẫn hơn ban ngày.

Lâu lâu, lại có chiếc một chiếc tàu giòng những ghe chài lúa của đồn điền Cờ Đỏ từ chợ Ô Môn ra vàm để lên Chợ Lớn. Đứng nhìn chiếc tàu chạy cà xình cà xình kéo theo hằng chục chiếc ghe chài đầy lúa gạo, có giây đỏi dài nối đuôi ghe trước vào mũi ghe sau, tôi mê mẩn nhìn những người bắt ghế ngồi trên sàn trước mũi (vì khỏi phải bơi chèo), hay các bà lui cui nấu cơm chỗ khoảng sân nhỏ phiá sau (chỗ người giữ tay lái thường đứng). Tôi nghĩ suy không biết tàu theo sông rạch nào để kéo mấy chiếc ghe chài gạo lên Chợ Lớn, dù có biết tên Chợ Lớn trong bài học địa dư, và ao ước được đi một lần cho biết. Máu giang hồ trong tôi có lẽ khởi dâng từ ngày đó. Chiếc tàu giòng này hình thù quen thuộc, nó phải kéo nhiều ghe chài nặng, chạy chậm, nên sóng có lan ra cũng chỉ vổ nhẹ vào bờ. Có lần, tôi thấy chiếc tàu này chạy thật mau, rẻ nước phăng phăng, sóng dâng cuồn cuộn, làm cho những chiếc xuồng đậu dọc hai bên sông nhồi hụp lung tung, nước bị đẩy tràn lên mé. Đó là vào mùa thu cuối 1945, khi chiếc Annamite 72 của quân xâm lăng Pháp lên xuống thượng lưu Hậu -giang (do cậu Tám tôi theo kháng chiến cho biết), có hôm chạy chậm lại như muốn đậu ngoài vàm, nả vài phát đại bác thị uy, hăm doạ quận Ô Môn. Bốn năm anh kháng chiến có súng lục bên hông, súng dài cầm tay, bị đeo lưng, từ Bình Xuyên xuống, điều khiển cho chiếc tàu này xông pha trên sông Ô Môn, từ tuốt trong Rạch Phê ra vàm, diệu võ dương oai, như để trấn an đồng bào rằng: có ta ở đây, Tây không dám vào. Tôi xem chiếc tàu giòng này chạy ra chạy vào như vậy được hai ba lần, thì dân làng được lịnh tản cư!!!

Khúc sông này bây giờ sâu cạn ra sao tôi không được biết, chỉ biết nó còn tươi mát luân lưu trong giòng kỷ niệm ấu thơ của tôi với thật nhiều nhắc nhở! Còn đâu nữa thời thơ ấu của một học sinh trường tiểu học quận Ô Môn mong đến thứ năm, Chủ Nhựt để về nhà bà ngoại, chờ nước ròng lấy sào cắm sẳn xuống bãi sình, đợi nước lớn thì ráng nín hơi (tự tập) lội từ bờ ra để nắm cho được cây sào, rồi vừa vuốt mặt thở vừa cười hí hửng! Đã xa xôi lắm rồi, thời hồi cư sống phập phồng vì sợ những “thằng chổng” trôi lên trôi xuống năm bảy ngày không ai dám vớt, bởi bản án nhòe nhoẹt chữ còn máng trên cổ tử thi trôi lang thang theo đám lục bình, có khi cùng tấp vào bờ vì vướng những rể bần, bên cạnh gốc mù u! Mấy cây bần già với cây mù u lão xì vặn vẹo nghiêng nhánh ra mé sông năm xưa còn đứng đó, hay đã chết rụi lâu rồi?! Năm tháng trôi đi, nhưng kỷ niệm xa xưa còn đọng lại chưa phai!

Chừng nào thì quên được ánh trăng vàng soi bóng trên mặt sông phẳng lặng lúc đêm tàn, hay ánh nắng mai nhấp nhô theo sóng gợn khi gió đùa!? Dọc nẽo lưu vong, có hôm nhớ quắt quay tiếng chày giả gạo tay ba, từ xóm nhà bên kia sông, chốc chốc đệm thêm một nhịp nhồi kiểu cọ vẳng lên. Thỉnh thoảng, lại còn được nghe tiếng hò trên sông vang vọng trong đêm, vâng, tiếng hò của ai năm xưa đã đã lộng theo gió khuya như thiết tha mời gọi, như chứa thầm ước hẹn:
Bớ... ớ... ớ... chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Qua khúc sông này... hò ơ... bờ bụi tối tăm

và quá quắt, trớ trêu hơn, là câu hò của một khách sông hồ chừng như mệt mỏi, thành ra hơi phóng túng, nhưng trử tình biết bao nhiêu:
Hò... ơ... Gió đưa con buồn ngủ... hờ... ơ ờ... lên bờ
Mùng ai có rộng... hà ơ hờ. . .xin cho ngủ nhờ... ơ ờ... ngủ nhờ một đêm!!!



L o n g T u y ề n
11 giờ sáng, ngày 20 tháng 05 năm 2001



13021



Image


X Ó M .B À .Đ Ồ
................q u ê .N ộ i
____________________________________________________________________________



Từ Cần Thơ lên, qua khỏi chợ Bình Thủy non hai cây số thì tới Xóm Bà Đồ, nằm trải dài trên hai bên mé lộ Cần Thơ Long Xuyên khoảng ba, bốn trăm thước. Ở xa tới, dù đường bộ hay đường thủy, hể thấy vọi hai cây dương cao thì biết đó là Xóm Bà Đồ. Đi lên phía Bắc chừng 600 thước, tới Xóm Cái Sơn. Nơi đây có một ngôi chùa cổ tên Thanh Giang Tự, vì rạch Cái Sơn còn có tên Thanh Giang. Tiếp tục lên phía Bắc chừng 400 thước nữa là chợ Trà Nóc, nằm trên vàm rạch cùng tên.


địa danh Xóm Bà Đồ

Vào thập niên 1930, tôi còn nghe các bực trưởng thượng trong thân tộc truyền khẩu hai câu đối mà tôi chỉ còn nhớ được 3 vế như sau:
Thăng Long thành tiên tổ vi hoàng], tam bá tải cơ đồ tại Bắc;
Gia Định tỉnh đệ huynh đồng xữ,
(_______, tôi không nhớ được vế này)
Đại ý rằng:
Tổ tiên đời trước vốn từ thành Thăng Long, cơ đồ tại Bắc ba trăm năm
Anh em cùng nhau vào ở tỉnh Gia Định, _____________________

dựa vào ba vế đối này, tổ tiên tôi từ Bắc vào Quảng Nam trước, đến đời thỉ tổ tôi mới vào Gia Định.

Theo gia phả, ông Thỉ Tổ tôi (Nguyễn Phước Khoa) từ phủ Điện Bàn, Quảng Nam tòng vong chúa Nguyễn (Hiếu Duệ Vương và Cao Hoàng tức là vua Gia Long sau này) luân lạc trong Nam, vào thời tẩu quốc, làm quan đến chức Khâm Sai Cai Cơ. Ông được Chúa Nguyễn tứ tánh, cho theo họ Nguyễn Phước và phong tước Khoa Ngọc Hầu. Chúa ban hai chữ Ngọc Hầu sau tên ông; cũng như quan Bảo Hộ Nguyễn Văn Thoại được phong Thoại Ngọc Hầu. Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi, ông có về triều hai lần, được vua ban yến hai lần. Dấu tích còn lại của hai lần dự yến là hai cái chén sứ được thưởng cho mang về. Lòng chén tráng men trắng; quanh chén có hình giao long hí thủy (rồng giởn nước); trôn chén có in hai chữ Nguyễn Ngọc (ngọc quý của nhà Nguyễn). Sau 200 năm, một cái còn nguyên vẹn, một cái bị khờn mẻ. Cái chén bị khờn mẻ phải nạp cho một cán bộ cộng sản thích sưu tầm đồ cổ, sau trận hồng thủy 1975. Cái chén còn nguyên được giao cho con cháu cất giữ làm của gia truyền. Dấu tích thứ hai: một cái hủ sành, giống như cái nậm rượu lớn, bên ngoài tráng men đen. Đó là hủ thuốc cao do ông bà tôi ngày xưa mang theo từ “ở ngoãi vô đây”. Cái hủ này và cuốn gia phả được dấu kỷ trên đòn giông (thượng lương) nhà Bác Năm tôi, đều cùng chung số phận: cháy không còn một chút tro sau trận lính Tây bố rồi đốt Xóm Bà Đồ năm 1948.

Ông thỉ tổ tôi không theo Nguyễn Vương về đế đô, mà ở lại lập nghiệp ở cù lao Ông Chưởng. Ông mất năm 1804 và được chôn tại đây. Khoảng năm 1940, bác Năm tôi và ba tôi có lần đi thăm mộ Ông. Trên đường vào mộ, ba tôi đạp nhằm xương rắn độc, gan bàn chơn bị sưng đau phải đi cà nhắc mấy tháng trời. Ông cao tổ tôi (Nguyễn Phước Thành 1781-1826) cũng sanh trưởng và thất lộc tại cù lao Ông Chưởng. Bà cao-tổ tôi tên Nguyễn Thị Nguyệt tự Hằng Nga (1788-1850) sinh ra tại xóm quê chưa có địa danh trên Bình Thủy 2 cây số. Lớn lên, bà theo chồng (ông cao tổ tôi) về cù lao Ông Chưởng. Góa chồng năm 39 tuổi, bà ở quê chồng thủ tiết nuôi con. Sau vì hai em ruột của bà là Án Sát Nguyễn Viễn Du và Sanh Đồ Nguyễn Viễn Mô đi làm quan, tổ quán không ai coi giữ. Hai ông em đã đến nhà Cai Cơ Vĩnh Hùng Nguyễn Ngọc Bút (Bút Ngọc Hầu, trưởng tộc, cậu ruột cao tổ tôi) mà tỏ trần sự vắng vẻ, xin rước bà chị về quản thủ. Bởi cớ ấy nên bà để người con trai lớn là ông Nguyễn Văn Diệu ở lại với ông Vĩnh Hùng...chở nhà cửa gia tài và con cái về xứ mà cai quản tổ nghiệp. Về quê cũ, bà mở trường dạy học để nuôi đàn con côi. Do đó, dân làng Long Tuyền gọi xóm này là Xóm Bà Đồ. Xóm bắt đầu có địa danh và một thời từng được xem là chốn tao đàn của các bậc danh nho tại địa phương. Thời gian hưng thịnh của Tao Đàn là hồi cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa về mở trường dạy học ở Bình Thủy. Sau khi cụ khuất rồi (1872) cụ cử Phan Văn Trị ở Phong Điền vẫn tới lui với Tao Đàn. Nơi nhóm họp của các vị danh nho thuộc nhóm Tao Đàn Bà Đồ là một ngôi nhà ngói ba gian hai chái kiểu xưa, không phải gian nhà lá vẽ theo tưởng tượng trong quyển Cần Thơ Xưa và Nay của tác giả Huỳnh Minh. Quyển sách này phát hành cuối năm 1966, xóm Bà Đồ đã thành bình địa: sau mùa thu kháng chiến, bị lính Pháp đốt phá (1945-1948). Khi Việt Nam lấy lại được chủ quyền, quân đội lần lượt trưng dụng đất đai để xây cất căn cứ quân sự, nên dấu tích không còn.


Xóm Bà Đồ

Nói chung, bà con trong xóm phần đông là người miền Trung vào. Cho đến thập niên 1940, khi Dượng Mười Bằng (chồng cô Mười tôi) mở xưởng guốc sơn mài, mới mời vài ông thợ Bắc chuyên nghiệp về tiếp tay và tạm cư ở đây.

Xóm gồm khoảng 20 ngôi nhà nhỏ lớn cất dọc theo con rạch cùng tên. Nhà nào cũng có một cây cầu bắt trên mé rạch. Có nhà bắt cầu ván với bốn trụ đàng hoàng. Phần nhiều, cầu là chỉ thân một cây dừa hay một thân cây mù u có đẻo nhiều ngàm làm chỗ bám chưn, thả dài trên sình, từ bờ ra lòng rạch. Rạch Bà Đồ khởi từ vàm trổ ra Hậu Giang, uốn quanh co qua xóm, chạy dài theo lộ hơn 200 thước, rồi xuyên ngang lộ vào trong ngọn. Chỗ rạch xuyên ngang lộ là cây cầu sắt lót ván, cũng gọi là Cầu Bà Đồ, do Sở Trường Tiền cất cho xe chạy thông thương đường Cần Thơ – Long Xuyên.

Trước chiến tranh 1945, từ Bình Thủy đi lên, vừa qua khỏi chỗ quẹo thì thấy cổng của biệt thự Vĩnh Lộc nằm bên phải. Anh Hai con Bác Năm tôi, Cô Hồng Nguyễn Phước Trạch, có làm câu thơ bất tường khi biệt thự Vĩnh Lộc vừa hoàn tất: Vĩnh Lộc chắc gì Vĩnh Lộc đâu. Câu thơ này ứng nghiệm vì biệt thự này cũng không còn dấu tích.

Qua cầu Bình Thủy chừng 400 thước, tới nhà Cô Sáu Sang nằm bên phải. Từ nhà Cô Sáu Sang, đi lên khoảng 500 thước phải là bắt đầu vào xóm Bà Đồ. Bắt đầu, bên trái ba cái nhà cất liền nhau: đầu tiên của Chú Năm Nguơn (các con là Quới, Chuộng, Đa, Lầu, Các), kế đến của ông bà Bảy Chánh; sau cùng là nhà của Cô Dượng Mười tôi nằm ngay trên mé rạch. Bên phải chỉ có nhà chú hai Chức cũng nằm dựa mé rạch. Ông Bà Bảy Chánh còn nói rặc giọng miền Trung. Nhà ông bà là sòng bài tứ sắc quanh năm. Ông Bà Bảy Chánh có bốn người con. Người con cả tên Bằng tức Dượng Mười tôi. Kế đến là Cô Ba Còn, Chú Năm Nguơn, Cô Sáu Tiền (chồng là Dượng Sáu Bé, cũng người miền Trung). Trường hợp ngộ nghĩnh, khi về ở xóm Ngã Ba Thới An, nhà ba má tôi lại gần nhà ông bà Chín Huế, cũng người miền Trung, cũng chuyên chứa bài tứ sắc quanh năm.

Tiếp sau bốn nhà này là Cầu Bà Đồ.

Qua khỏi cầu, dọc mé lộ trái, lần lượt là nhà gạch nền đúc của bác năm tôi, một khu vườn cây ăn trái. Kế đến là nhà ngói ba căn rộng rãi của Chị Ba Sửu (chồng là Phạm Văn, thơ ký Sở Giây Thép, sau này gọi là Bưu Điện), một khu vườn cau và mấy chục cây dâu. Sau đó, là ngôi nhà thờ do Bác Ba trai tôi ở, đến nhà Bác Ba gái lớn, rồi đến hai cây dương đứng hai bên con đường đất dẫn nẽo vào nhà Thiếm Tư Thiện (con trai là anh Xã); Chú Thiếm Ba Ứng (con trai là Thế cỡ tuổi tôi), sau cùng là Chú Bảy Quỳnh (hậu duệ của ông Án Sát Nguyễn Viễn Du). Chú Thiếm Bảy có nhiều con: Anh Hai Nhứt, Anh Ba Hào, Anh Sáu Kiếm, Chị Bảy Hạp, Chị Tám Gấm. Ba anh lớn cất nhà ở gần đó.

Qua khỏi Cầu Bà Đồ, dọc theo mé lộ bên phải, đầu tiên là ngôi biệt thự tân thời nhứt hồi giữa thập niên 1930 của Bác Mười Thiền, thơ ký Sở Trường Tiền Cần Thơ (sau gọi là Ty Công Chánh). Kế đến là nhà Chị Hai Tý (con Bác Ba tôi, chị lớn tuổi hơn ba tôi) cất trên nền nhà cũ của Cô Chín tôi cạnh bờ ao có cây đào tiên (đã bị đốn mất). Bà con trong xóm cất nhà dọc theo bờ rạch chạy quanh co từ vàm vào ngọn: dọc bờ rạch, bên trái nhà Chú Sáu Tâm (con trai là Anh Vịnh), nhà Bác Tư Biện (anh cô cậu ruột của ba tôi), nhà Chú Sáu Ngà với hai con trai (Anh Tư Dĩ và Anh Sáu Thị). Nằm tại vàm rạch bên phải là nhà Chú Hai Hưng. Cách đó, hơn 100 thước, nơi con rạch vừa giáp bờ lộ, là nhà Ông Bà Bảy Hương (trùng tên với Bà Sáu cạnh nhà Bà Ngoại tôi ở Thới An). Ông Bà Bảy Hương có mấy người con tôi còn biết tên: Cô Tư Kiệm, Chú Năm Giảng, Cô Sáu Niệu. Ông Bà Bảy Hương có nuôi mấy con bò; ban ngày thì ông và Chú Năm Giảng gát ách đi cày, bừa, trục cho những nhà có ruộng trong làng Long Tuyền và lân cận. Chiều chiều, bầy bò được lùa vô chuồng, thả mùng xuống che quanh, rồi nổi bếp trấu ung khói bên ngoài đuổi muổi. Ở cuối ngọn rạch là nhà Ông Tư Cánh, Cô Ba Còn và Cô Sáu Tiền.

Bà con trong xóm đều làm ruộng tùy theo sức mỗi nhà (nhiều thì 50 hay 60 công, ít thì 20 hay 30 công). Hết mùa lúa, thì trồng khoai gieo đậu như nhiều nơi khác. Nhà nào cũng có một miếng vườn hoặc lớn hoặc nhỏ, trồng đủ mọi thứ rau cải và cây ăn trái. Nhiều nhà còn kiếm thêm huê lợi phụ bằng cách chất một hay nhiều đống chà dọc bờ sông cái để làm chỗ tụ cho tôm cá các loại, có khi rắn nước, đẻng (một loại rắn) cũng núp theo. Mỗi lần dở chà, ai thấy con đẻng thì sợ lắm, vì nọc nó độc, và được truyền miệng với nhau rằng: “đẻng là ngựa của Bà Thủy”.


Khu Lào Táo

Xóm Bà Đồ nằm về phía Tây sông cái Hậu giang. Bên kia sông cái là Cồn Linh. Con lộ Cần Thơ - Long Xuyên nằm song song với sông Hậu Giang và cách bờ sông này chừng hai trăm thước. Từ mé Nam vàm Rạch Cái Sơn xuống gần tới Xóm Bà Đồ, có một khu rừng hoang nhỏ chừng chục mẫu gọi là “lào táo” che một khúc bờ sông Hậu Giang. Ba tôi kể lại nhiều lần rằng: có một cặp trăn khổng lồ trong khu lào táo này. Bề to lớn của cặp trăn này được truyền khẩu như sau: khi nước ròng, lòng sông cạn bày sình bờ bên này gần đường, và bờ bên kia là Cồn Linh. Đôi trăn trườn đi từ lào táo sang cồn, để dấu trên sình như dấu hai chiếc xuồng lớn, bề ngang mỗi con ước chừng lớn hơn cái khạp da bò. Hai con trăn này có nhiều chỗ nhắc đến. Nghe đâu trong năm 1995, đài số 8 (PBS Houston), có đoạn video ngắn nói về hai con trăn lớn cở này trong Đồng Tháp Mười. Khu lào táo năm xưa, còn hoang vu, cỏ cây rậm rạp, ít người lai vãng (sau này nằm lọt vào trong khu kỹ nghệ của La Thành Nghệ dọc theo sông Hậu Giang từ Trà Nóc xuống gần Bình Thủy náo nhiệt hơn nhiều, vì chiều chiều nam thanh nữ tú hẹn nhau dọc bờ sông).

Ông Tằng Tổ (cố) tôi (Nguyễn Hữu Tình 1820-1883) và Bà Cố tôi tiếp tục gìn giữ sự nghiệp tổ tiên. Ông Cố tôi rất rành Kinh Dịch, còn lưu lại những bài do ông chú giải bằng chữ nho. Thủ bút của ông còn nằm trong tay một người cháu tên Vinh khá rành chữ nho. Vinh (lớn tuổi hơn tôi) là con Chị Hai Tý. Theo vai vế, Vinh gọi tôi bằng cậu.

Ông Nội tôi (Nguyễn Phước Dương 1851-1919) sinh ra và lớn lên trong xóm này. Ông từng là bạn đồng song với cai tổng Lê Quang Chiểu, môn đệ cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa cho đến năm 20 tuổi (1871). Qua năm sau (1872) cụ Thủ Khoa Nghĩa quy tiên. Khi gần qua đời, cụ Thủ Khoa gởi gấm ông nội tôi cho Đốc Học Nguyễn Thanh Trưng giáo huấn.

Năm 1868, Ông Đinh Sâm khởi nghĩa kháng Pháp ở vùng Ba Láng Trà Niềng rồi thất bại. Cụ cử nhân Phan Văn Trị ở Phong Điền, một văn thân kháng Pháp, làm hai câu đối truy niệm như sau:
Võ kiếm xung thiên, Ba Láng giang đầu lưu hận huyết
Văn tinh lạc địa, Trà Niềng thôn lý đái sầu nhan

Nghe kể lại: bấy giờ, cụ bị tay sai của Pháp tầm nả; nên có một thời gian ngắn, cụ rời Phong Điền về Xóm Bà Đồ lánh nạn. Ông Cố tôi đưa cụ ra trú ẩn, nấn ná trong khu lào táo. Ông nội tôi năm đó khoảng 17 tuổi, đã có dính dấp vào vụ này. Bác Năm tôi thường kể lại sự kiện trên và thêm rằng: có thể, vì nể nang Cụ Cử Phan Văn Trị là bực danh nho được trọng vọng trong vùng, nên họ chỉ tìm cụ sơ sài trong vùng Phong Điền, không thấy thì thôi. Chớ rừng hoang hơn chục mẫu nằm dọc sông cái chừng 200 thước, đâu phải là khó tìm, nếu họ thật sự muốn bắt một văn thân để lập công với Pháp.


khu Mộ Bà Đồ

Từ hai cây dương lớn đứng sững hai bên bờ đường đất vô nhà Chú Bảy Quỳnh, trở lên phía Bắc chừng 100 thước, là khu mộ tổ của chúng tôi, nằm sát đường lộ Cần Thơ - Long Xuyên hiện nay. Vào khoảng thập niên 1830, bà Cao Tổ tôi (Bà Đồ Nguyễn Thị Nguyệt tự Hằng Nga) cải táng đưa ông Cao Tổ tôi (Nguyễn Phước Thành 1781-1826) từ vàm dưới rạch Ông Chưởng về chôn tại đây.

Nghe kể lại, khi cải táng xong thầy địa lý cho biết: dù lúc đó khu mộ đang là một gò đất cao duy nhứt trong vùng ruộng sâu, nhưng về sau, có một thời nó sẽ giống như cái nghiên mực. Thầy còn ghi thêm cho khu đất này tám chữ: Phú bất quá thiên, bần vô chí đức.

Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần về quê nội đều ra thăm mộ tổ. Thấy có hai cây mai trổ hoa vàng trên đầu mộ hai ông bà Cao Tổ tôi. Hai cây mai không cao lắm cũng không có nhiều hoa, nổi bật trên khu đất vốn đã cao mà còn được dọn dẹp cỏ rậm, nhứt là vào những ngày trước Tết.

Cuộc kháng chiến 1945 làm cho Xóm Bà Đồ tiêu điều, khu mộ cũng không còn được thường xuyên chăm sóc. Bác Năm tôi (với Chị Ba Sồ Oanh và Chị Tư Thâu) và ba tôi thì tha thiết với cơ nghiệp của ông cha, nên vẫn tới lui thăm viếng quê cũ trong vùng đất độn “đậu nhiều hơn xôi” này. Thực ra, tha thiết với quê cha đất tổ có ba phần, mà tha thiết với mồ mã ông bà đến bảy phần. Năm 1962, tôi được đổi về làm đại đội trưởng Đại Đội Quân Cụ ở Cái Khế. Ba tôi và tôi xin phép và được Bác Năm tôi thuận cho làm rào quanh khu đất với cửa ra vào bằng sắt, không động chạm gì đến mồ mã.

Đầu năm 1964, tôi được Cục Trưởng Cục Quân Cụ tân nhiệm cho đi Qui Nhơn vì nhu cầu công vụ. Thời này, quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam khá đông, phi trường Trà Nóc đang cần mở mang. Liên tiếp mấy năm, điền sản của cả họ Nguyễn Phước ở Bà Đồ đều bị Khu Tạo Tác Cần Thơ trưng dụng, xây doanh trại quân sự, đặc biệt là Căn Cứ Chuyển Vận Vùng IV. Khu Tạo Tác đuổi những người còn sót lại ở Xóm Bà Đồ dời nhà đi nơi khác. Còn ra lịnh cho họ chúng tôi cải táng khu mộ này để lấy trọn khu đất. Đang ở Nha Trang, nhận được hung tin, tôi chạy về, đến gặp thiếu tá Lê Quan Phải, Trưởng Khu Tạo Tác để trình bày. Rằng: “Quân đội có nhu cầu thì trưng dụng. Cả họ chúng tôi đã bị thất tán rồi. Người sống di chuyển còn dễ, sống ở đâu cũng được. Đất đã bị trưng dụng hết rồi; bây giờ anh ra lịnh cải táng thì chúng tôi đem hàng chục bộ xương cốt ông bà cô bác chúng tôi đi đâu? Gánh họ tôi có nhiều người phục vụ đất nước: bên hành chánh cũng có, mà trong quân đội nhiều hơn, anh cũng đã biết. Anh xem lại thử, rồi chừa bớt một mẫu đất cho khu mộ tổ chúng tôi được bình yên.” Thiếu tá Phải vốn có quen trước, anh cũng là người sùng đạo, hiểu phong tục và nễ trọng mồ mã. Anh bèn chừa khu mộ tổ của chúng tôi, đồng thời đề nghị ngưng vụ bắt phải cải táng. Tôi yên tâm trở ra Qui Nhơn. Gần một năm sau, có dịp về thăm ba má tôi; tôi lại lên Bà Đồ thăm khu mộ tổ như những lần trước. Đến nơi đứng bên lề đường, ngẩn ngơ nhìn vào khu mộ tổ bị ngập nước gần bằng mé lộ. Sau cùng, tôi lội đại thử vào xem sâu cạn ra sao? Mới chừng ba bước, thì nước ngập tới bụng. Lấy cây với dò thử, thì thấy sâu cả nửa tầm. Vì Công Binh đắp đê làm ven chừa khu mộ ra, cho xáng thổi sình lên bồi mấy chục mẫu đất chung quanh để làm nền cho nhiều kho xưởng. Ba bề là đất cao do xáng thổi sình lên cho đầy bờ ven, một bề là tỉnh lộ Cần Thơ - Long Xuyên. Khu mộ biến thành một cái trủng sâu gần hai thước. Mưa luôn mấy trận, bao nhiêu nước chung quanh dồn vào khu trủng này thành cái hồ hình vuông dài một mẫu ta, chiều ngang 40 thước, chiều dọc gần 90 thước. Từ một gò đất cao nay bỗng nhiên biến thành một cái hồ chữ nhựt, quả nhiên là giống như cái nghiên mực. Tôi mang nguyên bộ đồ ướt lên xe, về thẳng Khu Tạo Tác Cần Thơ (còn ở bên kia đầu Cầu Sáu Thanh), xin gặp trung tá Phải (anh đã thăng cấp sau 01/11/1963). May mắn cho tôi, hôm đó anh có mặt ở văn phòng. Anh hỏi tôi đi đâu mà ướt loi ngoi vậy. Tôi thành thật trình bày nỗi bất mãn cũa một sĩ quan QLVNCH đang bị giao động tinh thần vì công sự của Khu Tạo Tác nhận chìm khu mộ và làm ngập nước xương cốt ông bà! Anh Phải vốn rất tốt bụng, nghe qua tự sự, cũng thông cảm với tôi. Anh kêu văn phòng mang hồ sơ lên cho anh xem; rồi hứa với tôi sẽ giải quyết vấn đề trong ba ngày. Quả thật, trưa ngày hôm sau, tôi trở lên xem thì thấy một toán Thổ Công Binh đang xẻ rảnh ngang đường lộ cho nước tháo chảy ra sông cái. Vị sĩ quan đặc trách cho biết, rảnh xẻ xong, lập tức đặt ống cống đúng tiêu chuẩn kiến tạo cho đường liên tỉnh Cần Thơ-Long Xuyên hội đủ điều kiện lưu thông cho các loại xe nặng nhẹ kể cả chiến xa, cơ giới công binh v.v... Đến đây là xong phần khu mộ có một thời gian giống cái nghiên mực, đúng như ông thầy địa lý gần 140 năm trước. May mà, xương cốt ông bà tôi dưới mộ chỉ bị cầm thủy trọn một mùa mưa mà thôi.

Về tám chữ: Phú bất quá thiên, bần vô chí đức của ông thầy địa lý ghi cho cuộc đất khu mộ, đại để nghĩa là: “Giàu không quá ngàn; nghèo không cạn đức”. Ông không cho biết là ngàn gì! Ngàn mẫu đất? Ngàn lượng vàng? Ngàn quan? Ngàn hộ (ngôi nhà)? Có điều chắc chắn là cả họ Nguyễn Phước gốc Bà Đồ, ở hoạn lộ hay thương trường, người thành công dù được giàu có (phú) cũng chỉ ở mức trên trung bình (bất quá thiên = không quá một ngàn). Ngược lại, kẻ thất bại sa cơ, lâm cảnh truân chuyên lưu lạc, trăm nổi ngàn chìm ở xứ người, cam chịu túng thiếu nghèo khó (bần) ở quê nhà, cũng không tới mức cạn đức của ông bà để lại (Vô chí đức = không tới mức cạn hết đức).

Theo bác Năm tôi và ba tôi kể lại: Ông Nội tôi từng theo văn thân chống Pháp, nhưng thất bại may mà không bị bắt, cũng khỏi bị thương vong. Ông theo học với cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa cho đến năm 20 tuổi thì thôi học về lập gia đình. Nhưng số ông lận đận phải tục huyền ba lần. Ông buồn gia thất, có bài vịnh rằng:
Hai vợ tầm tiên, một vợ đi.
Nợ duyên duyên nợ, nợ duyên gì?
Duyên xưa vắng vỏi ra duyên cũ!
Nợ cách xa xuôi hoá nợ lỳ!
Chích gối năm canh đau tử biệt!
Mỏi trông ngàn dặm tức sanh ly!
Mẹ già con dại nhà hiu quạnh!
Lấy rượu làm khuây uống ít bì!


Ông còn có bài thơ Con Tôm:
.................................
Mang gươm giữ thế chơi sông rộng
Mặc giáp che mình ẩn vũng sâu
Kẹp chắc chi sờn cơn sóng gió
Bắn lùi ra khỏi chỗ chài câu
.................................
Thà chịu còng lưng chẳng cúi đầu

để nói lên chí khí bất khuất của ông. Theo Bác Năm tôi và ba tôi kể lại: Ông nội tôi không cam tâm khuất phục ngoại bang, nên thường hội họp cùng các chí sĩ tiếp tục mưu toan kháng Pháp. Mỗi năm nhà có Giỗ Chạp, ông mượn cớ này để họp bằng hữu. Ban ngày thì cùng nhau thù tạc, bàn luận văn chương vịnh ngâm thi phú, vì Tao Đàn Bà Đồ vẫn tồn tại từ lâu ở vùng này. Nhưng đến đêm, quý vị cùng nhau luyện tập võ nghệ chờ ngày khởi lên đánh Pháp. Hỡi ơi! côn quyền đao thương chẳng thắng được súng ống của đội quân viễn chinh Pháp, dù thời đó họ chỉ có những cây súng "chọc xoài" hoặc mousqueton cổ lổ.

Nghe kể lại, sau lần thua cuối cùng ở đồn Sa-Đéc, ông thất chí nằm nhà, dốc túi dạy chữ nho cho ba tôi, vì ông sợ dạy không kịp và thường than cha già con muộn. Ba tôi là nạn nhân của cuộc dạy rút này: ông dọn bài mà không thuộc thì ông trở ống vố khỏ đầu ba tôi.

Thời đó, làng Long Tuyền khuyến khích học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Như trường hợp ông Cả Nhứt là một trong những người theo tân học đầu tiên, ông đậu bằng cao học thương mãi ở Pháp. Khi thành tài về nước, đứng đầu chi nhánh ngân hàng Đông Dương tại Cần Thơ. Vì muốn xây dựng thôn xã sinh quán, ông nhận đứng ra làm Hương Cả, mời những vị cùng trang lứa tân học đảm nhiệm Ban Hội Tề trong làng. Do đó, mà làng Long Tuyền có một thời hưng thịnh, được thực dân nể nang, không chen lấn hay dòm ngó gì vào nội bộ Ban Hội Tề.

Bác Ba tôi cũng thuộc hạng thức thời, nên cho con trai lớn của bác (anh Năm Liệp) theo học chữ quốc ngữ và chữ Pháp sớm. Bác trình và nhắc Ông Nội tôi:
- Cả (danh xưng của Ông Nội tôi trong nhà) nên cho chú út đi học trường Bình Thủy; con cho thằng Liệp vô trường rồi.
- Con mày; mày cho học sao thì cho. Con tao, tao dạy nó học chữ nho.


Cùng tuổi Mậu Thân (1908), mà anh Nnăm Liệp theo học chữ Tây sớm, sau đậu bằng Thành Chung, rồi thi Thơ Ký Chánh Phủ (Sécrétaire du Gouvernement) làm công chức thăng huyện khi hưu trí. Còn ba tôi đến năm 11 tuổi, sau khi ông nội tôi qua đời, mới bắt đầu vào lớp chót trường tiểu học Bình Thủy. Do ông đốc học Cao hiểu rõ hoàn cảnh, cho ba tôi theo học hết ba năm trong quyền hạn của ông. Nhờ đó, ba tôi thông thạo quốc ngữ và một ít chữ Pháp, đặc biệt ông viết chữ rất đẹp. Nhưng vì học trễ như vậy, nên ba tôi không được dự thi lên học tiếp lớp nhì một năm (Cours Moyen 1ère Année) tại Cần Thơ, bởi chương trình giáo dục thời đó bị Pháp kiểm soát, đặt những hạn chế tuổi tác rất gắt gao. Ba tôi rất tinh thông chữ nho, rất rành tánh dược, có chẩn mạch hốt thưốc bắc cho bệnh nhân trong thân bằng quyến thuộc, nhưng ba tôi không chịu xướng danh làm thầy đông y. Ba tôi có học bộ mạch để chẩn biết bịnh chữa được hay không chữa được. Và khi biết bịnh không chữa được thì ông thẳng thắn từ chối, không ra toa, mà khuyên nên sớm tìm thầy khác đừng chần chờ. Khi bị ba tôi chê rồi, thì thường thường bịnh nhơn chỉ còn chờ ngày!!! Trong chỗ thân thiết, ba tôi còn cho biết khoảng tháng nào thì "nhập quan", để gia đình chuẩn bị cho khỏi bối rối. Do đó, những người tin dị đoan trong làng, rủi trong nhà có bệnh nhân, không dám nhờ ba tôi xem mạch. Có lần tôi hỏi ba tôi bộ mạch gì mà lạ vậy. Ba tôi bảo đó là bộ mạch đòi ăn đồ cúng. Tôi càng tò mò hơn hỏi bộ mạch sao mà tên kỳ cục. Ba tôi cười: Nó là bộ mạch Thái Tố. Bộ mạch này có dạy cách chẩn bệnh và cúng kiến liên quan đến phần âm. Như mạch như thế này thì mắc bà thủy (đàng dưới), mạch như thế kia thì mắc bà thượng động (đàng trên), mạch như thế nọ thì mắc quan cựu trào (đàng binh). Con nghĩ coi, nếu ba nói bệnh này phải cúng gà, bệnh kia phải cúng vịt, bệnh nọ phải cúng tam sên hay cúng heo v..v..thì có phải là bộ mạch 'ăn đồ cúng' không? Ba quyết không đi con đường này, bởi rất tổn âm đức, dù kiếm ăn rất khá. Ngoài ra, ba tôi thường nhắc cho tôi câu: Nhứt thế y, tam thế suy. Nhứt thế lại, tam thế bại và giảng rằng: Một đời làm thầy thuốc (vô tâm bất lương), ba đời con cháu phải chịu suy tàn. Một đời làm quan (bất minh, bất liêm), ba đời con cháu phải chịu lụn bại. Ngụ ý rằng: Ông cha làm mà con cháu phải chịu, vì khi hành nghề đã làm những chuyện tổn âm đức. Do đó, ba tôi không làm thuốc đông y theo lối chẩn mạch cho toa lấy tiền, hoặc hốt thuốc thang, hay chế tán tể cho thân chủ rồi tính giá cao. Tuy nhiên, ba tôi rất tận tâm: chẩn mạch, nhận tiền đi hốt thuốc dùm hầu chọn đúng thuốc tốt, chỉ cách sắc thuốc và theo dõi bịnh tình cho đến khi lành. Dù mát tay, nhưng chuyên làm công không quanh năm, nên vẫn nghèo. Ngoài việc chửa trị các bịnh thông thường, ba tôi còn có toa thuốc để giúp những người đàn bà hiếm muộn sanh con, nhưng ít phổ thông vì thang thuốc cần các chủ vị mắc tiền như sâm, nhung v.v... và cách chế rất công phu biến thang thuốc này thành tể; tức là tùy theo vị thuốc mà tẩm (ngâm), sao, phơi nắng phơi sương, sấy, tán, nhồi với đường hay mật, rồi vò viên bằng ngón tay cái, cho uống dài hạn có khi vài tháng hay nửa năm. Tôi có dự vào việc tẩm, ngâm, sao thủy thổ vài vị thuốc trong thang này. Khi còn nhỏ, ở quê nội, đêm đêm tôi nghe ba tôi đọc sách thuốc. Ông đọc rất nhiều nhưng bây giờ tôi chỉ còn nhớ có ba chữ "...tỳ tịch tỳ" trong một đoạn nào đó. Tôi thực là thằng con bất mục, không theo nghề của cha, bỏ học nho, không học thuốc, mà lại đi theo võ nghiệp của Thỉ Tổ. (Tôi nhập ngũ từ tháng 9 năm 1952).

Trở lại ngôi nhà thờ quê nội của tôi ở Bà Đồ, cách Bình Thủy chừng 2 cây số, dưới Trà Nóc chừng 1 cây số. Đây là một ngôi nhà nền đất, ba căn, lợp ngói đỏ, vách ván. Mặt tiền quay về hướng Đông, nhìn ra đường lộ cái đi Cần Thơ - Long Xuyên. Dọc bờ lộ có một hàng xoài, đến mùa trái rất sai. Sau một trận gió lớn, thì tôi thường ra dọc lộ lượm xoài. Lượm vì tôi thích làm như vậy, chớ không ăn được bao nhiêu vì xoài chua quá. Trong một góc sân gần chái phía tây có một cây quế gốc lớn bằng vòng tay ôm của trẻ con. Mỗi năm lột vỏ một đoạn trên thân cây theo nhu cầu dùng quế trong nhà. Từ lộ cái vào nhà, là con đường đất hai bên trồng bông phấn ba màu vàng trắng đỏ. Giữa nhà treo một cái đèn có khung sắt tạc hình ba con khỉ đở cái chụp bằng kiến trắng. Đêm về, đèn được thắp lên toả ánh sáng cho cả nửa gian nhà trước. Bà nội tôi thường chỉ cái đèn bảo rằng: Sau này bà chết, thì cái đèn này bà để cho con. Bà chỉ có mình ba tôi là trai, nên bà rất thương hai đứa cháu nội. Bà thường ẳm Điểm và dắt tôi ra sân, ngồi dưới mái hiên trước, có bóng một cây nhãn lão che mát. Bà hay chăm sóc cây nhãn nầy, đến mùa nhãn có trái thì bà bảo ba tôi đan giỏ bọc những chùm nhãn lại kẻo chim hay dơi ăn hết. Tôi có thấy nhãn trong giỏ, nhưng chưa kịp được ăn, thì bà nội tôi quy tiên.

Sau đó, má tôi đùm túm đưa ba anh em tôi về tá túc bên ngoại, vì ba tôi rời xóm đi tìm việc làm. Thời kỳ này, Sở Trường Tiền đang xây cất cầu Cái Răng. Ba tôi vào đó, ở đậu nhà Bác Ba Cự, lãnh làm cặp rằng (có thể phát âm theo chữ corporal) trông coi dân phu đắp đất mang cá hai đầu cầu.

Từ bấy, thỉnh thoảng chúng tôi mới được ba tôi đưa về thăm quê nội. Thường thì mỗi năm được một lần, vào dịp đám giỗ Bà Nội của tôi. Rời Xóm Bà Đồ, anh em tôi không còn chiều chiều đi bộ lang thang dọc trên con lộ cái lúc ấy vắng xe bộ hành Cần Thơ - Long Xuyên. Không còn dịp nhìn hàng trăm bông dầu, bông sao khô rụng, vừa bay vừa xoay tròn theo gió, từ trên cao đáp xuống mặt đường, lên đám cỏ bên lề. Không còn những dịp thủng thỉnh đi bộ từ hai cây dương, dọc xuống phiá cây cầu sắt. Không còn dịp ngừng lại một chút trước nhà cô chín tôi, chỗ cái ao cạn đầy tăm cá, nhìn những chùm trái sai hoằng nhánh của cây đào tiên mọc hoang. Đào tiên gì mà kỳ cục: trái tròn, vỏ cứng, đem đập bể ra thấy ruột màu trắng có hột như hột bầu, nhưng có mùi hôi khó tả. Vì tên nghe đẹp, khi có trái xem cũng hay hay, cây nầy đứng cạnh bờ ao được ít lâu, rồi phải đốn bỏ. Không còn những lúc nhẩn nha ngừng lại một chút bên cạnh bụi bứa rừng mọc ngay ven đường mà cũng là bờ rạch. Ngắt vài lá bứa non, nhai chơi cho vui miệng: lá bứa non chua chua ngòn ngọt không phải ngày nào cũng có. Đi xa xuống chút nữa, đến ngang nhà Bác Năm tôi, leo lên cây cầu ván có lan can (bắt ngang con rạch) nối liền biệt thự "lộng lẫy" của Bác Mười Thiền vào lộ cái. Tại đầu cầu này, một buổi trưa, tôi thấy một người đờn ông và một cô con gái nhỏ đạp xe máy (xe đạp) từ Cần Thơ lên, chầm chậm chạy ngang qua xóm. Cô con gái nhỏ hơn tôi, nhưng đã biết đạp xe máy hồi đó là điều khiến tôi phục lăn rồi không thể quên được. Tôi đâu có biết rằng được thấy thoáng qua cô gái nhỏ lần đó là khởi duyên tiền định cho cả một cuộc đời.

Cuối năm 1945, khởi đầu Nam Bộ kháng chiến, tuy không là đảng viên cộng sản, nhưng nhờ chút vốn chữ nghĩa (Nho, Việt, Pháp), có uy tín trong hai xóm, ba tôi được cử làm chánh trị viên của đội võ trang nhận nhiệm vụ giữ khu Bà Đồ -Cái Sơn. Ba tôi giữ gìn không cho ai lạm dụng gây thiệt hại cho bà con xóm giềng tản cư vắng mặt. Vì tận tụy gìn giữ tài sản cho bà con trong xóm, ba tôi bị Việt minh gây nhiều khó khăn, đành phải lìa xóm Bà Đồ lánh nạn.
Năm 1946,khi thực dân Pháp trở lại, nhà cửa trong xóm còn nguyên vẹn. Mãi đến năm 1948, vì ở vùng ít xôi nhiều đậu, Xóm Bà Đồ trở thành bất an: ban ngày thì lính partisans hay lê dương Pháp ruồng bố, ban đêm thì Việt minh làm chủ. Dằng co được vài tháng, sau những đợt mấy cây sao, mấy cây dầu, mấy cây dái ngựa rồi tới hai cây dương lớn tuổi bị kháng chiến hạ nằm ngang lộ để chặn xe thiết giáp mở đường mỗi sáng, có lần lính partisans bị phục kích trên chặn đường Bình Thủy Trà Nóc, quân Pháp ra lệnh đốt Xóm Bà Đồ, đuổi hết dân cư ra chợ. Nguyên gánh họ của tôi đều tản cư xuống Bình Thủy, đi Cần Thơ hoặc lên Sài Gòn. Thực là oái oăm mà cũng là oan nghiệt. Ông nội tôi không chịu theo Pháp, chỉ 26 năm (1919-1945) sau khi ông mất, khu Bà Đồ mà ông thừa hưởng của tổ tiên rồi góp công gầy dựng, lại bị tay của giặc Pháp mà hoang tàn. Con cháu ông cũng chia làm hai phe: một nhóm nhỏ lâm vào thế kẹt theo luôn kháng chiến, một số nhiều dứt khoát không chịu theo kháng chiến, về sống trong vùng quốc gia.

Nguyên gánh họ của tôi ở Bà Đồ là nạn nhân trực tiếp của cuộc chiến thê thảm kéo dài 30 năm (1945-1975). Các ngôi nhà trong xóm đều thành tro than, hoặc phải dở xuống và dời đến những khu do quân đội Pháp kiểm soát gần chợ Bình Thủy. Dù có nhiều lần, bà con tôi liều mạng hồi cư, mong cố gắng xây dựng lại nếp sống bình thường của Xóm Bà Đồ, nhưng chỉ cố gắng dựng lại được vài ba ngôi nhà lụp xụp tạm bợ ít lâu, rồi những biến cố khác xảy ra, lại bị tàn phá tan hoang và sau cùng đất đai bị QLVNCH trưng dụng, bị ép buộc dời nhà xuống chợ, hay đi lập nghiệp ở nơi khác.

Mấy năm sau cùng của cuộc đời, ba tôi thường nhắc chuyện cũ Xóm Bà Đồ. Và thường ngậm ngùi kết luận bằng câu: Bây giờ cả Xóm Bà Đồ đã bị tụi Tây nó đốt cháy rụi. Bà con xiêu lạc, cảnh vật cũng đổi thay hết, như ông bà ngày xưa vẫn nói 'Tam thập niên nhứt biên'. Chỉ còn khu mộ tổ là dấu tích lưu lại, cho con cháu sau này biết có gốc mà tìm về!



L o n g T u y ề n
Khởi từ năm 1996
Duyệt lại xong 08 giờ 30 sáng, ngày 17 tháng 11 năm 2005


13046



X Ó M .B À .Đ Ồ
.......q u ê .N ộ i . 2 .
____________________________________________________________________________



Theo lời ba má tôi kể lại, tôi mới biết bò khi ba má tôi đi làm ruộng khoáng trong vùng Cờ Đỏ. Có hôm ba má tôi ra làm ngoài đồng, bỏ tôi trong chòi một mình. Chòi cất sơ sài để tạm che mưa nắng qua mùa. Má tôi để tôi trên chiếc chỏng tre rồi buộc chưn tôi bằng một đầu chăn tắm, đầu chăn kia buộc vào vách chòi. Tôi chỉ bò loanh quanh trong tầm dài của cái chăn tắm. Tôi không rõ tại sao gọi là chăn, khi nó chỉ lớn bằng một cái khăn, loại khăn vải dệt bằng sợi thô hai màu mà dân ruộng thường quấn cổ như một thứ trang sức với nhiều công dụng: làm khăn vấn đầu, làm chăn tắm, làm chăn đắp. Đôi khi buộc thắt nút một đầu để làm roi đánh chó, làm vũ khí khi cần ăn thua với người khác. (Ai thấy ông Hoàng Cơ Minh vào những dịp đại hội vận động đồng bào ở hải ngoại hẳn thấy ông thường vấn chiếc chăn này quanh cổ). Cuối tầm tôi bò được là một cái thùng thiếc đựng thịt trâu kho mặn, mỗi cục cỡ cườm tay tôi. Thời đó ít ai ăn thịt trâu, bởi trâu là một trong tam yểm của nhà Phật (trâu, chó, nhạn đều phải kiêng). Sở dĩ tôi được ăn thịt trâu sớm như vậy, chỉ vì trong khu ruộng của đồn điền Cờ Đỏ có con trâu sụp hầm lọi chưn. Trâu bị lọi chưn thì không cày được nữa. Không có thú y, cũng không có hội bảo vệ thú vật như xứ văn minh, dân ruộng ở Cờ Đỏ hồi đó cũng trọng trâu như như cao bồi ở Texas trọng ngựa thời lập quốc. Tuy nhiên, trâu không cày được thì vật dưỡng nhơn; những người dám ăn thịt trâu xúm lại làm thịt rồi chia nhau. Ba má tôi theo đạo Phật kiểu Tam Giáo đồng tôn, không câu chấp lắm. Nếu có chỗ nào đó trong sách đã ghi câu: tru bạch mã tế thiên, sát hắc ngưu tế địa; thì đã giết để cúng tế được, tất ăn cũng được. Tôi đã mọc răng, có thịt trâu đầy thùng ở đầu kia cái chỏng, cứ đói thì khóc rồi bò vòng vòng gặp thùng thịt trâu thì cứ quơ đại, đụng cục nào lôi cục đó ra mà nhai, cho đến khi má tôi từ ngoài ruộng trở về chòi. Như vậy, khẩu nghiệp của tôi phạm giới rất sớm, khai mào cho những phạm giới khác về sau này. Ba má tôi theo việc ruộng nương lây lất như vậy để chờ mùa lúa chín. Nhưng thời vận của ba má tôi hồi đó chưa khá, năm đó lúa thiếu nước, bị tiêm trổ toàn bông lép. Nhắm thế không xong, ba má tôi tom góp các món cần thiết mang đi được lên xuồng nhỏ, nửa đêm lặng lẽ bỏ chòi và các thứ còn lại, bơi xuồng về xứ, tức là về xóm Bà Đồ. Rồi má tôi về nhà nhà thương Ô Môn sanh Điểm hồi nào tôi không nhớ. Tôi chỉ nhớ rằng gần ba tuổi, thì tôi ẳm Điểm như mèo tha dưa cải, theo lời má tôi và hai cô ruột của tôi kể lại. Và trưa trưa hoặc khi má tôi bận việc, thì tôi nắm võng hát u ơ, đưa Điểm ngủ. Một chút để nói rõ rằng Điểm đáng lẽ phải mang tên là Nguyễn Phước Điểm tự Thành Điểm, khi lập khai sanh như trong tờ giấy mà ba tôi ghi sẳn cho má tôi mang về Ô Môn vào nhà thương quận chờ ngày đập bầu. Thế nhưng cũng do má tôi kể lại, khi ra khỏi phòng sanh, thì má tôi mê mệt. Bà mụ duy nhứt của nhà thương là người mau mắn, muốn làm cho xong thủ tục, để còn rảnh rang lo việc khác. Sau đây là mẫu đối thoại ngắn (vẫn do má tôi kể lại) giữa má tôi và bà mụ Nhựt:
- Cha đứa nhỏ họ gì?
- Dạ, họ Nguyễn.
- Cha đứa nhỏ tên gì?
- Dạ, tên Đoan. (nhưng nói không sửa giọng nên nghe ra thành Đang)
- Tên họ mẹ đứa nhỏ?
- Dạ, Hà Thị Thiều.
- Đặt tên đứa nhỏ là gì?
- Dạ, ba nó có dặn mà bây giờ tôi quên mất!
- Thôi, sanh ban ngày đặt tên là Nhựt như tên tui, chữ lót thì nam Văn nữ Thị, như thiên hạ cho rồi!

Nói tới đâu bà viết tới đó, không hỏi tới hỏi lui gì hết. Khi má tôi sửa soạn bản khai sanh của Điểm đem nộïp vào trường tiểu học Ô Môn, tôi đã học gần xong lớp Dự bị. Tôi đọc thấy như sau:
Tên họ đứa nhỏ: Nguyễn Văn Nhựt (thay vì Nguyễn Phước Điểm)
Tên họ cha: Nguyễn Văn Đang (thay vì Nguyễn Phước Đoan)
Tên họ mẹ: Hà Thị Thiền (thay vì Hà Thị Thiều, chắc do ông thơ ký sổ bộ đời làng Thới Thạnh năm đó đọc chữ Thiều do bà mụ Nhựt viết tháo nên chép Thiều thành Thiền chăng?).

Bởi ba má tôi không có điền sản, nên cứ để như vậy không ai thắc mắc gì. Vả lại, nếu muốn sửa đổi khai sanh thì phải xuống Tòa Án Cần Thơ, chịu tốn hao nhiều thứ, nhứt là ba má tôi e ngại vẫn không muốn vô phúc đáo tụng đình. Dù rằng nay đã hơn 72 tuổi, Nhựt là tên trong giấy tờ và lúc phục vụ trong hải quân hơn 20 năm, nhưng đối với bà con cô bác ở Bà Đồ, nhứt là đối với mấy đứa cháu phía bên nội, Nhựt vẫn là chú ba Điểm, hoặc cậu ba Điểm cho đến bây giờ. Tôi với Điểm sống ở quê nội không được bao lâu, thì má tôi có trục trặc với hai cô tôi (chị chồng em dâu đúng theo truyền thống), nhứt là với cô chín tôi. Vì vậy, có khi mới quá nửa đêm, má tôi đã lo thay áo quần cho tôi và Nhựt để má tôi dẫn chúng tôi về quê ngoại trong khi tôi chỉ muốn được yên thân ngủ nghê cho sướng. Vì, đối với tôi, bên ngoại cũng như bên nội, ở đâu cũng vậy thôi, nơi nào cũng vui cũng buồn tùy lúc. Nhưng dĩ nhiên má tôi dẫn chúng tôi đi đâu thì chúng tôi theo đó. Sáng ra, má tôi đã dẫn 2 đứa tôi ra cạnh đường lộ đi Ô Môn đứng chờ đón xe "bộ hành" (xe đò bây giờ). Gần trưa, mới có xe từ Cần Thơ ló dạng. Khi lên xe, thì má tôi ngồi trên băng cây và ẳm Nhựt, còn tôi thì đứng suốt đoạn đường gần cả tiếng đồng hồ. Xe đò đưa hành khách thời đó chạy cà rịch cà tang, nên tôi có thể nhẩn nha nhìn ra hai bên đường, nếu may mắn gặp lúc xe bị thưa khách các ghế gần cửa sổ đều còn trống. Đó là điều thú vị, vì mọi cảnh vật hai bên đường thay đổi, đều mới lạ dưới con mắt tò mò của trẻ thơ. Về bên ngoại ít lâu, thì ba tôi lại lên đón chúng tôi về xóm Bà Đồ, vì bà nội tôi nhớ chúng tôi.



L o n g T u y ề n
Khởi từ năm 1996
Duyệt lại xong 08 giờ tối 04 tháng 11 năm 2005



13094



Image


N H Ậ P .H Ọ C .( 1 9 3 8 ) .
____________________________________________________________________________



Rời quê nội, chúng tôi về tá túc ở quê ngoại từ năm 1937. Năm ấy, tôi hơn 5 tuổi tây nhưng chưa mảy may biết gì về hoàn cảnh khó khăn của má tôi. Ba tôi vẫn đi làm ở Cái Răng. Má tôi loanh quanh giúp bà ngoại tôi những việc lặt vặt trong nhà. Cậu Bảy tôi lớn hơn tôi 12 tuổi (17 tuổi). Cậu Tám tôi lớn hơn tôi 9 tuổi (tức 14 tuổi). Ông ngoại tôi đã rời nhà, xách giỏ thuốc cao đơn huờn tán, phiêu lưu khắp nẽo lục tỉnh Nam Kỳ. Nhà túng thiếu, vì ruộng bị cầm cố, bà ngoại tôi, má tôi, dì Sáu tôi phải đi "mót lúa" nơi các thửa ruộng quanh làng, để sống lây lất chờ hết hạn kỳ, đến ngày lấy lại sở ruộng biền hơn 3 mẫu ở kinh Giáo Dẫn, hòng thâu "lúa ruộng". (Những việc trên sau này lớn lên, lắng nghe bà ngoại tôi than thở chuyện cũ, kể lại mới biết rõ). Một hôm, má tôi và dì Sáu tôi bưng dừa khô và trầu ốp vào bán trong chợ quận, cách nhà ngoại tôi chừng hai cây số. Phải đi sớm, để tìm dành được chỗ ngồi tốt trong phiên chợ, mặc dù sau đó vẫn phải đóng “tiền chỗ” cho biện chà thâu hoa chi. Má tôi vá dì Sáu tôi dẫn tôi đi theo, khi trời còn khuya. Sương mỏng còn giăng trên ngọn cỏ, trăng vàng còn treo trên rặng bần và mù u dưới bến. Nhằm đêm nước rông, sông đầy tràn lên hai mé bờ. Trăng tròn xế phía Tây, rải màu vàng lung linh trên mặt sông. Khi qua Cầu Trắng, tôi e dè đặt từ bước chưn trên từng thanh đà cây, sợ lọt chưn vào khe giữa hai cây đà. Tôi càng ngán hơn nữa khi nhìn xuống các khe ván cầu, thấy nước chảy cuồn cuộn dưới chưn. Lúc qua cầu Ông Cả Được thì chưn tôi đã dạn dĩ hơn không ngập ngừng sợ sệt nữa.

Vào đến chợ thì vừa tưng bửng sáng, tôi ngồi sau lưng má tôi và dì tôi tha hồ nhìn ngắm, vì cái gì cũng mới lạ. Khi bán được một số dừa khô và trầu ốp, dì Sáu tôi tiếp tục ngồi tại chỗ lo buôn bán, còn má tôi dẫn tôi đi quanh chợ mua các thứ cần dùng. Đến chỗ bà bán “bún nước lèo”, má tôi mua cho tôi một tô. Bà rải một nhúm bắp chuối xắc mỏng trộn vài cọng giá sống chen vài miếng tía tô xắc nhỏ dưới đáy tô, xong gắp một đủa đầy bún để lên trên. Bà để đủa xuống, lấy cái vá múc trong nồi một vá nước lèo đổ vào tô. Xong bà dùng vá vớt thêm hai miếng tôm với ba miếng cá bằng ngón tay đổ vào tô bún. Bà lại lấy cái cống nhỏ làm bằng trái mù u khô, múc chút ớt đỏ chế sương lên trên. Bà đưa cho tôi một đôi đủa, xong bà đưa tô bún, mà tôi theo dỏi bằng mắt nảy giờ. Lần đầu tiên ăn hàng giữa chợ, và cũng là lần đầu tiên ăn “bún nước lèo” vừa mắc cỡ vừa ngon miệng vô cùng. Má tôi đứng nhìn tôi ăn miệng mỉm cười, trông má tôi bấy giờ thật đẹp. Lúc ấy, tôi chỉ lo ăn cho sướng miệng, không biết tại sao má tôi không ăn như tôi. Mãi đến sau này, tôi mới hiểu, và ngay khi ghi lại những giòng này tôi không cầm được nước mắt. Ôi! Tình mẹ thương con! Chỉ muốn chăm chút cho con! Khi tôi ăn xong, má tôi trả một xu cho bà bán bún, rồi dẫn tôi đi qua chỗ khác. Đến ngang chỗ bán nồi đất, cà ràng, v..v.. vì lối đã chật, lại thêm bị chen lấn, ống quần bà ba lượt bượt của tôi vương vào một cái vòi siêu mà tôi không biết. Tôi bước đi, ống quần lôi luôn cái vòi siêu đi theo, làm cái siêu ngả ngang gảy một khúc chỗ tay cầm. Cô bán đồ đất nghe tiếng siêu ngả quay lại hỏi ai làm ngả gảy cán siêu. Tôi đứng lại nói: "Tại ống quần tui kéo ngả, chớ tui không có làm". Cô cười ngất. Má tôi phải móc túi lấy ba xu ra đền, xong kéo tay tôi đi. Đi chừng ba bước thì cô bán đồ đất kêu má tôi trở lại. Tôi sợ quá chắc má tôi phải đền thêm. Đợi một chút thì má tôi trở lại một tay cầm cái siêu gảy cán, nắm tôi dẫn đi. Tôi hỏi: “Có sao không má?” Má tôi nói nhỏ: “Cổ đưa lại má ba xu, và cho con cái siêu gảy cán, còn dặn má ráng lo cho con ăn học. À, mà hồi nảy sao con không chối là không phải con làm.” “Con làm sao dám chối, vì ống quần con kéo vòi siêu rõ ràng mà má.” Má tôi chỉ cười cười rồi dẫn tôi trở về chỗ dì Sáu tôi bán, thì dừa khô và trầu ốp đã gần hết. Má tôi nói chuyện với dì Sáu tôi sao đó, dì Sáu tôi vò đầu bảo rằng: “Lần sau dì không dẫn cháu đi chợ nữa, vì e dì không có tiền đền”. Tôi chỉ mừng ở chỗ má tôi khỏi bị đền ba xu hôm đó, chớ không hiểu tại sao mà tôi khỏi bị rầy. Cho đến bây giờ kỹ niệm ống quần kéo gảy cán siêu và ăn bún nước lèo ngoài chợ vẫn còn làu làu trong trí nhớ. Sau này tôi ăn rất nhiều tô bún với rất nhiều thịt cá, tôm cua, đủ thứ gia vị ở các tiệm quán, nhà hàng, nhưng không bao giờ có một tô bún nước lèo thứ hai ngon như vậy trong "60 năm cuộc đời"!!! Và mỗi lần thấy cái siêu đất, tôi lại nhớ cái siêu gảy cán ngày xưa.

Vì trong nhà túng thiếu, bà ngoại, má và dì tôi bàn phải tìm cách kiếm thêm tiền để sống. Cậu Bảy tôi đã đậu bằng Sơ Học năm 1932, có đủ điều kiện đứng ra mở lớp dạy riêng, nhận các trẻ trong làng từ bắt đầu tập viết tập đọc cho đến các lớp năm (Đồng Ấu) lớp tư (Dự Bị) lớp ba (Sơ Đẳng), có dì Sáu, cậu Tám tôi phụ giúp. Nhà ba căn rộng rải, bà ngoại tôi chia hẳn căn phía Đông làm phòng học.

Mỗi sáng, chừng 15 học trò trai gái từ 6, 7 tuổi đến 9, 10 tuổi tề tựu quanh một cái bàn dài. Cậu Bảy tôi bắt đầu dọn bài thuộc lòng, sang qua dạy toán, kế đến đọc dictée (ám tả, sau này đổi lại là orthographe, chánh tả). Tôi xẩn bẩn gần đó, ôm cột đứng lắng nghe, nhìn ngắm các anh chị học và phục họ vô cùng. Cậu Bảy tôi thường lấy những bài từ trong ba cuốn quốc văn giáo khoa thư đọc ám tả cho từng lớp. Tôi thích nghe đọc đi đọc lại hai bài "ngươi Thừa Cung" (chăn heo mà ham học) và bài "ông Châu Trí" (quét lá đốt lửa thay đèn để đọc sách). Có hôm tôi nói với cậu Tám tôi rằng tôi muốn học như các anh chị. Tôi không dám nói với cậu Bảy tôi vì cậu Bảy nghiêm nghị, tôi ít dám lại gần như cậu Tám tôi. Có lẽ cậu Bảy tôi thấy tôi cũng gần đủ sáu tuổi, sắp phải đi học ở trường, nên cậu chịu cho tôi được ngồi vào bàn chung với các anh chị. Tôi bắt đầu "đi học" từ ngày đó.

Tôi tập đánh vần và tập viết. Cậu Bảy tôi viết chữ bằng viết chì cho tôi đồ lại như các anh chị khác, đồng thời tập đánh vần xuôi rồi vần ngược. Tôi chăm chú nghe không những các bài của tôi, mà còn hay lắng nghe những bài khó hơn của vài anh chị ngồi bên cạnh. Tôi học rất mau nhờ siêng năng và “sáng dạ”. Phần khác cậu Tám tôi cũng muốn có một đứa học trò giỏi đặc biệt để khoe, qua sự thuận ngầm của dì Sáu và cậu Bảy tôi, nên kềm riết cho tôi học tiến vượt bực. Chỉ trong vòng sáu tháng, tôi theo kịp các anh chị lớp chót (Đồng Ấu) và còn được “nhồi sọ” thuộc lòng câu: “Mon père va au chantier. Il travaille pour me gagner du pain”. Hôm ba tôi đạp xe đạp từ Cái Răng về thăm chúng tôi lần đầu tiên sau khi chúng tôi rời ngôi nhà thờ, lìa quê nội, thì cậu Bảy tôi đã dượt cho tôi nói câu này một cách suông sẽ. Ba tôi vừa về, dựng xong xe đạp, chào hỏi đầy đủ trong nhà, thì cậu Bảy tôi đẩy ra trước mặt ba tôi. Tôi tụng câu này một cách trơn tru, không vấp váp. Ba tôi vốn ít khi biểu lộ tình cảm ra ngoài, nhứt là đối với các con, đã vui mừng giang hai tay bồng xốc tôi lên. Sự thân thiết giữa ba tôi và tôi bắt đầu từ ngày đó cho đến khi ba tôi chết năm 1965.

Về thăm chúng tôi được một ngày thì ba tôi lại đi Cái Răng. Tôi lại theo học với bạn bè trang lứa hằng ngày cho mãn lớp. Cậu Bảy tôi dạy tư có thâu được tiền học cuối tháng, trong nhà ngoại khá thảnh thơi hơn trước. Khi tôi được nghỉ học hai tuần thì má tôi ẳm Phước Hồng dẫn tôi và Điểm đi Cái Răng thăm ba tôi. Vì nhìn phong cảnh hai bên đường nhiều quá nên ngủ gục, tôi không thấy gì cả, lúc xe chạy qua thành phố Cần Thơ. Khi đến Cái Răng, má tôi dẫn chúng tôi đến nhà Bác Ba Cự ở gần dốc cầu là nơi ba tôi đang ở đậu ăn cơm tháng đi làm. Mãi đến giờ tan sở buổi chiều, ba tôi mới về dẫn tôi đi quanh chợ Cái Răng. Tôi không nhớ nhiều về chợ Cái Răng sau hai tuần lễ ở đây. Mà tôi nhớ nhiều nhứt là bác ba Cự, nghe đâu là một “anh chị đứng bến xe” ở chợ Cái Răng. Buổi sáng, bác ra chợ gần đó. Trưa trưa thì bác về, đưa một cuốn sách cho tôi đọc. Thấy tôi đọc trơn tru, bác gật gù không nói gì. Một hôm, sau khi dượt phần đọc sách, bác xếp sách lại, bắt đầu lớn tiếng hạch hỏi tôi:
- Ba mầy làm gì?
- Dạ, ba tôi làm cặp rằng.
- Ba mầy có ăn trộm trâu không?
- Không (cộc lốc, không dạ thưa gì hết).
- Mầy nói láo. Ba mầy không ăn trộm trâu thì ai ăn trộm?
- Không biết.
- Thằng này ẩu. Tao kêu lính mã tà bắt mầy và ba mầy.
- Bắt thì bắt, ba tôi không có ăn trộm trâu.
Bác đứng dậy bỏ đi. Má tôi rầy tôi: “Mình đang ở trong nhà bác, sao con dám hỗn hào, ăn nói không thưa dạ với bác vậy”. Tôi đáp: “Ai biểu bác nói ba con ăn trộm trâu”. Một lát sau, bác về, đưa cho tôi một gói bánh bèo ngọt có nước cốt dừa. Tôi không cầm, dù rất thèm ăn gói bánh đó. Bác đưa cho má tôi, và nói: “Thiếm cất cho nó, chiều nay tôi sẽ nói chuyện với chú Út.” Tôi rất sợ bị đòn, vì ba tôi rất nghiêm khắc với tôi mỗi khi tôi ăn nói không thưa dạ theo khuôn phép. Nhưng chiều đó, sau khi bác ba Cự nói chuyện với ba tôi, thì ba tôi cười cười, xong nắm tay dẫn lại trước mặt bác ba bảo: “Con xin lỗi bác Ba đi.” Tôi chần chờ không chịu. Ba tôi lập lại: “Con hãy xin lỗi bác Ba đi”. Không làm sao khác hơn, vì sợ bị đòn, đành phải khoanh tay cúi đầu lí nhí: “Con xin lỗi bác Ba”. Bác ba Cự trợn mắt hỏi lớn: “Ba mầy có ăn trộm trâu không?” Tôi vẫn một mực: “Không” cộc lốc. Bác Ba cười ngất: “Đó, chú thấy chưa? Tôi nói với chú rồi mà. Thằng này lắm”. Ba tôi quay lại bảo: “Thôi, con vào trong bếp chơi đi. Chia bánh bèo của bác Ba cho, ăn với em.” Chiều hôm đó, tôi rất mừng vì khỏi bị đòn, mà còn được ăn bánh để dành từ buổi trưa. Sau này, lớn lên, đọc các bài về các “anh hùng bến xe” tôi thấy có nhắc tới bác ba Cự. Tôi có nói chuyện cũ với ba tôi về bác, thì được biết rằng bác hay chọc ghẹo những trẻ con mà bác gặp theo kiểu đó, để xem gan dạ từng đứa ra sao? Bác làm bộ dọa dẫm hăm he cho con nít sợ, rồi nói theo bác để bác cười! Nhiều đứa đã sợ bác ừ đại, sau câu hỏi “ăn trộm trâu” của bác. Bác rất khen tôi vì tôi không sợ bác, đã dám tỏ ra “lì” với bác, khi bác nói oan cho ba tôi.

Sau hơn mười ngày thăm ba tôi ở Cái Răng, má tôi dẫn chúng tôi về nhà ngoại tôi như cũ. Trước khi rời chúng tôi, ba tôi nói:"Con ráng học, tựu trường ba về lo cho con đi học." Trên chuyến xe đò từ Cái Răng ra bến xe Cần Thơ, tôi còn dịp nhìn cây cầu Cái Răng cũ, rồi cầu Tham Tướng, sau đó chuyển xe về Ô Môn. Vừa vui vì được hứa cho đi học, vừa tỉnh táo vì xe mới chạy, tôi có dịp nhìn thấy Cần Thơ lần thứ nhứt: dọc con đường rất rộng có một ngôi nhà lớn có đề ba chữ Bùi Văn Sách, xế bên kia lộ là một ngôi nhà lớn khác có hàng rào sắt có chữ Syndicat Agricole mà tôi không hiểu nghĩa (sau này khi biết rõ hơn về Cần Thơ, thì nhà này được dùng làm Phòng Thông Tin của thị xã), sau đó là một ngôi nhà lớn có đề ba chữ Khương Bình Tịnh. Dọc đường, nhiều phố sá đẹp hơn mấy dảy phố tại chợ Ô Môn nhiều quá, nhứt là có rất nhiều xe cộ chạy trên đường. Trong vùng kỹ niệm ấu thơ về “Tây Đô sau này” quả là hạn chế nhưng rất sâu đậm!! Xe chạy một lúc khá lâu, thì xe lên dốc cầu (Bình Thủy), thì má tôi khều tôi nói đủ nghe: “Chút xíu nữa thì tới Bà Đồ”. Khi xe qua cầu, chỉ nghe cầu kêu rầm rầm mấy chục tiếng thì tôi thấy ngôi nhà nền đúc của bác Năm tôi, rồi đến ngôi nhà ngói đỏ ba căn mà má con tôi mới xa rời cách đấy chưa hơn sáu tháng. Tôi hỏi má tôi: “Sao xe không ghé Bà Đồ?” Má tôi đáp nhỏ rằng: “Xe chạy thẳng lên Ô Môn, mình trở về nhà bà ngoại”. Tôi thì mong về sớm cho kịp vào lớp với các anh chị học trò của cậu Bảy tôi, nên chỉ hỏi qua rồi không nhắc nữa.

Nhờ cậu Bảy tôi dạy, thêm được dì Sáu và cậu Tám tôi kềm, tôi học thêm rất nhiều chữ Pháp. Tôi rất thích những chữ mới trong quyển Vocabulaire (chúng tôi gọi đùa là Vỏ cá bự lại rẻ). Tôi thuộc hết 9 bài cửu chương và tập làm những bài toán khó của lớp tư. Rồi một hôm cậu Tám tôi bơi xuồng, dẫn tôi thăm một lớp học khác trong làng, phiá bên kia sông, do cậu Thiệt dạy. Cậu Thiệt lớn tuổi hơn cậu Bảy tôi, cũng đang “thất thế” ở nhà dạy học trong xóm. Cậu bèn đem tôi ra “hỏi bài” tại chỗ. Cậu bảo tôi đọc cửu chương ba bài 7, 8, 9 xuôi rồi ngược. Xong cậu hỏi cọng trừ nhơn chia vài số theo lối “tính rợ”. Cậu quay qua hỏi vocabulaire hàng chục chữ, từ quốc ngữ ra Pháp, rồi Pháp ra quốc ngữ. Tôi nhanh nhẹn đáp trơn tru. Cậu Tám tôi có vẻ đắc ý lắm, vì cậu vẫn muốn đem học trò “ruột” đi khoe mà! Sau cùng cậu Thiệt hỏi tôi cây kéo tiếng Pháp là gì. Tôi đáp liền:”les ciseaux”. Cậu nói:”Giỏi", vậy cái đục là gì?” thì tôi chịu bí. Cậu Thiệt quay lại bảo các học trò của cậu: “Có trò nào biết.” Cả lớp nín thinh. Cậu cười: “Mấy trò không biết là phải, vì tôi chưa dạy. Nảy giờ mấy trò đều nghe thấy rồi đó, trò nhỏ này học rất giỏi, vậy mấy trò phải ráng học như trò này". Tôi vẫn thấy “bị quê”, vì không đáp được cái đục bằng tiếng Pháp. Khi ra về, cậu Tám tôi vừa bơi xuồng vừa cười: “Ai biểu khi học không chịu lắng nghe, ra đường bị hỏi, bí lù mang xấu. Tôi cải: “Chữ này con chưa học bao giờ làm sao mà biết”. Cậu lại cười: “Đồ ngu! Le ciseau là cái đục mà không biết.” Tôi không buồn khi bị cậu Tám tôi mắng là ngu, bởi chữ này tôi chưa học, hoặc có xem hình mà không để ý nên không nhớ. Từ bấy, cậu Tám tôi lại càng chú ý dạy thêm cho tôi những gì cậu Bảy tôi không dạy chung cho các trò khác trong lớp ở nhà. Tôi chuẩn bị lên lớp tư để theo học với thầy Sanh vào ngày khai trường sắp tới. Khoảng thời gian này, tôi bắt đầu lén rút từ cuốn của bộ Phong Thần diễn nghĩa, lén đọc mê say và thích thú mấy đoạn nói về Na Tra với càn khôn quyện, Dương Tiển có ba con mắt, Lôi Chấn Tử mọc hai cánh v.v...

Có một lần, vào buổi sáng đẹp trời, cậu Bảy tôi đang đọc ám tả (dictée) cho 15 đứa học trò viết (trong đó có tôi), thì thấy một ông lớn tuổi đội nón tây trắng, mặc đồ tây trắng, mang giày da đen, xách cặp da vào sân. Cậu Bảy tôi ngưng dạy, ra chào ông. Thấy hai người nói chuyện với nhau có vẻ nghiêm trang, chúng tôi im lặng nhìn ra. Cậu Bảy tôi mời ông vô nhà, thì chúng tôi đồng đứng dậy khoanh tay cúi đầu chào khách như mọi khi. Ông khách ra dấu cho chúng tôi ngồi xuống, rồi bảo cậu Bảy tôi tiếp tục. Ông khách ngồi yên xem mà không nói gì. Sau bài ám tả, cậu Bảy tôi kêu chúng tôi gom tập lại để trên bàn cho cậu. Ông khách cầm lên vài tập, lật xem sơ sơ rồi trả lại. Xong ông đứng dậy, bắt tay cậu Bảy tôi rồi bước ra cửa. Đây là lần đầu tôi thấy người lớn bắt tay nhau!! Khi ông đi trở ra lộ, cậu Bảy tôi đi theo đưa Ông ra tới đường lộ, cúi chào ông, rồi đứng chờ cho Ông đi khá xa, cậu mới trở vào nhà. Bấy giờ, chúng tôi vẫn còn lặng yên ngồi tại chỗ dù đã tới giờ “ra chơi” mà cậu chưa nhớ để cho phép.

Sau này, trong nhà bàn tán lại lúc ăn cơm chiều, thì cậu Bảy tôi cho biết đó là ông thanh tra tiểu học Nguyễn Văn Chí. Ông nghe trong làng có mấy lớp dạy riêng, nên ông đích thân tìm đến coi việc dạy dỗ ra sao. Ông chịu khó đi bộ gần hai cây số, từ ngả ba Thới An ra đây, để thanh tra lớp của cậu Bảy tôi là một, lớp của cậu Thiệt bên kia sông là hai. Bây giờ nghĩ lại, thì thấy rằng ngày xưa, đất nước tuy bị Pháp đô hộ, nhưng phụ huynh của thế hệ chúng tôi (những người lo về giáo dục như ông thanh tra Chí) tận tâm chăm sóc việc học hành của trẻ thơ từ căn bản, từ lớp vở lòng, trong xóm nhỏ xa chợ. Cho tới bây giờ, tôi vẫn giữ được nguyên trong trí nhớ hình ảnh lộng lẫy của ông thanh tra tiểu học đội nón tây trắng, mặc đồ tây trắng, mang giày da đen, tay xách cặp da đi bộ tới, vô nhà ngồi yên gần nửa tiếng, coi cách thức dạy của một thầy giáo vườn (cậu Bảy tôi), ở nơi cách xa trường làng của nhà nước ngoài vàm Thới An (ba lớp, cách đó gần 2 cây số), trường tiểu học ở trong chợ quận (sáu lớp, cách đó cũng gần 2 cây số). Chắc Ông đã hài lòng với những gì Ông thấy, nên hai lớp học vườn đều được tiếp tục, cho đến 1945, khi khói lửa tràn lan trên đất nước.

Việc đi học của tôi, cộng thêm hoàn cảnh “một mẹ ba con” không thể đùm túm lâu ngày với bà ngoại tôi được, nên bà ngoại, dì Sáu, hai cậu tôi lo giúp má tôi ra riêng, mà phải ở gần trường quận Ô Môn thì mới thuận tiện. Má tôi viết thơ cho ba tôi về việc này. Ít lâu sau, ba tôi xin nghỉ việc làm ở Cái Răng, về lo cất nhà tại ngã ba Thới An, Thới Thạnh, gần dốc phía Nam cầu Ô Môn. Ba tôi gọi mấy người cháu gọi ba tôi bằng cậu từ miệt Săn Trắng trên lên giúp việc đào đất đắp nền nhà, đẻo tràm làm cột, chẻ tre làm phên vách v..v..Mấy anh tư Dĩ, năm Chí, sáu Lạc ở luôn tại chỗ gần cả tháng, làm đủ mọi thứ. Đến hôm, sắp dựng cột thì dượng Hai tôi (Tiều lai tên Khìa, ba của mấy anh Chí, Dĩ, Lạc) cũng đi xe đò từ Săn Trắng lên. Khuya đó, đúng giờ thì dựng cột. Dựng tạm 6 cây cột thì ba tôi ra ngoài lộ đứng ngắm. Không biết vì thấy cao thấp không đều làm sao, mà ba tôi biểu mấy anh hạ một bên xuống rồi lấy cưa "tề" một cây cột hàng ba, ngắn đi mấy tấc. Dượng hai tôi la rầy mà ba tôi không nghe, cứ bảo mấy anh tiếp tục cưa bớt rồi xúm nhau dựng lên lại. Khi nghỉ tay ăn cơm, dượng hai tôi ngồi buồn xo. Ba tôi nói: “Anh Hai hơi đâu mà lo những chuyện dị đoan đó”. Dượng Hai tôi thở ra rồi thủng thỉnh trả lời xuôi xị: “Ừ, cậu út nói cũng phải”. Mọi chuyện tiếp tục đều đặn cho đến khi nhà lợp xong mái, che kín vách, vừng ngăn buồng bếp v.v... thì dượng Hai tôi và mấy anh tôi ra về. Má tôi lo thu xếp nhà cửa, ba tôi lại đi làm xa hơn, vì việc đắp hai mang cá cầu Cái răng đã hoàn tất. Tôi ở nhà, học những bài của hai cậu tôi cho sẳn để học trước. Chiều chiều hai cậu tôi đi chợ, ghé lại dọn bài và cho thêm bài khác, như vậy thì tôi khỏi bị chậm mất bài so với các học trò khác của cậu tôi, vì từ nhà ngoại tôi đến nhà tôi gần hai cây số má tôi chưa dám cho tôi đi một mình. Những lúc ở không, tôi lân la làm quen với trẻ con cùng lứa trong xóm; nhứt là anh Của, con chú ba Dảnh ở nhà sát vách bên phải, quay mặt ra đường.

Một hôm, bác Năm gái tôi, có việc từ Bà Đồ lên Ô Môn, ghé lại thăm nhà tôi. Vừa nói chuyện với má tôi, vừa nhìn chúng tôi ăn cơm, bác thấy trong mâm có mấy cái chén mẻ miệng. Một lúc sau, bác qua chợ mua một chục chén đá khá tốt, về đưa cho má tôi, dặn: “Đừng cho thằng Trang, thằng Điểm ăn chén mẻ, rách mép tụi nó”. Bác gái tôi ít nói ít rầy con cháu, hiền từ tốt bụng, chịu nhìn chung quanh, khi thấy em út nghèo nàn thì tìm cách san sẽ giúp đở. Sau đó ít lâu, bác Năm trai tôi lại ghé thăm lâu hơn. Trước khi ra về bác lại cho má tôi một ít tiền (tôi không rõ là bao nhiêu) dặn má tôi mua thức ăn cho chúng tôi. Có thể hai bác tôi nghe rằng ba tôi dù phải đi làm xa, nhưng đã cố gắng cất được nhà gần trường cho tôi đi học, nên hai bác đến xem chúng tôi ăn ở như thế nào. Vì bác Năm trai tôi vốn dĩ rất công bình, nhưng không can thiệp được, khi hoàn cảnh ép buộc ba tôi phải rời ngôi nhà thờ, khiến tụi tôi trôi dạt về quê ngoại. Bác Năm tôi rất thương ba tôi, chính bác Năm tôi đứng ra chủ hôn cho ba tôi thành gia thất. Hai bác tôi đều đến tận nơi nhìn tận mắt để có thể yên tâm, khi thấy má tôi và anh em chúng tôi có một mái nhà che kín nắng mưa.



L o n g T u y ề n
Khởi từ tháng 12 năm 1966
Duyệt lại xong 09 giờ sáng ngày 02 tháng 02 năm 2006

Image


13131



Image


m ấ y .n ă m .
.......T I Ể U .H Ọ C . .
____________________________________________________________________________



Tôi không biết má tôi đã nạp khai sanh của tôi vào trường lúc nào. Chỉ nhớ trước đó mấy hôm ba tôi về có cho tôi một cái cập bằng giấy bồi, một cây thước vuôn đen để gạch hàng, một cây viết chì, một bình mực tím, một cây viết ngòi lá tre, hai tập giấy trắng. Rồi hôm khai trường thì chỉ có má tôi dẫn tôi vào lớp, giao tôi cho cô giáo Phùng rồi ra về, vì Phước Hồng còn nhỏ quá. Cô chỉ cho tôi ngồi bàn đầu, vì tôi “nhỏ con” lại vào sớm. Các trò khác lần lượt vào ngồi trong lớp, mà cha mẹ vẫn còn đứng lẩn quẩn rất đông bên hè ngoài, dưới hiên gần cửa sổ nhìn vào trong, chỗ con mình ngồi; cho đến khi trống trường nổi lên báo giờ vào lớp (một hồi trước lớn sau nhỏ lần lần, ngừng lại một chút, rồi tiếp theo là ba tiếng trống lớn). Khi đó, các lớp trên đã xếp hàng vào hết rồi, cha mẹ học trò lớp chót lần lượt ra về. Sân trường tạm im một chút. Cô Phùng lên trên bục gổ, gọi tên chúng tôi, từ A xuống Y. Mỗi đứa được kêu tên, lên Cô cho lãnh một cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Đồng Ấu. Tên tôi chữ T, nên đứng gần cuối sổ. Tôi nhóng cổ đợi cô kêu tên, để “Dạ” một tiếng lớn , và vội vã đi mau lên lãnh quyển sách như các trò được kêu trước. Tôi nao nức lật qua cuốn sách, trong khi Cô tiếp tục kêu tên các trò khác cho đến vần Y. Không nhìn vào sách thì tôi lại nhìn quanh bốn bức tường, thấy treo trên cao gần sát trần nhà, những bức hình rất lớn sơn láng mặt bấy giờ gọi là “tableaux muraux”. Phát sách xong, Cô xếp chỗ ngồi cho mỗi đứa theo thứ tự “nhỏ con” ngồi trước “lớn tác” ngồi sau. Tôi vẫn được ngồi bàn đầu bên phải của Cô từ bàn nơi Cô đứng nhìn xuống. Khi viết những giòng này thì tôi còn nhớ được vài tên những bạn học trai của tôi ở lớp Đồng Ấu: Trần Cao Tuấn (con thứ nhì của thầy Sửu đang dạy lớp nhứt), Trương Phú Hậu, Bùi Hữu Viện (chúng tôi gọi là Mã Viện), Nguyễn Văn Nuôi, Bùi Quang Kinh, Nguyễn Văn Đàng,Tô Phương Nghiã ( con thứ năm của "quan thầy thuốc" Tô Phương Ký), Nguyễn Phước Cương (con chủ vựa lá ngang chợ Ô Môn), Hàng Thế Khương, Phạm Quang Huề, Nguyễn Long Giao, Nguyễn Văn Định v..v.. và vài bạn học gái: Nguyễn Thị Chợ, Đoàn Kim Huê, Châu Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Anh, Lý Thị Sen v..v..Loay hoay một hồi, thì nghe trống điểm ba tiếng, Cô cho cả lớp ra chơi. Cô đứng dưới mái hiên trường vừa trông chừng học trò đang loanh quanh trong sân vì còn mới (nhập trường) và còn lạ (chưa quen nhau) vừa nói chuyện với thầy Tư Sanh (dạy lớp tư) và cô Bảy Sang (dạy lớp ba). Khoảng 30 phút, thì lại nghe ba tiếng trống, chúng tôi tựu về trước cửa lớp. Cô “lùa” chúng tôi vào, và đếm cho đến khi thấy đủ số. Cô bắt đầu cho chúng tôi tập đọc. Thật ra, bấy giờ, phần đông học trò đều biết đọc và biết viết chữ Việt trước khi được nhận vào lớp chót (lớp Đồng Ấu, tức lớp một sau này). Xong Cô cho tập viết. Mỗi đứa đều có một “tập đồ”. Chúng tôi phải đồ lại những chữ đã in sẳn bằng những dấu chấm lợt trên giấy c6 gạch hàng sẳn. Môn tập viết (écriture) này, tiếp tục kéo dài cho đến khi thi Sơ Học vẫn còn. Đứa nào cầm viết tay trái thì bị Cô khẻ tay bắt phải cầm lại tay mặt, đứa nào nằm mọp trên bàn thì bị Cô nắm lổ tai kéo ngồi ngay lên v...v... Chừng nửa giờ, Cô cho hai đứa ngồi đầu bàn đi gom tập về để trên bàn Cô. Hai dảy bàn thì hai đống tập. Vừa lúc đó thì vang lên hồi trống tan buổi học sáng. Cô cho phép ra về, đứa nào mau chưn thì ra trước, không nhứt thiết theo thứ tự bàn đầu bàn chót gì cả. Tôi ở bàn đầu, chạy lẹ về nhà. Má tôi chờ sẳn, cho anh em tôi ăn cơm trưa, để tôi còn trở lại lớp học buổi chiều.

Từ năm 1938 đến năm 1944, trường quận Ô Môn (có lẽ cũng như các trường quận khác) cho học, mỗi tuần năm ngày: thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ sáu, thứ bảy học trọn ngày mỗi ngày hai buổi. Thứ năm và chủ nhựt nghỉ trọn ngày, nhưng có lớp Hán Văn (Charactères chinois) vào buổi sáng thứ năm cho những trò học nào học Hán Văn, từ lớp nhì một năm trở lên (Cours Moyen 1 ère Année). Ba năm sau, tôi có theo học lớp này 3 năm với thầy Lưu Nhơn để được thêm điểm khi thi lấy bằng Sơ Học.

Tôi theo học lớp chót một cách nhẹ nhàng, luôn được điểm cao 8, 9, 10, vì những gì Cô dạy trong lớp, tôi đều được học trước với cậu Bảy tôi. Tôi không bị Cô rầy la lần nào, vì tôi luôn thuộc bài và làm bài tại lớp mau lẹ, cũng như nạp đủ các bài Cô cho mang về nhà làm. Tôi học với Cô trọn một năm cho đến bãi trường nghỉ hè năm sau. Về sau, Cô đổi về dạy trường Bình Thủy gần nhà Cô. Suốt lớp chót này, tôi còn vài kỹ niệm nho nhỏ chưa quên được, như sau:


- Học chừng hơn một tháng, khi học trò bắt đầu biết tên nhau, thì một hôm vào giờ ra chơi, anh Nuôi (lớn hơn tôi 4, 5 tuổi) đưa cho tôi miếng giấy xếp bảo tôi đưa cho trò Chợ (gái cỡ tuổi anh Nuôi). Tôi không biết ất giáp gì, nghe theo, đem đưa tận tay. Không biết anh Nuôi viết gì trong đó, mà một lúc sau, trò Chợ gặp tôi bảo: “Tui sẽ mét cậu Bảy của trò cho coi”, vì trò Chợ ở tại xóm Rạch Gốc cách nhà bà ngoại tôi chừng 200 thước. Tôi nói: “Giấy của anh Nuôi, không phải của tui”. Trò Chợ nói: “Thì biết là giấy của trò Nuôi, thì tui mét Cô phần trò Nuôi. Còn phần trò đưa thơ, nên tui mới mét cậu Bảy”. Tôi không thấy Cô gọi rầy anh Nuôi tại lớp! Vài tháng sau, anh Nuôi thôi học, không biết vì lý do nào. Hoặc vì lớn quá mà học lớp nhỏ, lại học thua đám nhỏ, sanh buồn chán? Hay tại ngại trò Chợ mét Cô mà anh thôi học chăng? Có điều chắc chắn là tôi không thấy cậu Bảy tôi rầy tôi về việc đưa thơ này, có nghĩa là trò Chợ hăm tôi nhưng không mét (có thể không dám vì một cô học trò 9, 10 tuổi, mà gặp thầy giáo thì cũng sợ, dù là cậu Bảy tôi chỉ là thầy giáo vườn?). Hai năm sau, trò Chợ chưa kịp lên lớp ba thì đau ban đen mà chết.

- Miệt Cần Thơ năm nào cũng bị nước ngập. Trường Ô Môn nền đúc lót gạch tàu, vách gạch, lợp ngói đỏ, không biết cất từ năm nào, mà nền đầu phía Tây (lớp nhứt) thì cao tới ngực tôi, thấp lần lần xuông đầu hè phía Đông (lớp chót) thì thấp xuống chỉ còn lại đến nửa gối mà thôi. Qua tháng chín ta mỗi năm, thì trường bị ngập vì nước lụt. Từ lộ cái vào sân, học trò phải xăn quần khỏi gối mà lội. Giờ vào học, gần 200 học trò lớn nhỏ xen nhau xăn quần lội nước dọc lối chánh ra vào có lót sành (ngói vụn), không ai dám lội ngang sợ bị lún sình, là một cảnh vui nhộn. Mấy anh lớn thì xông xáo dễ dàng. Mấy chị lớp nhì trở lên, mà phải xắn quần lên tới gối là một khó khăn mà cũng là một cảnh ít thấy, một năm chỉ có một đôi lần!! Phía lớp nhứt (Cours Supérieur), lớp nhì 2 năm (Cours Moyen 2 ème Année), lớp nhì một năm (Cours Moyen 1 ère Année) thì lớp không bị ngập. Nhưng từ lớp ba thì nước đã lé đé ở bệ cửa, qua lớp tư nước tráng khắp mặt nền, đến lớp chót chúng tôi thì trọn lớp bị ngập nước cao lên tới mắt cá. Nhà tôi đấp nền đất thấp, thường bị ngập cả tháng, nên đối với tôi không có gì quan hệ. Lớp bị ngập nhưng chúng tôi rất vui, vì ngồi trên bàn, thả chưn xuống thì chưn chạm nước. Từ trong lớp, nhìn ra sân thấy nước chảy chậm chậm về đầu rào phiá Đông. Nước gợn lao xao lấp lánh nắng ban mai, thu hút cái nhìn thích thú của vài đứa ham đùa giởn với nước (trong đó có tôi) khiến Cô phải kêu mấy đứa, bắt đọc bài cho khỏi lơ đảng!! Hơn nữa, nền lớp lót gạch tàu vuông, có ngập buổi sáng thì trưa nước rút, tụi tui có dịp dành nhau cây chổi để quét đùa nước ra sân cho nền mau ráo mau khô. Có năm lụt lâu, lớp bị ngập cả hai tuần như vậy!

- Ở nhà, khi má tôi có bầu Phước Hồng ra sao, thì tôi hề không chú ý. Nhưng sau khi nghỉ Tềt trở lại trường, thì tôi thấy bụng Cô lớn quá, đội áo rất cao. Dù Cô luôn mặc áo trong áo ngoài, nhưng vẫn không che kín hết cái bầu. (Thời đó, chưa có loại áo rộng che bụng như hồi thập niên 1950 sau này). Thỉnh thoảng Cô còn đưa tay gải bụng. Dù tôn kính Cô còn hơn má tôi ở nhà, nhưng cặp mắt tò mò của tôi (và cũng của vài đứa khác) vẫn nhìn theo bàn tay Cô thoa thoa trên bụng. Cô mệt mỏi ngó thấy, nhưng vẫn tiếp tục dạy chúng tôi mỗi ngày cho đến nghỉ hè.

- Mấy tháng chót gần nghỉ hè, tôi được nghe mấy trò kia bàn tán về thầy Sanh đang dạy lớp tư. Có lẽ mấy trò ấy có anh chị học lớp trên, nên được nghe kể lại, rồi nói với nhau. Rằng thầy Tư Sanh rất khó, đánh học trò "rắc máu", v.v... Tôi thì không biết gì, nhưng nghe theo rồi cũng sợ theo các trò ấy, mỗi lần gặp thầy Tư Sanh thì khoanh tay cúi đầu, rồi chạy đi chỗ nhác, không dám nhìn mặt thầy.

- Thỉnh thoảng Cô có việc đi họp hay đi sang lớp khác, thì Cô hay giao lớp lại cho hai trò gái: Đoàn Kim Huê và Châu Minh Nguyệt, mỗi trò giữ trật tự một dảy bàn. Cô giao cho hai trò ấy, mỗi trò một cây thước gạch hàng màu đen, dặn hể đứa nào nói chuyện thì cứ khỏ đầu. Dảy bên kia, trò Nguyệt làm sao tôi không rõ. Tôi chỉ lo im miệng giữ phần mình. Hơn nữa trò Nguyệt là “xẩm” một trăm phần trăm, đi học tiếng Việt nhưng ở nhà thì vẫn nói tiếng Tiều hay Quảng gì đó. Có thể vì vậy mà trò Nguyệt không dám đánh đập ai. Dảy bàn của tôi nhằm trò Huê giữ trật tự. Không biết oán thù tôi hồi nào, mà bất thình lình trò Huê khỏ đầu tôi một cái đau điếng, mặc dù tôi chưa hề mở miệng. Tôi lấy tay thoa đầu lia liạ cho đở đau, tức mình hỏi: “Sao trò khỏ đầu tôi?” Thì cô ta mỉm cười thấy “phát ghét” bảo rằng: “Tui thấy trò nói chuyện”. Tôi cự nự: “Tui nói chuyện hồi nào?” Trò Huê khện cho cái nữa, miệng vẫn cười tươi: “Cải tui hả? Đánh thêm cho mà biết”. Xong trò bỏ đi. Tôi đâm ra vừa ghét vừa sợ học trò con gái giữ lớp, nhưng không dám thù, vì Huê là con gái cưng của ông Đốc Học trường (tức hiệu trưởng theo danh từ sau này). Và cũng do hai cái khỏ đầu năm đó, khi hai đứa mới vào trường cùng học một lớp, mà sanh ra nhiều cảm lụy vào giao thời tiểu học lên trung học, dù rất ngây thơ đầy ngượng ngập, nhưng thành dây dưa oan trái triền miên mấy chục năm dài.

Vì tôi đã đi học gần một năm, không còn “gà mờ” nữa, nên không sợ tôi đi lạc, má tôi thuận cho tôi theo học lớp dạy tư của cậu Bảy tôi suốt hai tháng nghỉ hè. Một là học trước để vào trường khỏi bị thua sút các trò khác. Hai là, mỗi bửa tan học, tôi có thể mang về chút ít vật thực của bà ngoại tôi cho. Mỗi sáng, tôi đi bộ trên lộ làng từ nhà tôi ra nhà bà ngoại tôi cách đó chừng 1.5 hoặc 2 cây số. Mỗi trưa, tôi được ăn cơm với bà ngoại, dì và hai cậu tôi. Xế trưa, trước khi ra về, bà ngoại tôi còn giao cho tôi một gói nhỏ, dặn xách về cho má tôi. Các tháng tôi không đi học với cậu tôi, thường thường hai cậu tôi mang vào cho những món nặng nề như dừa khô, khoai, hoặc gạo hay củi bó, khi hai cậu tôi “thả bộ” vào chợ chơi (gần như mỗi buổi chiều). Ngoài ra, những buổi sáng, bà ngoại hay di Sáu đi chợ, thường mang theo những món ăn hay đồ dùng mà chúng tôi cần để ngay cạnh cửa cái, vì chúng tôi còn ngủ. Và sau khi tan chợ về, bà ngoại hay dì Sáu tôi luôn ghé lại để san sẻ chút ít rau đậu hay cá mắm cho má tôi.

Đáng lý thì khai trường tháng 9 năm 1939, tôi lên lớp tư, phải học với thầy Tư Sanh. Nhưng trong mùa hè, thầy được thăng chức, đảm nhận một trường tiểu học mới mở trong làng Thới Thạnh Hạ. Mấy tháng sau có dịp theo bà ngoại tôi về thăm xóm Vạn Lịch, bơi xuồng ngang qua trường của thầy, thì tôi được thấy thầy đang đứng rửa chưn trên cây cầu dừa, trước sân trường. Trường này tọa lạc tại ngả ba một ngọn rạch nhỏ tên Rạch Đùn, đổ ra rạch Cái Tắc, cách chợ Ô Môn chừng 4 cây số về phía Tây, và chỉ có hai lớp: lớp chót (Đồng Ấu) và lớp tư (Dự Bị). Thầy nhận dạy lớp tư kiêm nhiệm “đốc học”, một danh vị rất được trọng vọng thời bấy giờ, ngay trong thôn này cũng như trong hàng giáo chức toàn quận.

Cũng trong mùa hè, tôi được hai cậu tôi cho biết cô ba Lưu Hữu Hạnh sẽ dạy lớp tư trường quận thay chỗ thầy Sanh. Tôi còn được biết thêm cô Hạnh vì bị lận đận kỳ thi lấy bằng Thành Chung (Diplôme), nên về trường Ô Môn dạy cho gần nhà. Cô là con gái thứ nhì của thầy Lưu Nhơn. Chị hai của cô là cô Mừng đang dạy ở Cần Thơ. Em trai kế cô là anh Tư Lưu Hữu Phước đang học ở Hà Nội v.v... Sau đó, là chị năm Dung (pharmacienne), chị sáu Duyên (Monitrice PTG&ĐTĐ), chị bảy Tuyến (chung lớp với tôi từ Cours Moyen 2ème année); út là tám Lộc (dưới tôi hai lớp, sau là bác sĩ).

Từ hôm khai trường, chúng tôi đều vui vẻ đến lớp vì cô giáo mới rất hiền hậu và dễ dãi. Ngay cả những khi phải rầy những đứa lười biếng (không có tôi), hoặc hay phá khuấy trong lớp (nhứt định có tôi), cô vẫn ngọt ngào gọi là các em, dù cô đang trách mắng. Đặc biệt, cô thường chọn trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị, những bài ngắn về lịch sử cho chúng tôi tập đọc. Nhờ đó mà tôi sớm biết chuyện hai bà Trưng chống Mã Viện thời Đông Hán; chuyện Ngô Quyền phá quân Nam Hán chém Hoằng Thao ở Bạch Đằng Giang; chuyện Trần Bình Trọng khảng khái: “Thà làm quỉ nước Nam không thèm làm vua đất Bắc”; chuyện Lê Lai cứu chúa v.v... Hình ảnh hai bà Trưng cùng cưỡi một con voi (tại sao vậy?); hình ảnh Ngô Quyền tay cầm siêu đao đứng trên đầu thuyền; hình ảnh Trần Bình Trọng hai tay bị trói sau lưng, nhưng vẫn ngẩng mặt đối diện với Thoát Hoan; hình ảnh Lê Lai bị hai tên lính Tầu nắm hai tay kéo cho ông nghiêng về phía trước và một lính Tầu khác đưa cao thanh mã tấu trong dáng điệu sắp chém; cùng những địa danh Mê Linh, Bạch Đằng Giang, Thiên Trường, Chí Linh không bao giờ mờ phai trong ký ức của tôi dù đã hơn sáu mươi năm.

Cô còn dạy chúng tôi về địa dư nước Việt Nam. Không biết cô có dụng tâm hay chỉ muốn dạy dỗ học trò bằng nhiều cách, mà cô còn cho mấy anh lớn ở lớp nhứt xuống dạy chúng tôi hát bài “Giòng Sông Hát” và vài bài khác mà tôi chỉ còn nhớ lỏm bỏm mấy câu:
Hận vì bọn quân Tầu tàn bạo; Đại Cồ Việt sơn hà đảo điên;
hoặc:
Anh em ơi! khá nhớ lấy! Danh Trưng Vuơng không bao lu mờ
Anh em ơi! khá nhớ láy! muôn năm không quên công hai Bà

Và bài “Bạch Đằng Giang”. Chúng tôi học hát những bài này, để rồi ba năm sau, mới có dịp thật sự được học hát với anh tư Lưu Hữu Phước.

Tôi học lang thang suốt năm lớp tư không phải cố gắng nhiều, không khó khăn gì, mà vẫn được xếp hạng cao trong lớp. Bài thuộc lòng thì chỉ đọc qua ba lần là đủ trả một cách trơn tru. Toán thì cho đâu làm đó, đem tập trình Cô lấy điểm tối đa, khỏi mang về nhà làm thêm. Viết ám tả (dictée) thì quốc ngữ hay Pháp văn cũng cứ 9 hay 10 điểm. Rảnh rang tôi đọc trước các bài trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư và các câu hỏi có lời đáp sẳn, để dành khi cô hỏi, thì đưa tay trả lời mau để lấy điểm.

Bấy giờ, tôi rất mê say kiếm hiệp. Hai cậu tôi cứ mua 3 xu một tập về đọc, xong bỏ ra là tôi chớp gấp, để lướt qua ngốn ngấu cho lẹ, kẻo bị thâu lại thì mất phần; vì hai cậu tôi sợ tôi mê đọc kiếm hiệp mà xao lãng bài vở. Thôi thì đủ hết: nào “Quần Hùng Kiếm Hội, Linh Sơn Thất Hiệp, Côn Lôn Tiểu Khách” trong đó có tiểu hiệp Cao Hùng Phi với chiếc sừng trâu, có đại hiệp Kỷ Lân Anh thi triển kiếm phong trấn áp quần tà, có nữ hiệp Bạch Mai Hoa ở Hạc Phong Lãnh giả trai, vào làm quận mã cưới quận chúa Ngọc Hoàn, ám phục trong phủ của Vĩnh Hòa Vương v.v..., Nào “Thiếu Lâm Trường Hận, Bát Quái Đạo” trong đó có Hoàng Khôn, Thủy Thượng Phi, Liên Hoa Ảnh, Yến Phi Hùng; sau lại có Hồ Hữu Đức (con Hồ Huệ Càn) phục hận, thêm Kim Tam Lang chuyên mặc áo đỏ dạ hành v.v... Chưa hết, còn thêm những chuyện của Hoàng Ngọc Ẩn, Bách Si Ma hoạt động ở Việt Nam. Cập sách đi học của tôi lúc nào cũng phồng cứng, trong đó, sách vở học trò rất ít, mà kiếm hiệp dầy mỏng tùy theo lúc nào cũng có. Vào giờ ra chơi, tôi thường dựa vách tường mê say đọc kiếm hiệp, ngoại trừ khi nhập trận đá banh hay chia phe đánh giặc.

Ôi, những trận đá banh trong sân trường! Kể làm sao cho hết những kỹ niệm xướt da bầm thịt, từ ngày đi học biết náo nức chạy theo banh! Bưởi non phơi héo làm banh! Tụi con nít chia làm hai phe mỗi bên không biết mấy chục đứa, mạnh đứa nào nấy đá, khi xúc vào gôn bên này, khi chạy ngược theo bên kia. Trái bưởi héo lăn lộn chưa hết giờ ra chơi, có khi đã nức nở rồi bể thành hai ba mảnh! Hôm sau lại tìm được trái bưởi khác, non hơn, héo hơn, thì banh còn chịu trận cho đến lúc nghe ba tiếng trống mãn giờ chơi. Cuối tuần có đứa lấy lá chuối khô nhồi lại thành nùi, rồi lấy bẹ chuối xẻ thành nhiều sợi phơi khô bện dây đem buộc quanh nùi lá chuối khô cho đến khi thành hình trái banh. Đầu tuần đem vào trường, đến giờ chơi thả ra sân thì hầu hết con trai đều chạy theo banh; mấy chục trò gái chuyên “đánh đủa” bị chen lấn mất chỗ đành kéo nhau chạy vào trong hiên trường cho khỏi bị xô đẩy. Banh dây chuối rất bền, nhưng rất cứng, chạm vào chưn rất đau. Ban đầu chỉ có tụi nhỏ xà quần chen lấn nhau, sau mấy anh ở các lớp trên thấy banh đá được, thì cũng chẳng cần giữ gìn nghiêm trang chi nữa, xông vào tranh chỗ đá với mấy em. Cũng đủ thứ trò chơi xấu: thọc cùi chỏ, gài giò, xô từ sau lưng, khắc ống quyển. Trống mãn giờ chơi, ai về lớp nấy sắp hàng, mồ hôi nhễ nhại, áo quần xốc xếch, có khi tét rách, lấm sình, lôi thôi lốc thốc. Các Thầy từ lớp nhứt xuống đến Cô chúng tôi, đều chỉ mỉm cười không rầy la chi cả.

Cũng ở lớp tư này, tôi còn dự vào một trò chơi khác, cũng hung tợn, cũng đánh đấm ác liệt, kéo dài suốt nhiều buổi ra chơi. Đấy là học trò trai chia thành hai phe “đánh giặc”. Nhóm con trai của hai lớp tư và lớp ba tham gia trận chiến một cách rất tận tình: chỉ đánh tay không, đấm đá theo bài vở nếu đứa nào có học võ, bằng không đánh võ rừng cũng được. Hôm nào không có banh để đá, thì đánh giặc thế vào. Hai phe cũng ăn đủ thứ đòn: nào thúc cùi chỏ, chêm đầu gối, đá song phi, đá liên hoàn, đây thôi sơn theo Thiếu Lâm, đó cú ngón trỏ theo võ Triều Châu, thêm bàn tay sè vả trái theo Bạch Hạc, kèm thế chụm năm ngón móc mắt theo Hầu quyền (thời kỳ học võ và kiếm hiệp đang thạnh hành mà!). Khi mãn giờ chơi vào lớp anh nào cũng còn thở hào hễn, mặt mày xây xướt, quần áo te tua, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Tuy nhiên, chỉ được chừng hai tuần, thì bị cấm không được tiếp tục đánh giặc nữa vì có mòi chuyển thành vụ hai phe đánh lộn. Thầy Cô khuyến khích trở lại đá banh cho có vẻ thể thao, mà hoà nhã hơn đánh đấm đánh cú lẫn nhau. Sau này lớn lên, khi vào trung học, thầy Kiết hướng dẫn cho đọc cuốn Trận Giặc Trẻ Con của Phi Vân, gặp lúc hai phe trẻ con đánh nhau, nhiều đoạn khôi hài, cười gần lộn ruột, thú vị hơn nhiều.

Sau tựu trường ít lâu, khoảng gần cuối năm 1939, ba tôi về thăm nhà, nhưng thực ra cốt dặn dò má tôi, trước khi trình diện khám sức khỏe vì bấy giờ nhà binh Pháp đang tuyển lính đi Âu châu đánh giặc. Tôi ngồi nghe ba tôi nói chuyện với chú “thầy hù”, khi chú hớt tóc cho ba tôi. Những danh từ “phe Trục Đức Ý Nhựt, phe Đồng Minh Anh Pháp Nga”, “quốc xã, cộng sản” chen lẩn trong câu chuyện khám sức khỏe đi Tây làm lính của ba tôi. Tôi rất buồn, vì tôi biết ba tôi có thể bị bắt “đi qua bên Tây”, nghĩa là rất xa gia đình chúng tôi, dù mấy năm nay ba tôi vẫn vắng nhà đi làm ăn xa, chỉ thỉnh thoảng đem tiền về đưa cho má tôi lo nuôi chúng tôi.

Chiều hôm đó, sau khi ăn cơm xong ba tôi dẫn tôi đi qua chợ. Qua chợ, vì từ nhà tôi đến chợ phải qua cây cầu sắt bắt ngang rạch Cái Tấc Ông Thục, nhánh của sông Ô Môn. Trước khi đi, má tôi đưa cho tôi 2 xu dặn ghé tiệm mua bó nhang về thắp, vì bó nhang trên bàn thờ sắp hết. Khi ba tôi vào tiệm thuốc bắc để bổ thuốc mang về cho bà con ở Bà Đồ, thì ba tôi cho tôi năm xu. Tôi cầm năm xu bước qua tiệm, mua bó nhang bằng 2 xu của má tôi đưa trước, còn năm xu của ba tôi cho thì tôi cất vào túi, để về nhà đưa lại má tôi, vì 5 xu thời bấy giờ, đối với tôi lớn lắm. Lúc tôi trở lại tiệm thuốc bắc chờ ba tôi cùng về, ba tôi thấy tôi cầm bó nhang trên tay mà không có kẹo bánh gì, thì ba tôi chỉ yên lặng nhìn tôi mà không nói gì. Khi về nhà, ba tôi nói chuyện với má tôi, thì biết 2 xu mua nhang do má tôi đưa, còn 5 xu của ba tôi cho thì còn nguyên vẹn tôi, đã đưa má tôi cất. Ba tôi rất vui vì thấy tôi biết lo (nhớ mua nhang) mà không ham kẹo bánh khi có tiền trong tay (dù chỉ 5 xu). Hôm sau, ba tôi lại gói các gói thuốc bắc, treo lên guidon xe đạp, dặn dò má tôi mấy câu, rồi đạp xe trở xuống Bà Đồ, để còn lo trình diện khám sức khỏe tại trại lính tập ở Cần Thơ.

Ba tôi đi rồi, tôi buồn ngẩn ngơ, vì sợ ba tôi bị bắt đi lính qua bên Tây đánh Đức. Có khi ngồi nghĩ vẩn vơ, rồi khóc trộm một mình. Có hôm buồn quá, tôi chùi nước mắt ngay trong lớp, khiến thằng Kinh, bạn ngồi cạnh quay sang hỏi nhỏ: ”Sao mầy khóc vậy?”. Tôi lắc đầu không nói gì, vì sợ phạm tội nói chuyện trong lớp, mà cũng không biết nên nói thế nào cho nó biết cái lo của tôi. Chỉ là học trò lớp tư, tôi mới hơn 7 tuổi mà đã biết sợ mất cha, dù từ trước tới giờ tôi cũng không được gần gụi với ba tôi nhiều lắm. May mắn cho tôi, sau đợt khám tập thể, ba tôi bị xếp loại inapte; ba tôi không được chọn vì nhẹ cân nhỏ người ốm yếu v.v... nên khỏi bị tòng chinh, cũng khỏi bị đi làm thợ không chuyên môn (Ouvrier non spécialisé gọi tắt là ONS; đây là những chữ đến năm 1953 du học bên Pháp tôi mới được biết) trong quân đội Pháp của Pétain hay De Gaulle suốt thời đệ nhị thế chiến.

Khỏi bị bắt đi lính, ba tôi trở về Bà Đồ lo việc bán guốc sơn cho cô Mười tôi. Dượng Mười tôi - trong xóm vẫn gọi là Cai Bằng vì có một thời làm cai lục lộ thuộc sở Trường Tiền (sau này gọi là Ty Công Chánh hay Kiều Lộ) - mở một xưởng làm guốc sơn tại nhà nằm ngay cạnh phía Nam đầu cầu Bà Đồ. Xưởng nhỏ thôi với chừng 7,8 thợ chia nhau các phần sản xuất: từ những chiếc guốc vông thô có người làm sẳn giao trước hàng ngàn, mấy người thợ bào gọt cho thành chiếc guốc rõ ràng. Mặt nhỏ có eo gót cao hơn mủi là guốc đàn bà; mặt phẳng tròn hông gót lớn mà thấp là guốc đàn ông, có người chuyên bào láng mặt và chung quanh từng đôi cho đều nhau; xong có người lo phần bào cạnh; có người lo sơn lót phơi khô đánh giấy nhám (tôi có thấy ba tôi lảnh việc bào cạnh, sơn lót, và đánh giấy nhám nhiều ngày), rồi xếp thành từng chồng 50 đôi chờ những tay thợ chuyên môn sơn màu hay vẽ thêm hình cho từng đôi. Sơn này thuộc loại sơn mài được pha trộn và đánh đều lên từ trước. Tôi có thấy vài bác thợ đánh sơn vài lần. Gọi là đánh, thật sự là người thợ phải khuấy sơn thật đều tay suốt mấy tiếng đồng hồ không được ngừng nghỉ, từ khi hai thùng sơn nguyên chất được đổ ra chậu cho đến khi mẻ sơn được xem là tốt đúng mức. Mùi sơn rất nặng khiến quanh chỗ khuấy sơn rất ngột ngạt khó thở, và hơi sơn rất độc làm cho người thợ khuấy sơn phải chịu lở da ngứa ngáy. Tôi được thấy khuấy sơn nhưng bị cấm không được lại gần. Các chị, các cô, các thiếm tự lo tránh xa, khỏi cần ai nhắc nhở bởi tôi được thấy người thợ khuấy sơn phải xức thuốc vào những chỗ da lở loét vừa xuýt xoa liền miệng.
Lúc mẻ sơn đã “tới”, thì các thợ chánh cùng nhau vẽ lên từng đôi guốc một những hình đôi đối xứng bằng màu xong phết sơn mài phủ lên trên. Việc này chỉ ngưng, khi mẻ sơn mài cạn khô, không khi nào trong mẻ còn thừa dù vài giọt (vì sơn sẽ khô không dùng được nữa). Khi guốc khô thì xếp thành bó, mỗi bó 10 đôi. Ba tôi lo phần chở bằng đường thủy (dùng ghe) hay đường bộ (gởi xe đò) những bó guốc sơn đem giao cho các tiệm bán chạp phô (tạp hóa) ở các chợ xa như Bạc Liêu, Sóc Trăng, hay chợ gần như Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn v..v..

Khi mẻ sơn đã tới, thì mùi sơn dễ chịu có thể nói là thơm tho, và không tác hại gây ngứa xót cho ai nữa. Những người thợ chánh vừa sơn guốc vừa nhắc chuyện xưa khi còn ở ngoài Bắc. Tôi lắng nghe họ kể chuyện Thánh Gióng làng Phù Đổng, chuyện các hội hè đình đám cúng quảy, chuyện “xiêng lình”, những ngọn thiết lĩnh 18 gióng, 36 gióng, những cây côn bằng tre đực, những thanh mã tấu bén ngót sáng loáng v.v... Những chuyện lỏm bỏm tôi nghe được không nhất thiết liên hệ vào nhau, mà chỉ tùy theo câu chuyện khởi đầu, rồi lang mang theo những kỷ niệm mà các ông thợ xa nhà kể lại cho nhau, khi tạm cư tại xóm Bà Đồ làm công trong xưởng guốc sơn mài của dượng Mười tôi vào cuối thập niên 1939-1945.

Trong những ông thợ này, có một người sau này liên hệ gần gũi với bên ngoại tôi. Tên ông là Tư Cánh, người Bắc một trăm phần trăm. Nguyên cậu Ba tôi, tên Khanh, làm thợ bạc (nữ trang, kim hoàn) mất sớm vì bịnh “trướng” (báng, bụng lớn như cái trống đình) năm 28 tuổi; sau đó non một năm, thì con gái lớn cậu Ba tôi tên Huỳnh Điểu bị bệnh chết theo. Mợ Ba tôi đem Thành, con trai duy nhứt của cậu mợ mới được ba tuổi, giao lại cho bà ngoại tôi nuôi , để mợ đi tục huyền với ông Tư Cánh. Mợ dẫn ông lên giới thiệu với bên ngoại tôi. Bà ngoại tôi, má tôi, các dì cậu tôi thấy người đứng đắn, ăn nói lễ phép, nên cũng nhận như thân, bắt chúng tôi kêu là cậu. Cậu cũng giữ lễ như con cái trong nhà, giổ chạp bên ngoại tôi, nhiều dịp cậu cũng tới lui thăm viếng. Đó là phần liên hệ. Sau đây là một chi tiết nhỏ, kể ra thì buồn cười mà cũng đáng nhớ lâu. Số là, một hôm rảnh việc, bà con ở quanh đầu cầu Bà Đồ chờ con nước ròng, móc sình đắp bửng tát cái búng (vực sâu nhỏ chừng 20 thước vuông) dưới gầm cầu. Cậu Tư Cánh thấy vui cũng xuống tiếp tay. Khi nước cạn, thì cùng nhau bắt cá, mò cá thì đúng hơn, vì cá lớn chui lẩn trong sình. Có thể chưa bao giờ có dịp bắt cá kiểu này, hoặc xui xẻo hay vụng tay, không biết cậu loay hoay thế nào mà bị một con cá trê trắng đâm cho một phát “lút” gần nửa ngạnh. Bình thường khi bị cá trê đâm như vậy, thì người ta hay nặn cho vết thương chảy máu xong ngắt cái kỳ sau của con cá trê đắp vào chỗ bị chảy máu, thì nạn nhân chỉ bị đau nhức chừng nửa tiếng đồng hồ là bớt lần. Ngay lúc đó, cậu mê bắt cá, có đau nhưng không để ý, nên cũng không ai hay biết mà lo cho cậu. Đến khi lên bờ tắm rửa gần xong, thì cậu bắt đầu rên. Ai đã bị cá trê trắng đâm một lần thì phải nhớ đời, vì nọc cá trê trắng không làm chết người như nọc rắn hổ, nhưng nhức nhối vô cùng. Nghe cậu rên đau, bà con chạy đi tìm đuôi cá trê thì không còn nữa, vì cá đâu có nhiều mà để dành, bắt được bao nhiêu chia chác đồng đều rồi, thì của ai nấy vuột da cạo nhớt, mổ bụng chặt hết vi kỳ râu ngạnh, còn đâu mà tìm một cái kỳ để xức đắp cho cậu! Thành ra cậu bị nọc ngạnh cá trê trắng hành cho đau nhức đúng hạn kỳ. Chiều hôm đó, khi gặp ba tôi, cậu vừa rên vừa mếu: “Anh Út! Con trê! Con trê nó cắn em! Anh nghĩ xem! Con trê nó không cắn bằng miệng, mà nó cắn bằng cái kỳ!” Nghe cậu nói, ai cũng tức cười, mà cũng tội nghiệp, vì biết nọc cá trê nó sẽ hành cậu giáp một con nước. Nghĩa là khi bắt cá, bị cá đâm là lúc nước ròng, khi sông đầy là nước lớn, thì cơn nhức lên cao, rồi phải chịu cho đến lúc nước lại ròng thì mới bớt nhức tức là khoảng trên dưới 12 tiếng. Tuy vậy chỗ bị cá đâm vẫn làm độc, mưng mủ có khi gây thành nhọt ghẻ ngứa ngáy hằng năm bảy ngày sau.

Trở lại vụ guốc sơn. Vì nhà tôi ở gần chợ Ô Môn, ba tôi cũng đạp xe đạp đem về trử ở nhà tôi, rồi có người đến nhận đem qua chợ bán vào dịp Tết. Trong số học trò của cậu Tám tôi, có chị Cơ, cùng học một lớp với tôi. Trong số guốc chị xem thì chị ưng ý một đôi. Chị nhờ má tôi cất một bên, để tạm vài bửa sau, chị lại trả tiền rồi lấy guốc. Chị đang có tang, nhưng vì cuối năm, nên không ai nghĩ đến chuyện kiêng cử gì! Ba mươi Tết, dẹp chợ, mang hết guốc về nhà, thì đôi guốc của chị vẫn còn. Mắc bận rộn má tôi cũng không nghĩ đến chuyện đem đôi guốc đến nhà cho chị, để chị có mà mang vào dịp Tết mà cũng để lấy tiền luôn trong năm. Sáng mồng một, vừa cúng ông bà xong thì chị Cơ tới. Chị mặc áo quần mới, đi chưn không, nhưng lại đội khăn trắng vì chị đang còn trong tang. Chị trả tiền lấy đôi guốc ra về. Má tôi bỏ tiền vào túi mà mặt buồn xo, kêu trời liền miệng. Vì năm mới mà có người đội khăn tang đến nhà đầu tiên, má tôi không buồn lo sao được. Tuy vậy, má tôi cũng bỏ qua, không muốn nói đến việc này thêm, xoay lo cho chúng tôi, vì đang mùng một Tết. Nhờ vụ trử và bán lẻ guốc sơn mài, mà năm đó nhà tôi ăn Tết khá đầy đủ. Cũng dưa hấu có dán giấy đỏ chữ đen chưng hai bên bàn thờ, cũng một nồi đầy thịt heo kho chung với cá lóc, một nồi canh lớn khổ qua dồn cá thác lác, một khạp da bò dưa cải tùa xại (tùa thì nhứt định là phải lớn rồi!). Anh em tôi cũng mặc quần áo mới, cũng có tiền lì xì, họp với bạn cùng lứa trong xóm thẩy xu vào lổ (đánh đáo), hoặc đứng coi người lớn chơi bầu cua cá cọp ăn tiền v.v... Hồng nhỏ nhứt mới bốn tuổi (tròn ba tuổi theo khai sanh) chậm rải theo tôi và Điểm la cà hết sân nhà này đến sân nhà khác trong xóm, điều mà ngày thường chúng tôi ít khi dám làm, vì má tôi cấm ngặt, dù không ai rầy la ngăn cản gì cả.

Phước Hồng nhỏ tuổi, nhưng lại có vẻ lớn xương. Đi chậm mà nói cũng chậm, tôi cứ mắng em là chậm như con trâu cui. Hồng rất gan dạ, chịu đựng giỏi. Một hôm, theo chúng tôi ra nhà bà ngoại ở Rạch Gốc, Hồng chơi với Thành vì cùng tuổi Sửu. Không biết hai đứa gây gổ tranh giành ra sao mà khi cậu Tám tôi và tôi nghe lụp cụp trên bộ ngựa gỏ (bộ ván kê giữa nhà, gồm ba miếng gỗ đen láng rất nặng, mỗi miếng rộng chừng 8 tấc, dầy chừng một gang tay, dài hơn hai thước). Cùng chạy ra xem, thì thấy Hồng hai tay vòng ôm bó hai tay Thành trước ngực khiến Thành không nhúc nhích được. Thành bèn ngả dài ra ngựa gỏ, thì cũng bị Hồng đè lên trên. Thành cố lăn được, thì đầu hai đứa đụng trên mặt bộ ngựa gỏ. Thành lăn được bao nhiêu lần thì đầu hai đứa cụng vào mặt ngựa bấy nhiêu lần. Thành đau thì khóc, còn Hồng thì cứ ôm Thành chặt cứng, không khóc mà cũng không buông. Lần khác, một hôm, má tôi dẫn Hồng vào nhà thương, gặp “quan thầy” (danh xưng dành cho y sĩ hồi đó) Tô Phương Ký ( ba của các anh Tô Phương Hiếu, Tô Phương Trung, và Tô Phương Nghĩa - anh Nghiã là bạn học cùng lớp với tôi). Ông Ký hay chọc Hồng bằng cách đòi trồng trái hay chích thuốc, nhưng Hồng không bao giờ tỏ ra sợ sệt chi cả. Quan thầy Tô Phương Ký rất thích Hồng dù ông rất đông con. Có khi ông nói đùa rằng Hồng về ở nhà ông, nhưng Hồng không chịu, trả lời ngắn ngủn rằng:” Tui không đi đâu hết, tui ở nhà với má tui” khiến ông Ký cười ngất, khen Hồng không biết sợ ai cả.

Vì nhà gần trường, bước qua con lộ làng ra Thới An, qua khỏi nhà “giây thép” chợ quận (chi bưu điện sau này), là tới trường; đi bộ chừng 50 thước. Trong nhà chỉ có mình tôi đi học dù chẳng tốn hao bao nhiêu, nhưng nhà tôi vốn nghèo, má tôi phải chật vật lo may thuê vá mướn, chợ búa cơm nước cho chúng tôi. Việc học hành thì tôi tự lo lấy, bài nào không biết hay không làm trước được, thì chờ chiều chiều, mà chiều nào cũng vậy, chừng mặt trời sắp lặn, thì hai cậu tôi đi bộ từ Rạch Gốc vào chợ Ô Môn, gặp gỡ trò chuyện với bạn bè, khuya khuya về ghé lại, tôi đem những “bài bí” ra hỏi thì được dẫn giải tận tường. Tôi vừa học, vừa chơi, vừa đọc kiếm hiệp, vừa mượn những cuốn sách hồng của Nam Cao, Tô Hoài v.v... đọc thêm, nhưng hàng tháng vẫn được điểm cao có khi còn được Cô khen là siêng năng nữa, vì không có bài nào không thuộc, không có bài nào không làm hay nạp trễ, nhứt là môn toán, cộng trừ nhơn chia, và làm toán rợ là tôi rất rành, dễ giựt điểm.

Gần nghỉ hè 1940, học trò lớp tư lại lo lắng không biết mình sẽ được lên lớp ba A hay bị qua lớp ba B. Lớp ba A ở bên kia cầu sắt, sau chùa ông Bổn, do thầy Lưu Nhơn dạy. Lớp ba B ở cạnh lớp tư chúng tôi đang học, chỉ bước thêm mấy bước là vào lớp do cô giáo Sang dạy. Riêng tôi, nếu lên lớp A thì phải qua cầu mỗi ngày 4 lần đi về, vì học hai buổi mỗi ngày. Lên lớp ba B thì ngại cô giáo Sang, vì cô ăn trầu luôn miệng, nhổ cốt trầu suốt ngày, mà cũng hay cú đầu học trò bạt mạng không biết đâu mà né tránh. Nghĩ thầm như vậy, chớ thời kỳ chúng tôi, học trò có được biết gì nhiều, mà tính chuyện chọn với lựa.

Thực ra, Cô Ba Hạnh hoàn toàn quyết định việc chia học trò thành hai toán lên lớp ba. Trường chỉ có một lớp tư mà có hai lớp ba A và B, vì cả 2 lớp ba đều có sẳn một số học sinh năm trước ở lại. Nguyên chế độ học hành thời Pháp thuộc, bày ra nhiều cản trở đường học vấn cho học sinh Việt Nam. Từ lớp ba lên lớp nhì phải dự kỳ thi tuyển, số học sinh được tuyển rất hạn chế, mỗi năm chỉ nhận 45. Những học sinh đã kém may mắn trong kỳ thi lên lớp nhì kỳ hè vừa rồi, nhưng còn trong hạn tuổi, được ở lại học thêm một năm chờ dự thi năm kế tiếp. Bởi vậy, học sinh lớp tư chia đôi cho 2 lớp ba thì vừa đủ. Ngoài ra, trường còn phải nhận một số học sinh lớp tư từ các trường làng khác như Thới An, Thới Lai, Giai Xuân (Ba Se), Thới Luông (Bằng Tăng) v.v...
Những học trò cưng như Đoàn Kim Huê, Châu Minh Nguyệt v.v... thì lên lớp ba B học với cô bảy Sang. Tôi được lên lớp ba A , phía bên kia cầu sắt, sau chùa Ông, học với thầy Lưu Nhơn, thường gọi là thầy ba Nhơn. Tại đây, tôi được gặp nhiều chị “ở lại” như chị chín Còn, chị Dự, chị Mười Phạm v.v..., nhiều anh như anh Nguyễn Long Giao, Nguyễn Phước Cương, Tống Hữu Minh v.v...

Khi tôi lên lớp ba thì Điểm bắt đầu vào lớp chót (Đồng Ấu). Điểm đi học được mấy tuần thì xảy ra chuyện Điểm bỏ lớp, không chịu vào trường. Ba má tôi dẫn Điểm vào lớp, giao cho cô giáo, thì một lát sau, Điểm lại vạch rào chun ra chạy về nhà. Má tôi đánh, ba tôi đánh, rồi cậu Bảy tôi cũng đánh. Hăm he, đòn vọt gì mặc kệ, Điểm nhứt định ở nhà chăn vịt, không đi học. Sau cùng, ba tôi và cậu tôi đành lấy giây luộc trói tay chưn Điểm treo lên xà nhà, xoay tròn rồi buông ra, giây nhả vòng xoay ngược; dù bị chóng mặt té nhủi đứng không vững, Điểm vẫn không chịu đi học. Túng thế, ba tôi lấy chai dấm đổ vào lổ mủi khiến Điểm bị sặc chua, đành chịu ôm tập theo má tôi trở vào trường. Sau này, tìm hiểu nguyên nhân, thì Điểm bị hai anh em sanh đôi (con cậu ba Đáo, chủ tiệm thuốc bắc bên chợ) ăn hiếp. Điểm nhỏ con bị hai thằng lớn hơn, lấn đánh mỗi ngày, mà không dám thưa cô, vì hai đứa nó hăm, nếu thưa thì chúng sẽ đánh nhiều hơn. Bị ăn hiếp, mà không dám thưa cô, Điểm đành bỏ học, cải ba má tôi cho đến nỗi bị đòn cả ngày hôm đó. Vì biết gốc cậu ba Đáo, má tôi rồi cậu Tám tôi qua gặp cậu, cho hay hai thằng con du côn ăn hiếp một đứa nhỏ hơn tụi nó. Hai thằng bị một trận đòn ở nhà, mà vào lớp cũng Cô bị rầy la nên vụ này yên đi; Điểm đi học lại bình thường. Tôi học lớp ba A, bên kia cầu, trưa về, lo ăn rồi đi, không hay biết. Chiều về, rảnh rang mới được nghe má tôi kể lại. May mà giải quyết được vấn đề hai đứa con trai của cậu ba Đáo, cho Điểm chịu đi học lại, bằng không thì có thể Điểm bỏ học. Trẻ không được chăm sóc hỏi han, đành bỏ học chịu dốt là chuyện thông thường của thời kỳ 1940-1945.

Cũng nhân vụ Điểm bị đòn, má tôi cũng kể thêm chuyện của Hồng. Khi Điểm bị trói tay chưn treo lên xà nhà, xoay vòng tròn, rồi bị đổ nước vào mủi phải sặc, thì Hồng đứng nhìn rồi cười nói với Điểm: “Anh sợ, tui không sợ”. Biết Hồng gan lì, không răn ngay thì sẽ khó trị sau này; ba tôi cho treo Hồng lên quay thử mấy vòng; thì thật tình Hồng có nhắm mắt lại, nhưng vẫn không sợ. Ba tôi lấy nước đổ một chút vào lổ mủi cu cậu, thì cậu sặc chới với kêu: “Thả con xuống, thả con xuống”. Má tôi hỏi: “Con sợ không?” thì Hồng nói lia lịa: “Con sợ rồi! Con sợ rồi”. Từ đó không dám làm tàng kiêu ngạo với Điểm, mà cũng không dám cải má tôi, vì cu cậu sợ bị treo và đổ nước vào lổ mủi.
Chuyện Điểm ngưng học một ngày rồi cũng lắng yên. Tôi vẫn ngày ngày bốn lượt đi về, bốn lượt qua lại cây cầu sắt Ô Môn. Thầy Nhơn ngày ngày dạy đều đặn, nhưng tôi không nhớ nhiều đã học được những gì với Thầy. Chỉ nhớ ở đầu lớp có mảnh vườn trồng nhiều loại rau đậu, chúng tôi thường ra đây nhổ cỏ trong giờ học: đứa thì làm xong bài nạp trước thầy cho ra đó chơi, đứa thì làm biếng không chịu ở trong lớp nghe thầy giảng, đứa thì bị thầy phạt vì không thuộc bài, đứa thì lén trốn ra vườn vừa nhổ cỏ vừa nói chuyện, bởi trong lớp bị cấm. Không phải thầy không chăm sóc học trò, cũng không phải thầy không kiểm soát, nhưng hình như đối với thầy, đứa nào biết lo học siêng năng nghe thầy dạy thì tốt, bằng không thì thôi, thầy không đánh mắng hay rầy phạt nghiêm khắc, dù học trò rất sợ và mến thầy. Thầy để nhiều thì giờ khuyên bảo các trò phải lo chăm chỉ học hành. Thầy thường nhắc đi nhắc lại câu: “Học giả hảo, bất học giả hảo?” và giải ngh~aã đen rằng: “Học thì tốt, không học thì tốt”? Xong thầy mới cười cười, giảng rõ hơn rằng: “ Các trò phải hiểu nghĩa câu này: “Học tốt hơn, hay không học tốt hơn”; chớ không được hiểu sai rằng: “Học cũng tốt mà không học cũng tốt”. Thầy thường nhắc đi nhắc lại mấy câu ngắn trong Tam Tự Kinh, câu nào cũng ngụ ý khuyến học như:
Ấu bất học, lão hà vi (Trẻ mà không học lớn mò sao ra)
Ngọc bất trác, bất thành khí (Ngọc không mài, không thành quí)
Nhơn bất học, bất tri lý (Người không học, không hiểu nghĩa lý v.v...)
hoặc mấy câu trong Ngũ Thiên Tự như:
Ấu tiểu tu cần học (Trẻ nhỏ cần lo học)
Văn chương khả lập thân v.v... (Văn chương lập đặng thân)
Tuy nhiên bây giờ, thỉnh thoảng thử ngẩm lại những bài tập đọc trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng, thì chỉ nhớ còn mang máng được hai bài: một là “Ôi! cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”, hai là “Quê hương đẹp hơn cả” ; còn bao nhiêu bài khác thì đã trả hết lại cho thầy!!!

Trong chương trình lớp ba, mà thỉnh thoảng thầy cho xem thí nghiệm nhỏ về khoa học như ly đang đựng nước xanh, thầy nhỏ mấy giọt “thuốc thần” vào đó, thì nước thành màu đỏ (sau này khi nhập Phan Thanh Giản đến môn Hóa học mới biết vụ này - học thuộc lòng, vì phòng thí nghiệm bị dẹp từ khi dời qua trường nhỏ). Thầy cũng trổ tài diệu thủ (hát xiệc) cho chúng tôi xem trong giờ giải trí như xoay dĩa, lấy trứng gà từ khăn mu xoa (mouchoir) v.v... Đặc biệt thầy kể hay chuyện: xưa như chuyện ông Cổ Tẩu, cha vua Thuấn – chuyện này như chuyện bên Tàu - có giặc hai bên đánh xáp lá cà chém nhau bằng đao kiếm như trong võ hiệp, hoặc lính mang loại giày có xẻ kẻ ngón chưn cái để tiện leo giây vượt lên tường công thành - do cậu Tám La Hưng, em của thiếm về thăm bà con bên Tàu về kể lại.

Tôi tiếp tục đọc kiếm hiệp đăng rải rác trong các cuốn quảng cáo, vì mới quen với Tống Hữu Minh có nhiều sách thuốc của Nhị Thiên Đường. Tôi bắt đầu đọc truyện Tầu vì quen thêm với Nguyễn Phước Cương có nhiều bộ như Phi Long diễn nghĩa, Vạn Huê Lầu, Ngũ Hổ Bình Tây, Bắc Tống v.v... Minh, Cương và tôi là bộ ba “chặt không đứt bứt không rời” suốt năm lớp ba.

Tôi học lớp ba được nửa năm thì Hồng đau. Ba tôi hay tin vội chạy về lo thuốc thang cho Hồng. Một chiều, Hồng đang mê man, thì bà ngoại tôi từ Rạch Gốc vô thăm. Tôi mừng rở chạy vào cho má tôi hay, và không hiểu tại sao tôi lại quay sang Hồng gọi thảng thốt:”Hồng ơi! Chết mày rồi! bà ngoại vô tới kia kìa!” Ba tôi nạt: ”Đồ chết dầm! Ăn nói bậy bạ!” Tôi buồn xo vì nói bậy bị rầy. Bịnh tình của Hồng càng ngày càng nặng, nằm tại nhà mấy hôm, sau đó phải mang vào nhà thương, chỉ được thêm hai ngày thì Hồng chết. Sau này nghe ba tôi nói lại thì Hồng bị ban đen (fièvre typhoide) vì khi khâm liệm thấy mình mẫy của Hồng bị máu tụ bầm đen nhiều chỗ. Sau khi chôn Hồng, ba má tôi không còn can đảm ở trong căn nhà gần cầu sắt Ô Môn vì buồn quá. Ba má tôi đem tôi và Điểm về tạm trú với bên ngoại tôi ở xóm Rạch Gốc. Ba tôi ở đây mấy hôm thì cô Mười tôi từ Bà Đồ lên thăm. Khi cô đến thì nhằm lúc ba tôi đang mệt nằm ngủ. Cô vừa đến bên cạnh, kêu”Út! Út!” thì ba tôi choàng tỉnh gọi thảng thốt hai tiếng”Chị Mười” rồi ba tôi trực thị (mắt trợn trắng mắt đứng tròng). Cô Mười tôi sợ quá chạy lui, thì ba tôi không đi được nữa, mà ráng bò lết theo cô Mười tôi. Cả nhà hốt hoảng, hai cậu tôi lo vực ba tôi dậy, gọi ba tôi tỉnh lại. Vì tình trạng tinh thần ba tôi sa sút như vậy, nên cô Mười tôi xin bà ngoại tôi cho rước ba tôi về Bà Đồ lo thuốc men bồi dưỡng lại.

Hơn tháng sau, khi bình tĩnh lại, má tôi đem tôi và Điểm trở về nhà cũ cho tôi đi học dễ hơn, vì từ hôm về ở Rạch Gốc mỗi sáng tôi phải đi bộ hơn cây số rưởi đi học, không dám bỏ lớp lâu. Được ít lâu, ba tôi cũng về đây. Một hôm dượng hai Khìa từ rạch Săn Trắng Trên lên chợ Ô Môn ghé thăm, ngồi nói chuyện với ba tôi. Dượng nhắc lại câu chuyện cũ khi ba tôi quyết định cho cắt ngắn một cây cột hàng ba, hồi dựng ngôi nhà chúng tôi đang ở. Dượng nói: “Hai cây cột cái như vợ chồng chủ nhà. Bốn cột nhỏ chỉ về con cái. Vậy mà cậu Út đem cắt tề một cây cột hàng ba, thì làm sao bầy con của cậu không sút bớt một đứa được?” Rồi má tôi nhắc lại chuyện chị Cơ đội khăn tang đến nhà mua guốc sơn mài sáng mùng một Tết! Kế đến ba tôi nhắc lại lời nói gở của tôi khi Hồng đang đau nặng; để cùng nhau kết luận rằng:“có những điềm báo trước diễn ra như vậy, thì phải hiểu là số mạng non yểu của Hồng đã an bài”!!! Thương Hồng cực khổ: mới sanh ra mấy tháng thì bị bác Ba về lấy nhà thờ, ba tôi thua buồn bỏ quê đi làm xa, má tôi đùm túm chúng tôi về tá túc bên ngoại, về nhà cất gần chợ chẳng được bao lâu thì Hồng chết. Tôi bắt đầu biết băn khoăn về cái chết từ sau khi mất Hồng. Có hôm thẩn thờ ngó mông ngoài sân nhìn mây trên trời, tôi hỏi má tôi:”Không biết sau này khi chết rồi thì mình đi đâu?”, thì bị má tôi rầy là miệng ăn mắm muối, nói chuyện vô duyên!?.

Việc Phước Hồng chết lần hồi nguôi ngoai, tôi vẫn đi học đều đặn, nhưng thật tình không mấy gì phấn khởi. Còn hai tháng thì nghỉ hè, ông đốc Đoàn Hưng Tường cho tổ chức cuộc thi thử lên lớp nhì một năm (Cours Moyen 1 ère Année). Ông Đốc định trước một số điểm trung bình làm chuẩn. Học trò hai lớp A, B cùng thi một buổi. Đến cuối tuần được cho hay: 5 học sinh lớp ba A trong đó có tôi chỉ học một năm, và 3 học sinh lớp ba B trong đó có Đoàn Kim Huê trên điểm trung bình. Tôi rất mừng và rất phồng mủi vì các anh chị cùng lớp trầm trồ khen tôi mới học một năm mà thi thử đã đậu, thì khi thi thiệt chắc sẽ được tuyển v.v...

Sau khi biết kết quả cuộc thi thử, thầy ba Nhơn và cô bảy Sang khuyến khích các học trò ráng học chăm chỉ hơn nữa, vì thi thật là thi tuyển lại càng khó hơn, phải tranh đua từng điểm mỗi bài, để được xếp hạng cao chừng nào hay chừng nấy bởi số học sinh dự thi sẽ rất đông, vì trường phải nhận thí sinh từ nhiều lớp ba các làng khác như Thới An, Thới Lai, Trường Lạc, Giai Xuân (Ba Se), Thới Luông (Bằng Tăng) v.v... Gần 150 thí sinh mà chỉ chọn 36 với 4 trò dự khuyết cho một lớp. Do đó, học trò sở tại phải cố gắng mới mong được lên lớp nhì một năm (Cours moyen trướng 1 ère année) trường mình. Thật ra cả thầy ba Nhơn cùng cô bảy Sang đều muốn học trò của mình đậu nhiều và xếp hạng cao trong kỳ thi tuyển này, để giữ uy tín là thầy dạy giỏi của trường, nên suốt hai tháng chót, đều chú trọng rèn luyện hai môn chánh: toán và dictée. Dù rất vững về môn đọc (lecture) và bài thuộc lòng (récitation), tôi phải cố gắng nhiều về môn dictée (ám tả) - sau đổi thành orthographe (chánh tả) - cho khỏi bị nhiều lỗi (fautes). Riêng môn toán (arithmétique) thì tôi rất tự tin, vì tôi đã làm các bài tập (exercices) của lớp nhì, do cậu Tám tôi dạy trước, khi tôi nhập học lớp ba.

Đến ngày thi, trò nào cũng lo âu không biết số phận mình ra sao, vì thấy học trò các nơi khác về dự thi cũng nhiều! Tôi rất an tâm vì tin tưởng vào lần thi thử, mà nếu rớt đi nữa, tôi tự an ủi chắc vẫn còn được học lại một năm chờ khóa thi kế tiếp! Vào lớp thi các bài trọn ngày, rồi về nhà chờ kết quả. Nhưng rốt cuộc, khi có kết quả, tôi lại đậu dễ dàng và đậu khá cao. Thầy ba Nhơn có vò đầu tôi khen duy nhứt một lần đó: vì suốt năm học với thầy, tôi chỉ ít phá ít bị rầy, chớ không phải là học trò giỏi của thầy, dù tôi là một trong 5 đứa đã đậu trong lần thi thử.



L o n g T u y ề n
Khởi từ cuối tháng 12 năm 1996.
Duyệt lại xong 01 giờ chiều ngày 08 tháng 04 năm 2006.

Image


13152



Image


b a .n ă m .l u y ệ n .t h i
...........S Ơ .H Ọ C
____________________________________________________________________________



Khai trường năm 1942, chúng tôi nhập học với thầy Từ Tích. Thiếm (vợ thầy) là người trong xóm Rạch Gốc, cách nhà ngoại tôi chừng hơn 100 thước. Con trai lớn của thầy tên Triết thỉnh thoảng về thăm bên ngoại, đi ngang nhà, tôi có gặp mấy lần nên biết, cũng học chung lớp với tôi từ lớp nhì một năm lên lớp nhứt. Ngoài Triết, cùng lớp với tôi năm đó, hơn 36 đứa nhưng tôi chỉ còn nhớ vài tên: Nguyễn Long Giao (sau là dân biểu Đệ Nhứt Cộng Hòa), Trần Thành Giao (em Trần Bửu Kiếm), Tô Phương Nghĩa (con quan thầy thuốc Tô Phương Ký), Trần Cao Tuấn (con thầy nhứt Trần Văn Sửu), Lê Ngọc Chính, Tiền Minh Đường, Tống Hữu Minh, Bùi Quang Kinh (sau là đại tá Không Quân), Ngô Quang Sắc, Nguyễn Hoàng (giống y tên như Chúa Tiên), Nguyễn Trọng Thuật (con chú chín Xén), Hàng Thế Khương, Phạm Quang Huề, Trương Phú Hậu (từ Thới Lai ra học). Cả bốn anh Thuật, Khương, Huề, Hậu đều theo bỏ học theo kháng chiến từ mùa thu 1945. Phía các chị có: Nguyễn Thị Còn, Nguyễn Thị Dự, Pham Thị Mười (con ông mục sư kiêm hội đồng Nghiêm), Nguyễn Thị Mỹ Lệ, Đoàn Kim Huê, Châu Minh Nguyệt, Bùi Thị Hường (được ông đốc Tường tặng biệt danh là “nữ sĩ đủa” vì trò này đánh đủa tài tình) v.v...

Khi tôi đậu kỳ thi tuyển từ lớp ba lên lớp nhì, sắp nhập học với thầy Tích, thì bà ngoại tôi hơi lo, vì có chuyện xích mích cũ từ hồi cậu Bảy tôi (tên Hà Văn Nhuận tự Đổng) học với thầy 12 năm trước. Nhưng tôi không biết gì hơn, cho đến một hôm tôi nói chuyện trong lớp, bị thầy dùng thước vuôn bằng gỏ chạy chỉ thao, khẻ tay tôi 4 khẻ, mỗi bên 2 khẻ. Hai gò thịt dưới ngón cái bị bầm. Về nhà má tôi lật tay thấy dấu bầm, thì thở ra lấy nước muối thoa cho tôi mà cũng không nói gì. Sau đó ít lâu, má tôi đau, tôi vào lớp học lơ đểnh, thầy hỏi tôi không nghe nên không trả lời. Thầy nổi giận, lại đánh cho mấy khẻ rồi đuổi tôi ra khỏi lớp. Tôi đành khóc mà về nhà. Má tôi đang đau nhưng sợ tôi mất học; ráng gượng mặc áo quần chỉnh tề, dẫn tôi vào xin lỗi thầy và năn nỉ thầy cho tôi vào lớp lại. Thầy nhận lời cho tôi vào lớp, má tôi ra về. Sau đó, thầy quay ra hằn học với tôi: “Tao biết mà! Mày có thằng cậu bị tao đánh lổ đầu, ông ngoại mày cậy là Hương Chức làng vào trường thưa kiện với ông Đốc. Đáng lẽ tao đuổi mày luôn cho mày dốt, nhưng thấy má mày đau mà ráng vô đây năn nỉ, nên tao tha cho mày một lần, kẻo cậu mày cho tao là tiểu nhơn.” Tôi có hiểu ất giáp gì đâu, chỉ biết cúi đầu lắng nghe, mà không dám nhìn thầy, vì sợ thầy lại nổi giận đuổi ra khỏi lớp.

Chiều về nhà, tôi đem mấy câu thầy mắng nhiếc kể lại cho má tôi nghe; thì má tôi nói rằng: “Con ráng lo học; nhứt là đừng nói chuyện trong lớp; để được tiếp tục học cho nên người”. Xong má tôi kể lại nguyên nhân tại sao mà thầy ghét tôi. Vì khi cậu Bảy tôi học với thầy, phạm lỗi gì đó, bị thầy dùng búa nắn bằng đất sét do học trò nạp chấm điểm, đánh phun máu đầu, phải dẫn qua nhà thương xức thuốc cầm máu! Khi cho học trò nắn búa bằng đất sét làm thủ công (travail manuel), có thể Thầy để hé lộ tư tưởng thiên tả của thầy từ năm xa xôi đó! (Búa liềm mà!). Ông ngoại tôi khi đó đang làm Hương Chánh làng Thới Luông xót ruột, đến phàn nàn với đốc học trường (dân quê vẫn gọi là ông Đốc). Rằng đồng ý khi dạy răn thầy cần phải đánh học trò biếng nhác hay phá phách, nhưng xin đánh bằng roi vào mông, mà không nên đánh trên đầu, vì khỏ đầu thì e động óc, hơn nữa đầu là chỗ thờ ông bà, mà thầy khỏ đến phun máu, thì ra khỏi mức giáo hóa! Ông Đốc vốn biết thầy hay đánh học trò quá đáng, mà lần ấy đánh đến nỗi phải dẫn đi nhà thương cầm máu, Ông cũng không bằng lòng; nên khi ông ngoại tôi là Hương Chánh trong Ban Hội Tề có liên quan đến việc học trong làng đến khiếu nại; thì ông Đốc có phiền hà thầy. Do đó mà thầy để tâm, thầy biết tôi là cháu ngoại của Hương Chánh Hên, nhưng tôi lại chỉ biết rắn mắc, nói chuyện trong lớp, lơ đảng không nghe thầy hỏi; nên có dịp thầy trút gáo thù hằn cho tôi lãnh. May mà thầy cũng có từ tâm (thầy vốn họ Từ mà!), vì thấy má tôi đau yếu mà ráng đi năn nỉ cho con; nên thầy cũng rộng dung cho tôi. Tuy nhiên sau đó, tôi cũng yên thân vì một là tôi học giỏi, không bị thầy rầy; hai là tôi rất sợ bị đuổi học lần nữa, nên giữ gìn rất kỹ, không dám hé môi trong lớp cho đến mãn năm học đó. Gần bãi trường, thì có tin thầy bị đổi đi, vì thầy hoạt động quốc sự là điều rất cấm kỵ dưới thời Pháp thuộc. Hôm tiển đưa thầy, chúng tôi học trò lớp nhì một năm (Cours Moyen 1 ère Année) có xin phép làm một tiệc nhỏ đưa thầy. Cũng có nước ngọt xá xị, có bánh kẹp do các chị từ nhà mang vào. Tôi được cử ra thảo trước và đọc diễn văn tiển thầy, đến đoạn nói lên nỗi buồn thầy trò chia cách, tôi mũi lòng khóc thật sự, còn các chị thì nức nở chan hòa, khiến thầy khóc theo, lấy khăn chùi nước mắt và nghẹn ngào khi thốt những lời dặn dò! Sau này, khi Việt Minh nắm chánh quyền (1945) thì thầy lại xuất hiện, mới biết thầy theo cộng sản từ trước đã lâu. Thầy có người em trai, tên Từ Càng rất hăng say trong các bộ môn thể thao, nhứt là đá banh (bóng tròn). Khi bắt đầu kháng chiến, chú Từ Càng là “đại đội trưởng du kích” giữ chợ quận Ô Môn, cũng nổi danh trong mấy năm 1945-1949, sau Huỳnh Phan Hộ (chết trong trận Tầm Vu) và Hương Quản Hoài (cũng cầu thủ đá banh). Trong số cầu thủ bóng tròn gốc dân quận Ô Môn, có thủ môn đội túc cầu Việt Nam Lê Văn Tài nức tiếng quốc tế thời trước 1945, Thủ môn Tài là người gốc làng Thới Lai Vàm Nhon, vì không chịu bỏ bộ áo quần có ba màu xanh trắng đỏ, bị khép tội Việt gian và bị hạ sát tại nhà trong mùa thu 1945.

Sau khi chúng tôi tiển thầy Từ Tích bị đổi đi, thì bãi trường nghỉ hè.

Khi chuẩn bị rời lớp nhì một năm (Cours Moyen 1 ère Année) lên lớp nhì hai năm (Cours Moyen 2 ème Année), học trò đứa nào cũng sợ vì phải học với ông Đốc Học Đoàn Hưng Tường. Sợ vì Thầy rất khó, trên bàn có sẵn cây roi mây dài gần thước rưởi, để sẵn cạnh bàn: đứa nào phạm lỗi, nghịch ngợm hay lười biếng, thì thầy sẵn sàng phết cho mấy roi vào đầu hay vào mông. Sợ thì sợ nhưng vẫn muốn học với thầy, vì nghe đồn thầy lo lắng chuẩn bị cho học trò lên lớp nhứt là lớp sẽ thi bằng Sơ Học Yếu Lược cuối năm sau. Học giỏi ở lớp nhì hai năm của thầy, khi lên lớp nhứt học sẽ dễ dàng! Và nếu cuối năm lớp nhứt đi thi bằng C.E.P.C.I. (Certificat d’Éùtudes Primaires Complémentaires Indochinoises) mà học sinh đậu nhiều với điểm trung bình cao, đem thêm tiếng tốt về cho trường do thầy làm “đốc học” trách nhiệm sự về học vấn của trẻ con toàn quận.

Một chút về thầy Đoàn Hưng Tường. Từ khi nhập học lớp Đồng Ấu, tôi đã thấy thầy hằng ngày. Thầy dong dỏng cao, có thể thầy là người cao nhứt trong các thầy cô tại trường. Thầy luôn mang kiến cận thị. Tuy hớt tóc cao theo tân thời, nhưng mỗi khi bước ra đường thầy đều mặc áo dài trắng. Thầy Tường muốn duy trì, gìn giữ tác phong của các nhà nho thời xưa. Không bao giờ tôi thấy thầy mặc âu phục, dù thầy đã đậu bằng Brevet Élémentaire của chương trình Pháp, rất hiếm vào thời đó.

Thầy luôn luôn mỗi ngày hai buổi đi bộ từ nhà đến trường từ năm 1938 đến 1942. Đến khoảng hè 1942, Thầy cất một cái nhà sàn trên miếng đất ngang trường, bên kia bờ lộ tỉnh Cần Thơ Long Xuyên. Mỗi khi thầy đi trên đường thầy bước rất khoan thai. Có khi gió thổi hai tà áo trắng của thầy phất phơ trông rất ung dung nhàn nhã. Thái độ của thầy luôn trang nghiêm đạo mạo. Thầy thường mỉn cười khi nói chuyện với khách lạ hay với học trò, nhưng không bao giờ thầy cười ra tiếng. Nghe người lớn nói nhau rằng thầy rất đam mê tứ sắc. Có nghe nhưng không bao giờ được thấy, vì khung cảnh xã hội ở quận thời bấy giờ, rất ngăn cách giữa các từng lớp “quan dân”; chỗ các Thầy “điều binh khiển tướng” lớp con nít cỡ tôi không được biết. Hơn nữa, còn khoảng cách giữa thầy trò. theo khuôn phép lễ giáo, ngôi “thầy” cao hơn ngôi “cha”. Quân, Sư, Phụ!

Ngày đầu nhập học, là ngày học trò lảnh sách “của trường cho mượn” như mọi năm. Thầy phát cho mỗi đứa mấy quyển sách: Lecture (Quốc văn), Grammaire (Văn phạm), Géographie (Địa dư), Arithmétique (Toán pháp), Lecons de choses (Cách trí) v.v. Tôi thích nhứt quyển Géographie nhiều màu có hình nước Pháp và nhiều quốc gia trên thế giới. Tiền định chăng vì sau này tôi có dịp đến vài chỗ trong những nước này? Có thể Thầy đã chuẩn bị người thay thế Thầy từ trước, nên sau hôm phát sách, Thầy chỉ dạy chúng tôi có hai tuần. Đầu tuần thứ ba, Thầy đưa cô ba Lưu Hữu Hạnh lên dạy lớp nhì hai năm thay thầy, vì cô vừa học vừa thi đậu bằng Thành Chung (Diplôme d’Études Primaires Supérieures Indochinoises, gọi tắc là D.E.P.S.I.). Thầy giao lớp nhì 2 năm cho cô ba Hạnh, để thầy có nhiều thì giờ chuyên lo điều khiển toàn bộ khu trường 7 lớp kể cả lớp ba A, bên kia sông sau chùa ông Bổn, gần dinh quận. Hay tin này, học trò đứa nào cũng mừng, vì nhiều đứa đã có học với cô hồi lớp tư (trong đó có tôi), hay đã nghe tiếng cô hiền hậu dễ dãi đối với học trò từ trước.

Năm lớp nhì hai năm, có mấy điều đáng nhớ.

Mới nhập trường chưa đầy tuần; một buổi trưa, tôi vào trường sớm, chờ lớp học buổi chiều. Quen tánh rắn mắc, tôi đi vòng quanh. Đến đầu xông lớp chót, thấy có cây thang dựa vách. Dòm chung quanh không có ai. Tôi leo thang lên tới chót vót, dòm mút đầu kia mái trường; mỏm cao là đầu xông lớp nhứt. Tôi leo lên mái trường, bò lên chỏm mái, rồi đi dọc trên con lươn xây bằng gạch. Từ trên nóc trường dòm xuống, thú vị lắm, vì cái gì cũng thấy khác. Đi về trọn vòng thứ nhứt, nhìn xuống sân không thấy ai. Tôi lại chậm rãi đi trên con lươn lần thứ hai. Tới chỏm cao lớp nhứt, tôi quay trở lại. Được chừng nửa đường, nhìn ra ngoài lộ, tôi thấy ông đốc Tường đứng đó hồi nào không biết. Ông mỉm cười bảo: “Con chậm chậm trở lại, rồi leo xuống”. Tôi riu ríu nghe theo. Tuột thang vừa bỏ chưn xuống đất, thấy Thầy đã đứng đó lặng lẽ mỉm cười: “Lát nữa, Thầy sẽ trị tội con”. Quả nhiên, vừa vào lớp, thầy kêu tên tôi liền. Tôi vừa bước tới gần bàn thầy, thầy chụp cây roi mây quất vào đầu tôi liền mấy cái. Thầy đánh đau đến vải đái ra quần, mà không dám khóc thành tiếng. Ôi! hồi lớp chót tôi bị con gái Thầy khép tội oan “hay nói chuyện trong lớp” khỏ đầu tôi hai cái, rồi bốn năm sau, cũng vì rắn mắc chạy trên nóc trường, tôi bị thầy quất roi mây vô đầu, phạt “ưng” ở lớp nhì hai năm! Đánh xong, thầy cho về chỗ. Tôi riu ríu đi chậm chậm để dấu chưn ướt trên gạch. Tôi vừa ngồi xuống, thầy lại bảo: “Tội trò phải phạt ở lại buổi trưa suốt một tháng, bắt đầu từ trưa nay”. Trưa đó, cả lớp ra về, một mình tôi ở lại. Thầy ngồi trên bàn lặng lẽ chấm bài. Tôi lo học bài buổi chiều. Khoảng nửa giờ, Thầy ngừng tay rồi bảo: “Cho trò Trang về”. Tôi xếp tập lại, xong lên trước chỗ Thầy ngồi quì gối lạy Thầy hai lạy, xin Thầy tha tội. Thầy ôn tồn bảo: “Ừ! Thầy tha cho lần này. Đừng rắn mắc như vậy nữa. Nguy hiểm lắm.”

Mỗi thứ năm nghỉ học, trường có mở lớp dạy chữ nho (môn Charactères Chinois sau này gọi là Hán văn) cho học sinh lớp nhì và lớp nhứt, để có đủ sức thi nhiệm ý (facultatif) trong bằng Sơ Học Yếu Lược (C.E.P.C.I.) Nhiệm ý, có nghĩa là học trò có quyền chọn môn này hay không chọn, khi làm đơn dự thi. Nếu làm bài được trên điểm trung bình (10) thì số điểm cao hơn 10 sẽ được cọng thêm vào điểm chung của kỳ thi. Thời chúng tôi 1944 thi bằng Sơ Học khó khăn, thêm được điểm nào quý điểm ấy. Vì vậy phần đông học trò lớp nhì 2 năm đều ghi tên xin học theo mấy anh chị lớp nhứt sắp đi thi. Thầy Lưu Nhơn dạy môn này. Thầy dạy rất dễ học dễ hiểu. Tôi vốn có học chút đỉnh chữ nho ở nhà nên ham lắm, vì mãn giờ học còn được chơi trong sân trường, một lát rồi mới về nhà. Thầy dạy viết từ chữ rồi đọc lớn lên; nhiều chữ ráp thành câu, hay Thầy dạy trọn câu trong Tam Tự Kinh (như Nhơn chi sơ, tánh bản thiện) hoặc Ngũ Thiên Tự (như Thiên tử trọng hiền hào. Văn chương giáo nhĩ tào. Vạn ban giai hạ phẩm. Duy chỉ đọc thư cao). Nhờ học với Thầy mà sau này, tôi vừa đọc ra vừa bói thêm để diễn được mười chữ trong đề thi Sơ Học.

Học chữ nho với thầy tuy có ích lợi cho thi Sơ học sau này, nhưng thật ra không ảnh hưởng đến tâm tưởng của tôi nhiều bằng những điều tôi học được với người con trai của thầy, tức anh tư Lưu Hữu Phước.

Mùa hè năm đó, mỗi sáng thứ năm, theo chương trình ấn định ba giờ chữ nho. Thầy dạy đủ cho chúng tôi học, bớt phần kể những chuyện xưa nay, nên chỉ khoảng một tiếng rưởi là đủ. Sau đó, thầy giao lớp cho anh Tư Lưu Hữu Phước. Khi vào lớp, anh dở cái mũ ni ra, thì thấy đầu anh trọc lóc, thì tụi tôi cười khì không kềm được, vì có bao giờ thấy anh lạ như vậy đâu? Tôi học lạy Phật từ nhỏ, thỉnh thoảng thấy ba tôi cạo trọc, thì biết là có khấn vái hay cầu khấn điều gì, nên xuống tóc cho tròn lời nguyện. Biết vậy nhưng vẫn không nín cười được khi thấy anh Tư trọc đầu. Anh Tư cũng cười theo “tụi tui”, rồi biểu: “Mấy em nghiêm chỉnh, anh Tư dạy mấy em hát”. Anh bắt đầu dạy chúng tôi bài “Đăng Đàn Cung” mà tôi còn nhớ vài câu như sau:
Theo gương cũ còn lưa
Ta cùng một lòng, ta mạnh bạo cười vui, hăng hái lên mà đi.
Cùng nhau tiến, gọi tiến lên đàng....
Đồng chung bước chưn gió bụi trên đường thầm mơ

(ai còn nhớ rõ bài này, xin bổ chính dùm)
Anh dạy chúng tôi một lúc, chúng tôi thuộc lời và hát theo anh hai ba lần cho thuần thục. Anh ngưng một chút, cho chúng tôi nghỉ xả hơi, rồi anh nói: “Anh có bài hát này, anh dạy mấy em hát, nghe!” Chúng tôi chịu liền. Anh bèn viết lời cho chúng tôi chép, khi chép xong câu chót thì anh viết lên hàng đầu bốn chữ “Sanh Viên Hành Khúc” rồi ghi thêm ở dưới (La Marche des Étudiants). Lần đầu tiên tôi hát chung với anh chị em những câu sau đây:
Này sanh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi, đi, đi, mở đường khai lối
.............................
Chớ quên rằng ta giòng giống Lạc Hồng


Tan bửa học về, gặp cậu Tám tôi, tôi kể chuyện anh Tư đầu trọc rồi cười. Cậu Tám tôi rầy: “Cháu không nên cười như vậy, mà phải kính trọng anh Tư. Vì anh làm 'quốc sự' nên bị Tây bắt nhốt và cạo đầu. Thầy phải xuống Tòa Bố làm giấy bảo đảm cho anh được tha, vì mới ra tù nên đầu anh còn trọc”. Tôi sợ lắm vì nghe chuyện tù rạt, đại sự không dám hỏi thêm. Thứ năm tuần sau, khi gặp anh, tôi không dám cười nữa. Anh dạy chúng tôi đã hát đi hát lại nhiều lần hai bài Chi Lăng, Bạch Đằng Giang. Chúng tôi đồng hát bài Bạch Đằng Giang một cách phấn khởi hăng hái vì bài dễ học mà cũng dễ hát; nhưng bài Chi Lăng không thể đồng hát được, chúng tôi tập mấy lần không khá, anh khuyên chúng tôi nên học cho thuộc lời và lắng nghe khi có người hát bài này!! Gần mãn hè, anh lại rời Ô Môn đi học (theo lời thầy cho biết). Dù không biết hát, nhưng từ đó tôi tìm chép lời trong những bài nhạc của anh. Từ những lời hát đó, tôi tìm trong các sách quốc văn giáo khoa thư để đọc về các anh hùng, các địa danh lịch sử. Sau này, khi lên trung học, bác năm tôi cho tôi một bộ “Việt Nam Sử Lược” của cụ Trần Trọng Kim; tôi dành trọn mùa hè năm 1 ère Année để đọc hai ba lần bộ sách này.

Một chuyện đáng nhớ do cô ba Hạnh kể lại: Một dịp khá lâu, thiếm (má của cô) nấu canh khoai ngọt. Sau khi nạo sạch ruột rồi, thiếm bỏ cái vỏ khoai trên đống than đước. Miếng vỏ khoai bị nạo hết ruột lăn xuống dưới nằm vào chỗ khuất, khi quét nhà không ai để ý. Mấy tháng sau thì thấy mấy lá khoai chen mấy khúc than đước nhô ra ngoài. Thiếm cho xếp lại đống than, thấy một củ khoai trọn vẹn lớn gấp đôi cái vỏ bị bỏ quên. Cô kể chuyện này mỗi khi có bài lecon de choses (cách trí) liên hệ đến sự trồng trọt, nên tôi còn nhớ nhập tâm.

Cũng trong năm học này, tôi bị chó hoang trong xóm cắn, phải nghỉ học theo má tôi xuống nhà thương Cần Thơ chích 21 mủi thuốc ngừa. Mỗi sáng, phải đưa bụng cho thầy 'phạm nhe' (infirmier, tức là y tá) chích một ống thuốc rất lớn màu trắng đục như sữa. Khi thầy rút kim ra, chỗ chích u như cái trứng gà. Vài mủi đầu còn có chỗ rộng rãi, từ mủi thứ chín trở đi, thầy 'phạm nhé phải lách mủi kim giửa hai cục u để bôm cho hết ống thuốc nên rất đau. Sau khi ra nhà thương, ba tháng sau, rờ bụng đếm, vẫn còn gần đủ 21 cục u lớn nhỏ khác nhau nằm chen quanh rún!

Trở về nhà, tôi lật đật lo đem trả bộ Vạn Huê Lầu mượn của Nguyễn Phước Cương; đem thả con cá thia thia chịu đói trong chai gần cả tháng! Đi học trở lại, chưa được hai tuần; một buổi sáng, thấy một ông mặc âu phục trắng thắt cà vạt, đi giày đen vào lớp. Theo lịnh của Cô, cả lớp chúng tôi đứng dậy im lặng. Ông Thanh Tra Tiểu Học vào lớp. Ông từ từ đến ngồi ngay vào ghế của cô ba Hạnh; còn Cô bước ra đứng cạnh bảng đen gần cửa, ra dấu cho chúng tôi ngồi xuống. Ông hỏi cô đang dạy môn gì theo emploi du temps (thời khóa biểu). Cô cho biết đang giờ Toán pháp (Arithmétique). Ông mở sổ lớn gọi tên một trò, hỏi một câu. Sau mỗi câu đáp, ông cho ngồi xuống, tự tay ông ghi điểm vào sổ; xong ông kêu tên trò khác. Nếu ông hỏi câu khác; thì chúng tôi biết câu đáp vừa rồi là đúng. Nếu một trò trả lời trật, ông kêu tên một tên kế tiếp; cho đến khi có câu trả lời đúng. Tùy theo cách trả lời của mỗi trò, ông tự tay ghi điểm vào sổ, không chê khen trò nào. Khi ông hỏi câu chót: “Trò nào biết; ông cho 10 điểm: Quelle est la racine carrée de 144? (Căn của 144)” Một mình tôi đưa tay. Ông gật đầu; tôi đứng dậy: “Dạ. 12” Ông hỏi: “Trò tên gì?” “Dạ, con tên Trang”. Môn kế tiếp là Sử ký. Tôi lại được 10 điểm; vì đáp hai chữ thái tử là con trưởng của vua. Cuối tháng đó, tên tôi được gắn vào bản danh dự của trường treo trước phòng ông Đốc Học.

Thời đó, phong trào thể thao lên cao, cả nước đều đua nhau tổ chức tranh giải. Một lần, quận Ô Môn mời được đại tá Ducuroy tới thăm. Học trò các lớp, các đoàn thanh niên thiêu nữ trong quận tựu về sắp hàng quanh sân vận động để trình diện. Chúng hát bài “Maréchal! Nous voilà”! và hô “Vive la France” đã được dạy từ trước. Vào dịp này, không biết tại sao, khi đến chỗ tôi đứng, ông dừng lại ngay trước mặt tôi. Tôi đang ngước mặt chăm chú dòm ông, thì được một vị kéo tôi ra khỏi hàng đến gần ông. Bỗng dưng, tôi lại là đứa học trò mà là người duy nhứt được ông Ducuroy trao tận tay cái “insigne” thể thao có lá cờ tam sắc nhỏ hôm đó (năm 1943). Ông cao nghệu, tôi lùn thấp, ông phải cúi xuống khá sâu để trao cái huy hiệu cho tôi. Khi tan hàng, tôi nắm chắc cứng nó trong tay, không cho ai coi, mà chạy riết về nhà khoe với má tôi. Má tôi cười: “Hồi nảy, má thấy con trên dốc cầu chạy xuống, má tưởng con bị tà nhập, vì hai tay của con quơ lia lịa”. Hôm sau, khi tôi vào lớp, thầy Trần Ngọc Nhung có bảo tôi mang cái insigne này vào cho thầy xem; vì hôm Ducuroy trao cho tôi, thầy đang lo điều khiển chưong trình thể dục chung của quận, bận ở chỗ khác, nên có nghe mà chưa thấy. Bà con và học trò hồi đó thấy thầy Nhung và cô Hạnh thường đi bộ chung từ nhà bên chợ qua trường dạy học hằng ngày, nhưng đến khi tản cư về, chỉ còn cô Hạnh trở lại dạy lớp nhì 2 năm như cũ, mà thầy Nhung thì vắng bóng.

Vụ ông quận Hồ Văn Xuân cải trang mặt tiền của quận, buộc dân phải xây nhà gạch. Má tôi bảo tôi vẽ sơ đồ nhà đem nộp, bị ông bác bỏ không thuận, còn ra lịnh phải dở nhà đúng hạn kỳ. Ba tôi về lo nhắn bà các anh (ba Dĩ, tư Chí, năm Lạc) từ rạch Săn Trắng Dưới, lên tiếp tay dở nhà, dời vào cất lại ngay sau hè bà sáu Lùn. Trên nền nhà của chúng tôi vừa bị dở trống, thầy Năm Thơ 'phạm nhe' của nhà thương quận cất lên một dẩy nhà gạch làm phố: gia đình thầy dành một căn làm nhà ở, còn bao nhiêu cho mướn. Sau này, lớn lên tôi mới biết thần thế của các vị có chức quyền liên hệ bao che nâng đở cho nhau, còn nhà nghèo thì phải chịu thiệt thòi. Dời nhà ít lâu thì Minh Châu chết (năm 1943). Em có tướng lạ là đầu em bốn xoáy. Chỉ non bốn tuổi em đã rất lanh lợi khôn ngoan, cũng chỉ bị sốt có một buổi thì chết (sau này được biết thì Minh Châu cũng bị thương hàn mà thiếu sự chăm sóc cần thiết của một gia đình nghèo). Khi tôi sắp đi học hôm đó, em sốt nhiều. Học được nửa buổi, thì được người hàng xóm vào cho hay, cô ba Hạnh cho tôi ra về. Đến nhà, thấy em năm chết trên giường (ba má tôi vừa mang em từ nhà thương về). Tôi khóc rất nhiều, nhiều hơn khóc Phước Hồng. Vì Hồng chết trong nhà thương, rồi từ nhà thương đem thẳng ra nghĩa địa để chôn, nên tôi biết em chết mà không được thấy! Còn Minh Châu là em gái đầu tiên trong nhà, tôi rất thương em, ẳm bồng em từ hồi em còn nhỏ, hát ầu ơ đưa võng cho em ngủ. Những lời nói khôn ngoan của em hằng ngày khiến tôi vui mừng, những bài thơ ngắn em thuộc lòng khi nghe tôi học để trả bài. Tôi tưởng rằng Minh Châu sẽ lớn khôn trong nhà, mà hôm đó phải thấy em nằm chết trước mắt tôi. Trước đó mấy tháng, ba tôi đi làm “xâu” (sưu) được làng xã cấp “phiếu” mua một khúc vải bông màu hoa cà. Má tôi may cho em cái áo bà ba, em rất vui mừng hớn hở mỗi lần được mặc áo này. Khi liệm em vào quách, má tôi mặc cho em chiếc áo màu tím mà em hăng ưa thích này. Tôi ngồi khóc nức nở bên em, cho đến khi bà con đóng tấm ván nắp chiếc quách liệm kín em, nhưng tôi phải ở lại nhà, không được theo ra nghĩa địa vì ba má tôi sợ quỉ ma khuấy phá!! Đây là lần thứ hai trong nhà tôi, phải chịu mất mát vì bệnh hoạn mà non yểu

Loay hoay mà đã sắp bãi trường cuối năm lớp nhì hai năm. Đến hôm trả sách, tôi không mang nạp quyển Géographie nhiều màu, mà thưa với cô rằng tôi kiếm chưa ra. Cô ghi cho thiếu cuốn đó, và buộc phải cố tìm để trả trước ngày bãi trường, nếu không thì phải đền tiền. Tôi vâng dạ, vì tôi muốn giữ cuốn sách đó lại để thỉnh thoảng lật xem từng tờ rồi mơ tưởng những xứ xa qua hình ảnh trong sách. Nhưng giữ sách thì phải đền tiền cho trường, tôi chưa dám xin má tôi số tiền này, vì tám mươi xu không phải dễ kiếm vào thời học trò chỉ được cha mẹ (bực khá giả) cho ba xu để ăn sáng. Đứng ngay sau lưng tôi chờ tới phiên trả sách, trò Đoàn Kim Huê nói với tôi: “Tôi có cuốn sách Géographie lớp nhì, chiều nay tôi mang vô cho trò Trang trả lại trường, trò Trang khỏi phải đền tiền”. Tôi ú ớ gặt đầu. Buổi học chiều, quả nhiên trò Huê mang quyển sách đưa cho tôi. Tôi cầm sách lí nhí cảm ơn. Nhưng tôi giữ quyển Géographie của trò Huê cho, mà đem quyển sách mượn từ đầu năm trả lại cho trường. Cô ba Hạnh lặng lẽ nhận sách tôi đem trả, vì đúng quyển tôi đã mượn của trường.

Trong mùa hè 1943, má tôi làm đơn xin phép bán quà vặt cho học sinh bên trong cổng trường: trước khi học trò vào lớp và giờ ra chơi buổi sáng. Thầy Đoàn Hưng Tường xét đơn và cho phép, buộc phải cam kết giữ gìn thức ăn sạch sẽ đúng vệ sinh cho học trò khỏi bị bệnh. Sau này, có vài lần Thầy ra đứng rất lâu xem tại chỗ khi học sinh mua quà sáng: xôi nghệ, xôi lá cẩm, bắp hầm, bánh ít, khoai lang, khoai mì luộc, bánh mì v..v..Vào giờ chơi thì có thêm các loại trái ngọt như đu đủ, xoài chín, “sa bô chê”, nhứt là các trái chua như: mận, cóc, xoài, chùm ruột chấm muối ớt v.v. Các chị rất thích các món sau này. Từ khi má tôi được phép bán quà trong cổng trường, mức sống của anh em chúng tôi khá hơn rất nhiều; việc mua sắm tập vỡ cho tôi và Điểm đi học, không còn phải đợi chờ ba tôi mang về như trước.

Sau hè 1943, tôi lên lớp nhứt học với thầy Trần Văn Sửu. Hai cậu tôi học với thầy, đã từng biết thầy. Nhờ hai cậu tôi dặn dò trước rằng tôi phải lo học nhiều hơn hồi lớp nhì hai năm, chớ không phải vừa học vừa đọc tiểu thuyết kiếm hiệp được, tôi chú tâm cố gắng học hành không dám xao lảng từ hôm nhập học. Điều tôi nhớ nhứt là ngay hôm đầu tiên thầy cho chép “Mười câu tụng niệm của học sinh”. Xong thầy bắt học thuộc lòng. Sau đó, mỗi sáng chúng tôi xếp hàng dưới hiên dọc tường ngoài cửa lớp chờ lịnh thầy thì bắt đầu di chuyển vào phòng học. Chúng tôi phải vừa đi vừa cùng đọc thuộc lòng mười câu tụng niệm này. Dù đã vào lớp trước chúng tôi vẫn phải chờ cho anh chị em vào đầy đủ, mỗi người đứng đúng chỗ của mình, tiếp tục cùng sang sảng đọc “Mười câu tụng niệm” cho đến khi dứt điều thứ 10. Xong chúng tôi im lặng đứng tại chỗ, chờ thầy bước lên bục gổ bước vào bàn. Bấy giờ, thầy cho phép học sinh ngồi xuống, bắt đầu buổi học. Trong 10 câu tụng niệm, cho đến bây giờ, tôi chỉ còn nhớ có hai câu đầu:
Phải trung thành kính yêu Tổ Quốc
Phải kính trọng cha mẹ, thương mến anh em chị em

(còn 8 điều kia tôi trả hết lại cho thầy từ năm tôi bước vào trung học)
Sau này, được biết thầy quê ở Phan Thiết, đổi về Ô Môn rất lâu. Thầy có ba con trai: Trần Cao Sang, Trần Cao Tuấn (học cùng lớp với tôi sau du học Pháp ở Rochefort, nay ở Canada), Trần Cao Minh (hiện ở vùng Dallas). Thầy rất nghiêm nghị, dù thỉnh thoảng Thầy cũng cười vui. Học trò đứa nào cũng sợ thầy, ráng học không dám lười biếng. Thầy không hề đánh học trò, nhưng tôi vẫn bị thầy nắm véo lổ tai mấy lần, vì tôi khỉ khọt, liến xáo, phá phách dữ quá. Tôi có tật nói chuyện trong lớp, thầy biết tiếng từ 5 năm qua, nên tôi mới leo lên lớp nhứt chỉ một tuần; thầy đã kêu tôi là “con dế lửa” vì tôi gáy nhiều quá. Thời đó cuốn Dế Mèn Phiêu Lưu Ký của Tô Hoài đang được hoan nghinh, nên bị thầy kêu là “dế lửa” tôi không buồn mà lại thích. Vả lại, tôi cũng là một đứa chuyên nuôi “dế” trong hộp quẹt, hằng chục con cho ăn bằng giá sống (dế miền Nam mà!). Dế than tuy lớn xác nhưng khi đá không lại địch thu, hay bỏ chạy giữa cuộc. Còn dế lửa thì chỉ khi nào bị cắn bể hàm đành chịu chết nhưng không bỏ chạy. Ngược lại, khi thắng được đối thủ rồi, thì chong hai càng sau, nhớm hai chưn trước xoa râu, gáy vang rân. Thầy gọi tôi là “dế lửa” thì quá đúng, vì tôi cũng từng đánh lộn. Tuy nhỏ con không đủ sức đổi đòn, nhưng vẫn có vài thế thủ thân. Lâm trận chỉ có thắng với huề; vừa huề bèn dừng tay, mà không bao giờ bỏ chạy.

Từ lúc biết Thầy, tôi thấy Thầy hay mặc áo ngắn tay, quần “short”, đi giày bata và vớ cùng màu trắng. Xem tướng mạo bên ngoài, thì Thầy có vẽ thể thao khỏe mạnh hoạt động, có thể vì Thầy thường đánh tennis; khác hẳn ông Đốc Học Đoàn Hưng Tường. Suốt năm học lớp nhứt, điều tôi khoái hơn hết là được đánh trống. Theo thông lệ, học trò lớp nhứt được phép thay chú ba “cu li” đánh trống “giờ ra chơi” và “tan học”. Trống treo dưới hiên, giữa lớp nhì một năm và lớp nhì hai năm, gần văn phòng Đốc Học. Thường thì mỗi buổi sáng, chú ba đánh hồi trống tựu trường. Sau đó chú phải lo nhiều việc tạp dịch quanh quẩn trong trường, nên phần đánh trống trong ngày được giao cho đám học trò lớp nhứt. Trên bàn thầy tôi, có cái đồng hồ. Tôi cứ canh đúng giờ thì chạy ra tranh cái dùi trống, đánh ba tiếng cho giờ ra chơi (récréation), nửa tiếng sau thì lại đánh ba tiếng mãn giờ chơi, cho tất cả học trò trở vào lớp. Trống treo không cao lắm, nhưng tôi thì thấp (Trang lùn mà!), nên khi đánh trống thì phải nhón chưn cho cao thêm, để dùi đánh vào giữa mặt trống. Dù vậy hồi trống tan học của tôi cũng đủ cung điệu từ lớn vang dội ở những tiếng đầu và lần lần nhỏ đi cho tới nhịp đôi, sau đó thì tiếng trống chỉ còn là tiếng dùi lướt nhẹ trên mặt trống. Thầy tôi chỉ mỉm cười khi tôi bỏ tập bài đang làm, chạy đi tranh lấy cái dùi trống. Từ trong văn phòng nhìn ra, ông Đốc Học nhiều khi cũng phải mỉm cười khi thấy tôi một tay vịn vách tường một tay đánh trống.

Các môn học luyện thi, tôi học rất đều, nhứt là hai môn toán và Việt văn. Pháp văn thì đủ đạt hạng bình hay khá hơn chút đỉnh. Dictée (ám tả sau này đổi thành chính tả) thì thường được 9 hay mười điểm; nhưng dứt khoát rằng không bao giờ có bài Rédaction (luận) nào được 9 điểm; chỉ được nửa vời từ 7 đến 8 mà thôi. Các môn Sử Ký, Địa Dư, Luân lý, Cách Trí thì rất vững, thường được điểm cao nhứt Thầy cho trong lớp. Gần cuối năm, ông Đốc Học lại cho thi thử (examen probatoire) với những đề đã từng cho thi 2,3 năm trước. Tôi lại được điểm cao. Thầy tôi khuyên tôi nên cố gắng, cẩn thận hơn, và nhứt là đừng “ẩu” khi làm toán. Tôi hi vọng tràn trề khi nạp đơn xin thi cho trường chuyển xuống Cần Thơ.

Chỉ còn 3 ngày là phải vào thi tại trường tiểu học tỉnh lỵ Cần Thơ, tôi bị sốt mê man, nhưng ba má tôi vẫn bơi xuồng chở đi, hi vọng dọc đường tôi sẽ bớt nóng thì vẫn đi thi được. Khi ghé lại Bà Đồ (cách Cần Thơ 8 cây số) thì tôi sốt nhiều quá, mê sảng nói toàn chuyện thi cử. Tình trạng bịnh hoạn của tôi có vẽ “khẩm” nặng, sắp theo ông bà. Dượng Mười tôi không chịu chứa, vì sợ tôi chết trong nhà xui xẻo việc làm ăn (xưởng guốc sơn). Tôi nửa mê nửa tỉnh nói với ba tôi đem tôi xuống xuồng, rủi chết thì chết trên xuồng, đừng để tôi chết trong nhà Dượng Mười tôi. Chú Năm Giảng (bạn cố giao của ba tôi mà cũng ở trong xóm lâu đời) khi đó có mặt, đã khảng khái biểu ba má tôi đem tôi về nhà chú. Đêm đó, ba tôi vác tôi trên vai, dọn đi từ nhà cô Mười tôi ở đầu cầu Bà Đồ về nhà chú Năm Giảng, cách đó chừng non một cây số. Nhà chú Năm Giảng ở ngang hai cây dương bên kia lộ, nằm ngay ven đường đất của xóm dẫn ra sông cái. Tôi chợt tỉnh thì thấy ba bốn cây đuốc cháy bặp bùng dẫn và soi đường. Vừa vào nhà, chú Năm Giảng chỉ chỗ cho tôi nằm ở ngay nhà trên, nhưng ba má tôi chỉ xin ở nhờ nhà dưới. Chú năm không chịu nhứt quyết để tôi ở nhà trên. Không biết ai rước thầy pháp về. Liền theo đó, thầy “hạ khoán” (cắm đứng một lưởi dao phay vào giữa mặt thớt bằng cây dầy hơn một tấc), lấy tiền công đức $6.30 và bắt phải cúng tổ một con heo khi lành bịnh. Tổng cộng hơn hai mươi đồng chỉ riêng cho mục này. Năm đó, ba tôi làm cả tháng chưa có được năm đồng. Hơn nữa, khi thầy pháp đăng đàn, thì ba tôi phải quỳ lạy tổ ngoài sân trời mới mưa sình lầy lỏng bỏng. Vì thương con, sợ tôi chết, ba tôi đành gạt bỏ hết khí phách ngang tàng hằng ngày (không tin thầy pháp và bùa chú), mà đành phải chịu nghe theo lời ông thầy pháp. Hạ khoán xong, thầy “bố trận” giăng màn chung quanh chỗ tôi nằm, dán bùa chú lung tung, bắt ấn niệm chú hô thần trục tà, hạn ngày cho tôi hết bịnh. Bửa sau, bệnh tôi không giảm mà chỉ tăng. Thầy nói bên nội tôi có “quan lớn” điểu khiển “đàng binh thời trước”, đang đòi bắt tôi theo. Có lẽ thầy nghe lóm được rằng thỉ tổ của tôi là tướng võ (Khâm Sai Cai Cơ) được phong hầu thời tẩu quốc. Ba tôi hoảng hồn, càng thêm lo sợ. Sợ: vì ông thầy nói đúng gốc, mặc dù ông không phải người trong vùng; lo vì e thầy pháp nói trúng gốc đòi tiền thêm mà trong nhà không còn tiền. Tuy chỉ mình tôi bị bịnh, nhưng những người lo lắng chung quanh đều phải ăn uống trong khi túc trực quanh đó. Ba tôi dù nghèo không làm được nhiều tiền, nhưng vì là dân cậu, không thể bủn xỉn với bà con được. May đâu, ông ngoại tôi ghé thăm, rồi thấy tôi đau nặng nên ở lại. Ông cho tiền má tôi; ông chẩn mạch ra toa điều trị, nhưng bịnh vẫn không thuyên giảm. Ông đành chỉ cho uống thuốc giữ cho tôi còn sống, gọi là cầm mạch chờ thầy. Đây là lần thứ hai, ông ngoại tôi giữ mạng sống cho tôi. Danh y trong làng ở ngay bên cạnh là bác Ba Thiệp (bác ruột tôi) cũng xem mạch nhưng chịu thua trước, bác chỉ cho tiền để cho tôi uống thuốc chửa bệnh, mà không ra toa trị bịnh cho tôi. Cô chín tôi đang lo xem người hái xoài do cô mua mão trọn vườn từ đầu mùa ở rạch Săn Trắng Trên. Hay tin tôi đau, cô bỏ vườn xoài đang hái, hối mấy chị tôi bơi xuồng riết về, đem tiền bạc cho ba tôi lo thuốc men cho tôi, cùng lo cơm nước cho thân bằng trong nhà. Phần cô, thì lên chùa Cái Sơn (Thanh Giang Tự) giộng chuông niệm Phật, xin Quán Thế Âm Bồ Tát cứu đứa cháu trai gọi bằng cô; trong khi chị Sáu Thuận (con ruột của cô) cũng đau mê man, mà cô không hay biết cũng không đếm xỉa gì đến. Phần tôi, bùa ếm không ăn thua, thuốc bắc không lay chuyển, sau này ba tôi kể lại rằng tôi đã trối chết: “Thôi! Ba ở lại mạnh giỏi, con đi” khiến ba tôi đang ôm tôi trong lòng, đã trao tôi lại cho má tôi, vì không còn chịu đựng được nữa. Nhưng có lẽ số phận tôi không non yểu như vậy, nên có người mách có bà thầy thuốc nam chuyên trị các bịnh ban, ở trong ngọn rạch Chanh. Chú Sáu Bé (người Bắc cưới cô Sáu Tiền - em một cha khác mẹ với dượng Mười tôi) nhận phần chạy đi rước dùm. Trời mưa đường đất trơn trợt, chú chạy té lên té xuống, gặp một bà nhà quê xúc tép gần đó hỏi: “Chú đi đâu mà gấp vậy?” Chú Bé nói: “Anh Út có thằng con trai đau nặng, nghe nói trong này có bà thầy thuốc ban, nên nhờ tui đi rước dùm”. Bà thầy thuốc (chính là bà nhà quê đang xúc tép ngoài ruộng) úp rổ lên cái tỉn đựng tép trên bờ đất nói: “Là tôi đây, tôi đi với chú liền cho kịp”. Rồi bà bỏ rổ bỏ tỉn, tất tả chạy theo chú Sáu Bé từ trong ngọn Rạch Chanh ra xóm Bà Đồ, dọc đường đất, tùy cơ bà gặp đâu hái đó những lá cỏ cần thiết cho nồi thuốc của bà. Đến nơi, vô nhà không kịp chào hỏi ai, bà xin liền một mảnh chén kiểu (nhà nào cũng có vài ba miếng để dành). Bà đập mảnh chén kiểu lấy mấy mảnh nhỏ bén, bỏ vào chén, xin rượu chế lên. Rượu trên bàn thầy pháp có nhiều, dư cho bà khử trùng. Xong bà lật lưng tôi mà cắt nặn luôn tay. Sau đó bà ra vườn hái thêm một mớ lá (bí quyết của bà) đưa cho má tôi biểu sắc rồi cho tôi uống. Ông ngoại tôi là thầy thuốc bắc, ngồi cầm mạch xem bệnh tình biến chuyển. Tôi uống thuốc rồi mê sảng trở lại, nhưng réo gọi: “Bà áo trắng ơi! sao Bà lấy hết đậu của tôi đi”. Khi tôi nằm chờ sự hiệu nghiệm của nồi thuốc nam; thì mấy vị thầy thuốc trong nhà quay qua lo cứu chị Thuận. Nhờ cứu kịp thời, nên chị cũng còn sống cho đến bây giờ.

Sáng hôm sau tôi lần lần tỉnh táo, biết đói bụng đòi ăn; nhưng khi ra về, bà thầy thuốc ban có dặn chỉ cho ăn cháo suốt bảy ngày rồi mới cho ăn cơm nhảo một tháng với cá lóc hay cá phèn luộc hoặc kho mà thôi, không được ăn thịt hay bất cứ loại cá nào khác. Tôi còn cái nạn bị “kiến riệng” chun vào lổ tai, khi bị ngộp nó cắn trong lổ tai đau nhức vô cùng, ba má tôi phải lấy nước nóng đổ đầy lổ tai cho nó nổi lên bò ra ngoài lổ tai mà vớt bắt. Khi tỉnh hơn chút nữa, tôi nhìn ra sân thì thấy mấy tấm ván mỏng còn bỏ ngoài đó. Tôi biết đó là ván dành để đóng hòm cho tôi, vì tôi đã sẳn sàng theo ông bà năm đó.

Cậu Bảy tôi từ Ô Môn đi xe đạp xuống thăm. Tôi trực nhớ chuyện thi cử của tôi, bèn hỏi thăm, thì cậu vuốt đầu tôi bảo: “Cháu lo uống thuốc cho mạnh, năm tới học lại thi lại”. Tôi rất buồn vì hi vọng được thi và hi vọng thi đậu thành xa vời!!!

Một hôm, tôi đang nằm nhìn nắng, thấy thầy Sửu đi vô sân hỏi nhà. Thầy đi chấm thi Sơ Học ở Bến Tre vừa xong. Thầy đi xe lôi từ Cần Thơ về Ô Môn. Không biết ai cho hay, mà Thầy biểu xe ghé lại xóm Bà Đồ thăm tôi. Tôi còn yếu quá, chưa ngồi dậy được, đành nằm dài đó, lắp bắp hỏi thăm Thầy việc bạn bè thi cử, ai đậu ai rớt. Thầy biết tôi buồn vì không thi được, nên an ủi: “Con hết bịnh, về học lại. Năm tới thi chắc đậu hơn” Thầy ở lại chuyện trò khoảng 10 phút rồi từ giã. Mười phút “vàng ngọc” đầy thương mến của ông Thầy lớp nhứt dành cho một đứa học trò lí lắt, quậy phá, “dế lửa” mới học với Thầy vừa tròn một năm!!

Mãn mùa hè 1944, tôi xin học lại, được ghi tên dễ dàng. Học hơn một tháng, thầy Sửu đau nặng phải nghỉ dạy. Ông Đốc Tường xin người thay thế gấp vì lớp nhứt là lớp luyện thi. Trong khi chờ đợi, chính Thầy vào lớp dạy chúng tôi mỗi ngày. Tuần sau, thầy Xinh từ Cần Thơ lên nhận chức. Thầy tạm trú độc thân chung với thầy ký Mười tại căn phố dành cho công chức. Năm này, tôi luôn dẫn đầu trong lớp vì môn nào cũng đều đã học rồi. Tôi còn được nổi danh trong quận, khi nạp bài luận văn “Tả một buổi sáng”. Thầy Xinh cho 9 điểm, chuyển cho thầy ký Mười đọc bài này. Thầy ký Mười nhắn tôi tới gặp thầy tại dinh quận. Thầy khen tôi và khuyên tôi ráng học. Sau này, thày theo kháng chiến rồi theo luôn Việt cộng tập kết ra Bắc.

Ít lâu sau, vợ con thầy Xinh dọn đến, được ông đốc Tường cho trú ngụ trong căn chừa trống bên cạnh lớp Ba A bên kia cầu sắt, sau chùa ông Bổn. Một hôm, tôi tới nhà thăm thầy thiếm. Gia đình Thầy sống đạm bạc; thiếm vừa ngồi đưa vỏng ru con vừa hỏi chuyện tôi rất vui vẻ.

Thầy Xinh còn trẻ nên rất gần học trò. Đầu năm 1945, nhiều chuyện xảy ra trên đất nước Việt Nam. Chúng tôi được Thầy chuyển sang dạy chữ Việt nhiều hơn chữ Pháp. Một hôm, Thầy bảo trò nào thuộc thơ thì đọc cho cả lớp nghe. Tôi đứng dậy đọc một hơi, bài “Nhớ rừng” của Thế Lữ. Thầy cho tôi 10 điểm, bạn bè cùng lớp phục tôi quá chừng!

Học tròn một năm, tôi chuẩn bị thi Sơ Học ở Cần Thơ. Tôi đậu dễ dàng. Có một kỷ niệm khá vui trong kỳ thi này. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ. Môn chữ nho nhiệm ý (Charactères chinois = facultatif) thi sau cùng. Thầy giám khảo mang đề đến phòng phát cho thí sinh chúng tôi một câu gồm mười chữ nho, sau đó chúng tôi phải viết lại, xong âm từng chữ và giảng nghĩa toàn câu; kèm theo hai ví dụ. Tuy thầy giám khảo bắt phải im lặng, nhưng cả lớp cứ vọng lên những tiếp thì thào, bàn tán, chắc lưởi, hít hà, than khó, kêu trời! Thầy rầy thì rầy, nhưng ồn ào vẫn ồn ào dù rất nhỏ. Sau một tiếng đồng hồ, tôi cũng nhức đầu trước những chữ khó quá đối với sức học của mình. Sau khi viết hai câu vắn tắc về Tử Lộ và Nhạc Phi, tôi nạp bài rồi ra khỏi lớp. Tôi đưa bản nháp cho ba tôi coi. Ba tôi nói: “Con trúng 10 chữ, nhưng giảng thì vắn tắt quá”. Câu ấy như sau: “Trung thần tự cổ, xuất ư hiếu tử chi môn”; nghĩa là “Tôi trung từ xưa, đều ra cửa của con hiếu”; nghĩa rộng là “Từ xưa, các bậc tôi trung thường là những người ở nhà đã giữ trọn đạo làm con hiếu thảo với cha mẹ”.

Hơn tháng sau, tôi lại dự kỳ thi tuyển vào trường Phan Thanh Giản. Khóa này anh Lâm Chung ở Châu Đốc đậu đầu. Tôi được xếp hạng 23 trên 150. Năm 1945, tình hình đất nước biến chuyển dồn dập. Nhựt đảo chánh, Tây chạy, Việt Minh lên. Ông Phủ Tào làm Chánh Chủ Tỉnh (chưa có từ Tỉnh Trưởng). Nhập trường Phan Thanh Giản học một tháng; trường đóng cửa hai tuần để đón chánh trị phạm từ Côn Nôn về. Về sau, nghe nói trong số này, có nhiều tay cộng sản gộc tạm trú ở đây trước khi ra cầm quyền thao túng nước Nam? Mấy trăm ông chánh trị phạm đi rồi, chúng tôi trở vào học lại, được chừng nửa tháng thì Ủy Ban Kháng Chiến Tỉnh ra lịnh tản cư.

Tôi đành ôm hết áo quần sách vở trở về Thới An, sống với má tôi và hai em trai tôi: Nhựt, Tường trong bầu không khí lo sợ thắc tha thắc thỏm. Chiều chiều, ngồi dưới mái hiên, dòm ra thấy anh Tước thổi còi, dẫn thanh niên vác gậy tập đi đều bước một hai ngoài đường. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng súng bắn từ ngoài vàm sông cái. Nghe đồn là chiếc Annamite 72 mỗi lần qua vàm sông Ô Môn đều bắn cà nông thị oai. Lâu lâu lại có vài người mang súng sáu đi bộ từ chợ ra vàm. Hỏi thăm thì biết họ từ Bình Xuyên xuống, tiếp lo chống Tây đang hăm he đánh chiếm dinh quận. Sau cùng, má tôi mua một chiếc xuồng cui, sắp đặt mọi thứ xuống xuồng, bơi về quê nội của má tôi trong xóm Lung Tượng giữa Bằng Tăng và Ba Rít.

Suốt thời gian tản cư, tôi dấu ba món: cuốn Petit Dictionaire Larousse của cậu Tám tôi cho, cái insigne thể thao của đại tá Ducuroy trao tận tay tại sân vận động hồi giữa năm lớp nhì 2 năm, cuốn Géographie của trò Huê tặng hồi bải trường lớp nhì 2 năm. Tôi vùi cái insigne và cuốn petit Larousse dưới đáy hủ gạo. Cuốn Géographie tôi để dưới khoang xuồng, rồi xếp củi lên trên. Tôi dấu má tôi, mà không biết là tôi đã đem tai họa cho má tôi; vì nếu Việt Minh xét thấy một trong ba món này, má tôi cũng đều có thể bị giam cầm (nhẹ) hay xử tử (nặng); mặc dù ba tôi lúc đó còn đang là chánh trị viên đại đội phòng thủ khu Bà Đồ Cái Sơn giữa Bình Thủy và Trà Nóc.

Suốt mấy tháng về sống hui hút với bà con bên ngoại ở xóm Lung Tượng, khoảng giữa Bằng Tăng và Ba Rít, mỗi sáng má tôi lùa 3 anh em tôi xuống xuồng, rồi bơi vào ngọn cống, núp dưới mấy cụm điên điển; chờ qua xế chiều, thấy bình yên thì bơi dìa. May mắn không bị ruồng bố lần nào, vì khu này thuộc vùng kiểm soát của các đội võ trang Hòa Hảo, lúc đó đã chống Việt Minh ra mặt, nên lính Tây không khuấy phá. Qua Tết, tình hình ngoài chợ quận tạm yên, sau khi chành lúa và nhà máy xay gạo ngang chợ quận bị Việt Minh đốt trước khi rút đi (Tiêu thổ kháng chiến mà!).

Tản cư về trễ, tôi vào trường xin học lại. Gia đình thầy Xinh đã dời khỏi Ô Môn từ ngày tản cư, không biết đi đâu. Ông Đốc Tường và các thầy cô khác vẫn dạy như trước. Duy lớp nhứt chúng tôi, thì có thầy Nhường mới về đảm nhận. Vào học hơn tháng, ông Đốc cho hay trường Phan Thanh Giản Cần Thơ đang nhận học sinh cũ khóa 1945 trở lại rất dễ dàng. Vì tản cư về trễ, lại biết nhà đang túng thiếu, tôi không dám xin má tôi đi xuống Cần Thơ xin nhập học trường Phan Thanh Giản. Khi biết việc này cậu Tám tôi rầy tôi đã bỏ qua dịp may. Tôi cũng hiểu như vậy, nhưng đành chịu trễ một năm, không muốn má tôi phải lo lắng nhiều quá, trong khi ba tôi đi vắng.

Ngày thi Sơ Học cận kề, mà lần này phải thi các môn bằng chữ Pháp như hồi trước 1944. Thầy Nhường phải mở thêm lớp kềm khỏi trả tiền mỗi sáng thứ năm và thứ bảy. Chúng tôi chỉ học bốn tháng để chuẩn bị thi bằng Sơ Học chữ Pháp. Một hôm thầy Nhường ghé nhà thăm hai cậu tôi (bạn học hồi xưa). Thầy thấy tôi có cuốn “Những Trang Sử Vẻ Vang” của Từ Ngọc, thầy cũng mượn xem. Thầy biết tôi giỏi về sử Việt và hay đọc sách; nên lâu lâu thầy gọi tôi đọc thơ cho cả lớp nghe. Tôi đã đọc bài thơ “Đề Thám gởi Ba Phúc” của Tố Hữu, do cậu Tám tôi chép từ trong Cờ Đỏ, Thác Lác đem về.

Thấm thoát rồi cũng tới ngày thi Sơ học năm 1946. Sau khi thi bài viết (Écrit) một cách dễ dàng, có ba ngày trống chờ kết quả, tôi về xóm Bà Đồ thăm cô bác của tôi. Vào ngày thứ ba, anh Hai Trạch hộc tốc đạp xe từ Cần Thơ lên, cho hay là trường đang cho thi hạch miệng (Oral) từ sáng. Ba tôi vội vàng chở tôi bằng xe đạp (còn kêu là xe máy) đi thi. Hơn một giờ đồng hồ, ba tôi nín thinh lo đạp xe; còn tôi im lặng bồn chồn. Vừa tới trường Phan Thanh Giản, tôi nhào vô trình diện thi liền, với bài vở còn đầy trong đầu. Quá nửa trưa thì xong hết. Chiều đó, học sinh và phụ huynh xôn xao ngoài cổng trường chờ kết quả. Tới xế chiều, thì các thầy (có hai ông tây, một bà đầm, vâng, xin cho tôi được dùng những chữ quen miệng ngày xưa) ra đứng dưới hiên trường. Cửa trường mở rộng cho tất cả học sinh và phụ huynh vào. Mọi người tựu lại, chen chúc đứng chung quanh, nghe một thầy xướng danh theo mẫu tự. Vần T ở gần cuối, nên tôi phải phập phồng chờ đợi. Khi nghe được tên, tôi nắm tay ba tôi lui ra phía sau cho bớt ngộp. Khi tên sau cùng được xướng lên, mọi người ồn ào bàn tán, kẻ vui nhiều người buồn ít, lũ lượt ra về. Ba tôi lại cho tôi ngồi trên đòn dông, đạp xe về Bà Đồ. Lâu quá rồi, tôi không còn nhớ, cha con tôi đã ăn uống gì hồi nào lúc trưa, mà không thấy đói! Hôm sau, khi nghe tôi thi đậu, bác Ba tôi cười mà bảo rằng: “Ngày xưa, có ngưới thi đậu Lưỡng khoa Tấn sĩ; bây giờ thằng Trang nó đậu “Lưỡng khoa Sơ học”.

Trở về Thới An, tôi ráo riết luyện thêm Toán, chuẩn bị dư kỳ thi tuyển vào lớp Première Année (Đệ thất sau này) trường Trung học Phan Thanh Giản. Tên trường vẫn được giữ nguyên, với Hiệu trưởng và tất cả giáo sư hoàn toàn Việt Nam, dù hệ thống hành chánh tỉnh lại do thực dân Pháp nắm trọn. Tuy các môn khác cũng quan trọng, nhưng môn Toán quyết định kết quả cuộc thi. Làm trúng trọn hai bài toán, ắt có nhiều hi vọng đậu cao, may ra được học bổng (bourse).

Một tháng sau, giữa hè 1946, ba tôi lại đạp xe chở tôi đi thi tuyển vào trung học Phan Thanh Giản. Vì đã thi và đã học ở đây trước rồi, nên tôi rất tự tin. Do đó, tôi đã sơ xuất với một con số, trật một câu trả lời (réponse), tôi tuột tuốt xuống hạng 43 trên 150 chỉ được phân nửa học bổng (demi-bourse). Khóa này, anh Lê Thanh Liêm trường Cái Răng đậu đầu, danh tiếng như cồn.

Số tôi lận đận, mất ba năm ở lớp nhứt. Năm 1944, bị đau phải bỏ thi Sơ học. Năm 1945, thi Sơ Học chữ Việt; đậu vào Phan Thanh Giản; dở dang vì tản cư rồi hồi cư trễ, chậm mất một năm. Năm 1946, trở lại thi Sơ học chữ Pháp rồi thi tuyển, dầu không được hạng cao nhưng cũng đậu vào khoảng trung bình.

Tôi chuẩn bị nhập trường Phan Thanh Giản lần thứ hai.



L o n g T u y ề n
Khởi từ hè 2004
Viết lại xong ngày 15 tháng 08 năm 2006


13184



Image


x ó m .n g ã .b a
............T H Ớ I .A N . .
____________________________________________________________________________



Vì tôi phải đi học ở trường quận Ô Môn, nên năm 1937 ba má tôi đã cất một ngôi nhà lá nhỏ tại xóm ngã ba đường làng Thới An rồi dời gia đình về đó.

Xóm nhà tôi (nhà của ba má tôi) được hạn định theo trí nhớ: phía Nam bắt đầu từ ngôi chùa (quên mất tên); phía Đông, là nhị tì nằm dọc đồng ruộng làng Thới Thạnh; phía Tây là sóc ông Chăng; phía Bắc là cầu sắt Ô Môn. Tên gọi như vậy, thực sự thì cầu này bắt ngang rạch Cái Tắc (bản đồ ghi là Rạch Tắc Ông Thục). Rạch dẫn thông xuống kinh Giáo Dẫn, kinh Vạn Lịch v.v... rồi thông qua nhiều sông rạch trước khi trổ ra vàm Trà Nóc cách đó 12 cây số.

Từ Cần Thơ lên, bên trái là ngôi chùa. Chùa cổ kính thâm u nằm trong một khu đất rộng có nhiều cây sao tàng rộng bao quanh. Thường thường thì chùa vắng vẻ. Tiếng “đại hồng chung” ngày hai lượt công phu sáng chiều thong thả ngân vang cho cả khu chợ quận xa gần và hai làng Thới Thạnh và Thới An lân cận. Là học trò phá phách từ đầu trên xuống xóm dưới, nhưng không bao giờ tôi dám một mình léo hánh vào sân chùa. Một phần bị má tôi cấm và hăm tội đày địa ngục nếu phá phách chùa chiền, mà phần lớn hơn là tôi sợ hình ông Tiêu dữ tợn, miệng có nanh le lưỡi dài tới ngực, tạc bên trái vách trước đại điện. Tuy nhiên, mỗi năm vào lễ trung nguơn tức rằm tháng bảy, chùa có cúng cô hồn và thí thực. Vào dịp này, chùa luôn luôn đông đảo suốt mấy ngày. Cô hồn chết không thấy, nhưng cô hồn sống thì gần như đủ mặt. Vì ai cũng muốn xem mấy chục cái “đụn” mỗi cái gắn đầy bánh do bá tánh cúng dường kê trên giàng cao. Dù không được rờ mó, nhưng cô hồn sống tụ tập trầm trồ chỉ trỏ lựa chọn trong khi chờ đợi buỗi xô giàng thì quyết lòng hè nhau mà giựt. Qua mùa rằm tháng bảy, chùa trở về nếp thâm u tĩnh mịch hằng ngày. Tuy nhiên, vào khoảng giữa năm 1945, sân chùa cũng có lần náo nhiệt khác thường, vì có án mạng xảy ra gây xôn xao lo lắng cho bà con chất phác trong quận từ vàm vào ngọn. Thầy phạm nhe (infirmier=điều dưỡng) tên Tơ trẻ tuổi đẹp trai, từ Cần Thơ đổi lên làm việc tại nhà thương quận Ô môn. Thầy được ông hương hào Quí là người bà con có thần thế ở xóm Rạch Gốc cho ở trọ. Mỗi sáng thầy đi bộ vào chợ làm việc đến chiều, đi bộ về. Thầy luôn mặc áo sơ-mi, quần sọt, mang vớ cao, giày ba-ta cùng một màu trắng. Thời đó, ăn mặc như vậy là “bảnh bao, đúng mốt”. Điển trai, lễ phép với bệnh nhân, người người đến nhà thương khám bịnh hay xin thuốc đều khen mến. Được khoảng ba tháng, một buổi sáng, mấy người đàn bà đi chợ hốt hoảng cho hay thấy thầy phạm nhe Tơ nằm chết trước sân chùa. Phú lích (Police) quận, rồi lính kín từ Cần Thơ lên thi nhau điều tra, cả tháng trời không tìm ra thủ phạm. Mùa thu năm ấy, nhằm lúc những biến cố lớn hơn dồn dập: Nhựt thua, Việt Minh cướp chánh quyền, Nam Bộ kháng chiến v.v... khói lửa ùn ùn từ thôn ra quận nên vụ án chìm xuồng, không ai nhắc tới nữa.

Đối diện với sân chùa là nhị tì (nghĩa địa, sau này đi học và đọc sách thì biết thêm từ ngữ tha ma hay nghĩa trang). Thường ngày, lau sậy mọc cao, che kín. Thỉnh thoảng trong làng có người chết, được đem chôn ở đây, thì thấy chút sinh khí xao động từ lúc khởi đào huyệt cho đến khi lấp mộ đắp núm, với tang gia được chừng chục người. Đôi khi đám khá hơn, có thầy chùa vừa tụng kinh vừa gỏ beng beng trên cái chiêng thau lọt trong lòng bàn tay. Lâu lâu, mới có một đám ma lớn với đầy đủ sư sải, nhà giàng, nhưng quan, đạo tỳ, trống và phèn la inh ỏi với hàng trăm người đưa đám. Bằng không thì đấy là một vùng hoang vu ít ai léo hánh.

Là học trò, tôi tự biết xếp mình vào hàng thứ ba, nhưng tôi thuộc loại ít sợ ma. Một mùa bãi trường năm 1941, tôi vừa mãn học lớp nhì một năm (Cours Moyen 1); nhằm mùa khô, xảy ra vụ cháy đồng, lửa lan sang nghĩa địa. Khởi cháy lai rai, nương gió cháy bừng bừng, sau đó tự tàn lụi không cần ai dập cũng tắt. Hai ngày sau, chúng tôi mon men vào xem cho biết, thì thấy nhiều nấm mồ bị nứt nẻ. Có một ngôi mồ bị bật nắp mở toang, tôi được thấy bộ xương người chỗ trắng chỗ đen rời rã nằm trong hòm. Bài học cách trí lộ thiên này đã cho tôi được dịp làm quen với bộ xương người, trước khi được nhìn bộ xương treo lủng lẳng trong phòng thí nghiệm ở trường Phan Thanh Giản vào mùa thu 1945. (Sau mấy tháng tản cư về nhập học lại, không biết bộ xương này dời đi đâu, không còn thấy ở phòng thí nghiệm nữa).

Từ Cần Thơ đi lên, qua khỏi nghĩa địa là Trường Tiểu Học Ô Môn. Một hàng rào me keo đầy gai (có trái nhưng không ăn được, nên hàng rào này mới còn) ngăn nghĩa địa và vách tường lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin) chừng 5 thước. Tôi đã dành một khoảng riêng để nhắc lại những kỷ niệm về Trường. Một hàng rào me keo thứ hai ngăn ranh giữa trường và nhà Giây Thép (sau này gọi là Ty Bưu Điện) của quận. Chánh sở là ông Phán Mẹo người trắng trẻo nhưng thấp mà mập. Bà Phán, cô Mười Nhựt, là người có nhan sắc nổi danh thời bấy giờ. Hình cô Mười Nhựt đứng che dù, được tiệm chụp hình Viêm Phương ở Cần Thơ, phóng đại đóng khung treo trên tường làm mẫu gần 20 năm. Thế hệ phụ huynh tôi và thế hệ tôi, mỗi khi có dịp ghé tiệm Viêm Phương, thì lại ngắm hình cô Mười Nhựt; vì dù hình chỉ trắng đen nhưng dáng người cô rất đẹp. Cháu cô (Thiện) học cùng lớp nhứt với tôi và con ruột cô (Mỹ) học cùng lớp với Nhựt em tôi.

Trước mặt nhà giây thép là Ngã Ba Thới An. Đường lộ Cần Thơ-Long Xuyên được tráng nhựa thô từ lâu, nhưng con đường từ ngã ba ra tới gần vàm sông cái Hậu Giang là một con đường thuộc làng Thới An, nên chỉ được cán đá, thường bị lở hay lún; qua mỗi mùa mưa, sau dạo nước nổi (năm nào đường cũng bị ngập) phải có vài người cu-li cuốc đất vào ki (đan bằng tre có hai quai xách) rồi tùy theo chỗ hư sâu hay cạn mà vá đường. Năm 1940, quận có cho đặt một máy nước (fontaine) tại ngã ba này, mỗi ngày mở nước cho bà con trong xóm gánh về dùng, khỏi gánh nước sông như trước. Cảnh ồn ào náo nhiệt quanh vòi nước: một người quay tay (manivelle) cho nước chảy, nhiều người luân phiên kê thùng hứng chưa kể những ngươi tắm giặt chung quanh. Náo nhiệt đã đành còn sanh ra gây gổ chửi bới. Cũng tại ngả ba, kế bên máy nước, tôi đã được xem một cuộc thí võ giữa một người Việt Nam và một người Tiều (Triều châu). Sau mấy câu cải vả, cậu ba Khanh, vốn là phu khiêng gạo anh chị ở chành lúa, cậy mình có võ và lực lưỡng, dùng những thế công đánh mạnh dồn đuổi rồi đẩy chú Tiều ngả ngửa trên bờ rào me keo. Chỉ nghe “bịch” “bịch” “cộp” hai người lui ra, cậu ba Khanh máu tuôn ròng ròng từ trán xuống mặt, anh Tiều aó quần rách te tua mấy chỗ bày da rớm máu. Hai đàng yên lặng hằm hè nhìn nhau rồi tự động rời chỗ ấu đả; chỉ còn còn tụi tui ở lại bàn tán. Dựa theo hai bộ kiếm hiệp Thiếu Lâm Trường HậnBát Quái Đạocủa Hải Bằng đang được tụi tui chuyền tay đọc mê say, thì cậu ba Khanh đã dùng luôn hai đòn Đinh Tấn Thôi Sơn trong Hùng Quyền của Thiếu Lâm đẩy đối thủ vào hàng rào me keo và đánh trúng hai thoi “bịch bịch”. Đã bị gai đâm nhiều chỗ mà nhịn nữa thì ăn thêm đòn, chú Tiều đã dùng Hạc Quyền của phái Bạch Hạc chụp năm ngón tay gồng cứng (thiết trảo) vào trán đối thủ nên nghe “cộp”, ngón xòe cào mạnh quá làm rách da trán cậu ba Khanh đổ máu.

Từ Cần Thơ lên, bên tay trái, qua khỏi chùa thì đến vườn cây ăn trái và nhà riêng của ông bà phán Lực. Ông bà có nhiều con: chị hai Huê, chị ba Hạnh, anh tư Phước, anh năm Lộc, người thứ sáu (không nhớ), thứ bảy là Hường, thứ tám là Huyên, sau đó còn bao nhiêu nữa tôi không biết. Hường học cùng lớp tôi, cô giỏi Việt văn và hay đánh đủa. Thầy Đoàn Hưng Tường (kiêm đốc học) dạy lớp nhì hai năm, thường gọi bảy Hường là “nữ sĩ đủa”. Có một điều vừa đau lòng vừa buồn cười xảy ra hồi cuối 1945 hay đầu 1946. Anh năm Lộc theo kháng chiến; anh tư Phước làm interprète (thông ngôn) cho Tây. Anh Lộc tuân lịnh của kháng chiến về chợ hạ sát anh Phước. Hôm đó, nhằm buổi sáng chợ đông đang nhóm; anh tư Phước đang ngồi uống cà phê trong quán hủ tiếu Tàu ngang nhà lồng chợ. Xảy đâu thấy anh năm Lộc từ nhà lồng chợ xông ra. Anh tư Phước chưa kịp mừng thì thấy anh năm Lộc chỉa súng nhắm vào anh. Anh tư Phước vùng chạy, vừa la vừa rút súng bắn chỉ thiên. Hai anh rượt nhau “xà quần” trong đám đông chừng hai phút thì lính Tây tới. Anh năm Lộc đã biến dạng. Anh tư Phước đành đi theo toán lính Tây về bót là dinh quận bấy giờ. Sau này nghe kể lại, ông Phán Lực hay chuyện thì thở dài. Bà Phán thì khóc xướt mướt, vì sợ hai cậu con còn kiếm nhau gây chuyện xung đột đổ máu trong anh em ruột thịt.

Ngang trường học là nhà sàn của ông đốc học Đoàn Hưng Tường. Khi cất nhà thì ở đây đã có sẵn một vườn chừng mười cây xoài “thanh ca đen”. Khu này vốn là nơi tụi tui hay đón lượm xoài rụng mỗi khi có giông hay gió lớn. Trên căn nhà sàn này, còn có bóng dáng và tiếng cười trong trẻo của một cô bạn học từ lớp năm đồng ấu. Rồi đến ngôi nhà ngói vách ván nền lót gạch tàu của bác ba Cự. Bác ba là chủ vựa cá, dưới tay có hàng chục chiếc ghe lưới với mấy chục “bạn” đánh cá đông đảo. Bác ba có cậu con trai duy nhứt. Anh Định thường hát bóng hình cho tụi tôi là bầy con nít trong xóm tựu lại xem, khi anh cao hứng kêu tới. Anh đặt một cái khuông ván lớn bằng cái khay ăn trầu, phất giấy trắng mỏng làm màn bạc. Hình cắt trên giấy bìa (carton) theo nhân vật câu chuyện như đầu khỉ là Tề Thiên, đầu heo là Bát Giới. Hai chưn hình thì tra chốt bỏ lửng, hai tay cầm khí giới thì xỏ ngang qua bằng cộng chưn nhang, thân hình ở giữa hai tay kẹp hai bên. Khi hát thì anh đốt một ngọn đèn cầy nhỏ gắn ngoài vành khuông ván. Hai tay cầm hai hình để vào giữa ngọn đèn và mặt giấy trắng. Bóng in lên màn bạc nhỏ. Anh Định cho người đi bằng cách dời hình trước ngọn đèn. Muốn Tề Thiên múa gậy thì anh xoay hai tay cầm thiết bảng. Muốn Bát Giới múa chỉa ba thì anh xoay hai tay cầm bồ cào. Muốn Tam Tạng đi trước thì anh cho ngựa chạy tới theo lối cà nhắc. Vừa chiếu hình anh vừa giải thích tuồng tích đang diễn ra (sau này này gọi là chuyển âm). Chúng tôi rất say mê, nhiều hôm đã hết hình, anh Định ngừng giải thích mà chúng tôi vẫn ngồi đợi không chịu về.

Kế nhà bác ba Cự, là biệt thự của cô chín Trâm Anh, người Rạch Gốc, làm ăn khá giả về cất nhà kiểu mới nhứt ở chợ quận. Rồi đến nhà cô dượng Tám thợ bạc; nhà chú ba Hon sốp phơ (chauffeur) xe đò Ô Môn Cần Thơ. Nhà chú ba Hon trồng nhiều hoa rất đẹp. Thiếm ba Hon lại có những cuốn tuồng cải lương mỏng khổ nhỏ như Kim Tinh Nương xuất thế, Lê Văn Duyệt xuất thân, Tiết Nhơn Quí đoạt Ma Thiên Lãnh v.v. Thiếm cho tôi mượn mấy cuốn nầy nhiều lần, vì vậy mà về sau khi gặp bộ Dương Văn Quảng Bình Nam, Gia Long Tẩu Quốc, Gia Long Phục Quốc, Hoàng Tử Cảnh Như Tây, Tiết Nhơn Quí Chinh Đông là tôi cố mượn cho được, đọc say mê, do đó mà biết thêm nhiều hơn về các nhơn vật trong truyện.
Cạnh nhà chú thiếm ba Hon là nhà dì sáu Hến. Dì góa chồng nuôi bầy con 6 đứa. Tôi chỉ nhớ tên hai người: anh lớn tên Quang, hơn tôi hai tuổi, rồi tới con Bé trạc tuổi tôi. Các con của dì đều ở nhà không đi học, dù trường chỉ cách đấy không đầy 50 thước vì dì nghèo buôn gánh bán bưng tảo tần quanh năm. Có một dạo dì sống bằng nghề mua bán đinh cũ từ 1942 đến cuối 1943 là ngưng vụ này. Tôi sẽ trở lại vụ đinh cũ khi nói về bờ sông chợ quận.
Đầu xông vách phía Bắc nhà thiếm Sáu giáp hàng rào sau hè nhà cậu hai Ký, một người có bề thế trong xóm. Nhà cậu hai Ký khá lớn vách ván mái lá xoay mặt ra bờ rạch Cái Tắc ngay đầu cầu sắt, xoay vách về hướng Đông nằm dài theo đường lộ cái Cần Thơ Long Xuyên. Cậu hai có người con trai duy nhứt là anh Của (lớn), thi đậu bằng Sơ học (Certificat d’Études Primaires Complémentaires Indochinoises, viết tắc là C.E.P.C.I.) trước tôi sáu bảy năm, nhưng anh không thi vào Collège de Cantho, mà đi học làm thợ may âu phục.

Xóm nhà dọc bờ phía Nam rạch Cái Tắc (Ông Thục) khá sung túc, nhưng tôi ít léo hánh xuống phá phách ở đây nên không còn nhớ bao nhiêu. Chỉ còn nhớ cạnh nhà cậu hai Ký là của bà Ba. Bà gốc người Tầu và là bà mụ chánh thức của nhà sanh (sau này gọi là nhà bảo sanh). Chị Tư con gái lớn của bà sau cũng tốt nghiệp, thay vào chỗ của bà, làm mụ chánh tại nhà bảo sanh này. Cạnh đấy là nhà của thầy Tư thơ ký nhà Giây Thép. Thầy Tư có người con trai tên Tùng học cùng lớp với tôi. Lên lớp nhì một năm, nó bỏ học ba hôm thứ hai, thứ ba, thứ tư. Trưa thứ năm, thì thấy hai người khiêng cái hòm nhỏ đi trên lộ hướng về phía nghĩa địa gần trường. Chỉ thấy mấy người đi theo trong đó có má của Tùng và chị Nhung con dì hai Xuyến. Chiều rảnh, chị hai Nhung nói cho Minh và tôi biết rằng Tùng bị sán lải mà chết; lúc liệm lải chui ra ngoài bò lung tung. Nghe nói, hai đứa tôi đều rờ bụng lấm lét nhìn nhau. Chị Nhung cười cười: “Hai đứa bây coi chừng, cái bụng tụi bây chang bang không thua bụng thằng Tùng”.

Cạnh ngả ba là xóm chừng mười ngôi nhà toàn sườn cây lợp lá cất dọc theo bờ mương, nằm dài theo con đường làng tráng đá. Cuối xóm này là vườn mận (doi của người Bắc) của ông bà bảy Tiến. Là bậc khá giả trung lưu, ông bà chắt chiu dành dụm nuôi cậu con trai du học bên Pháp, sau đậu cử nhân luật về làm trạng sư tại Tòa Án Cần Thơ. Thời kỳ Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ xuất hiện công khai, trạng sư Dần thường đứng bên khoanh tay hầu cung kính. Giới sĩ tử trong tỉnh rất nể nang Giáo hội, vì hình ảnh của luật sư Dần phục tùng giáo chủ. Cuối 1945,có lần, trạng sư Dần bị Tây bắt dẫn vào dinh quận. Vì trẻ con tò mò, tôi theo xem, thì đến trước dinh quận, ông không vào mà đứng đó tranh cải toàn bằng tiếng Pháp với hai sĩ quan một Pháp một Việt. Sau cùng, trung úy Học (của quân đội Pháp, người gốc xóm Tầm Vu) bấy giờ làm chủ quận đích thân tiển ông Dần ra tận cổng dinh.

Trở lại đường lộ cái, sau ngã ba ra làng Thới An, đầu tiên là tiệm hàng xén của vợ chồng một người Triều châu (trong xóm gọi là tiệm chú tiều). Tiệm này chỉ buôn bán lèo tèo được 6, 7 tháng thì dẹp vì thua lổ. Kế đó là nhà ông bà Chín Huế (vì ông người Trung) chuyên chứa bài tứ sắc, trong nhà lúc nào cũng có hai hay ba chiếu rộn rịp đàn ông lẫn đàn bà. Lâu lâu những người đánh bài tứ sắc cãi nhau, gây lộn, chửi nhau vì các tay bài gian lận, ăn vùa thua giựt, chung quên đền thiếu v.v... Không thấy con trai ông bà Chín, mà chỉ thấy có dì tư Tồn, dì năm Xinh, và cô út Tường nhỏ hơn tôi một tuổi không đi học nhưng rất ngộ. Dì dư Tồn có đứa con gái tên Trọng. Cô này trắng trẻo, đẹp người, cùng tuổi tôi mà khôn lanh rành đời hơn tôi nhiều lắm, sau này cô dính vào vụ thầy phạm-nhe Tơ bị giết trong sân chùa.

Rồi đến nhà chú ba Đỏ, chú làm trong công xi heo (lò thịt chợ quận). Thiếm chuyên bán chưn heo, chưn bò, và huyết heo do công xi nhường giá rẻ. Mấy năm sau 1940, thiếm mang huyết bò về chia trong xóm không lấy tiền. Tôi tập ăn huyết bò từ hồi đó. Chú thiếm ba Đỏ có bốn người con: Sen, Nở, Gương, Búp. Chị Sen, anh Nở lớn hơn tôi nhiều. Chị Sen tiếp thiếm ba mua bán bên chợ. Anh Nở theo chú ba làm trong lò thịt. Chiều chiều, khi huởn đải anh hay ra trước sân, bắt chước vai Quan Công phò nhị tẩu trong tuồng cải lương; đứng tấn chưn trước chưn sau, làm bộ vuốt râu tưởng tượng từ càm xuống quá rún, rồi ca vọng cổ:
Giục ngựa tung ơ.ơ.. hoành, huơi thanh long đao lướt giải trùng vây nào có sá chi là vào sanh ra tử.
Đứng nam nhi ta phải bảo tồn danh dự; hỡi anh Lưu Huyền Đức hởi anh có hay?


Chú thiếm ba Đỏ còn cho vợ chồng chú tám Lưỡng ở trọ. Chú tám Lưỡng chuyên đạp xe lôi. Thời đại hôm nay chắc ít ai còn nhớ chiếc xe lôi ở chợ quận trong thập niên 1935-1945! Đây là loại xe thùng tôn (tôle) hay nhôm (aluminium) hai chỗ ngồi có nệm có mui. Thùng nhôm sang và mắc hơn thùng tôn. Thùng xe có gắng nhíp nhún cho êm; hai bánh cùng cỡ với bánh xe đạp gắn dính vào thùng xe. Gần đầu thùng xe còn có một tấm ván nhỏ gắn ngang cho hai người ngồi quay mặt ra sau. Đầu thùng xe có đai thép dẹp bóp lại thành khoen lớn gắn vào móc sắt dưới yên chiếc xe máy (xin hiểu là xe đạp) đằng trước. Người đạp xe phải khỏe mạnh để đạp xe, lôi nỗi cả thùng xe và những người ngồi (có khi là 4 người với đồ đạc lỉnh kỉnh kèm theo). Chú tám nhận đưa đón khách gần lẫn khách xa. Gần thì quanh chợ Ô Môn. Xa thì ra vàm Thới An, hay lên Bằng Tăng, hoặc vào Thới Lai. Xa nữa, là đi Cần Thơ. Chú tám Lưỡng chạy xe có tiền, giao cho thiếm xài rộng rãi. Sáng sáng thiếm đi chợ về xem lại tiền còn dư, rồi kêu má tôi: “Chị hai, chị chưa đi chợ thì qua đây em cho mượn để mua chút ít cá mấm cho tụi nhỏ nó ăn”. Thiếm này là vợ nhỏ. Thiếm lớn không theo chú mà ở lại ngoài Phan Thiết. Hai ba năm một lần, chú tám Lưỡng theo ghe bầu (đậu dọc bến gần cầu ông Cả Được) về quê thăm vợ con, thì thiếm tám nhỏ mong ngóng, rồi có lần nhờ ba tôi viết thơ nhắc chú trở vào. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ lỏm bỏm một đoạn trong thơ như sau:
Cùng anh Tám lang quân chàng hỡi
Và sau đây tỏ nỗi sự duyên
Trước kính thăm đôi cụm thung huyên
Sau thăm anh chị bình yên khương thới
Anh về ngoãi chừng nào mới tới
Lúc dọc đường có éo lới chi không
Đêm em nằm hằng vái Hóa Công
Hộ anh đặng mạnh trong thân thể
Còn phận thiếp thiếp đâu sá kể
Mảnh bọt bèo nào nệ chút thân
Tủi cho chút phận long đong
Tưởng đem mình dựa dưới chân bóng tùng
Ngỡ rằng phụng chạ loan chung
Ngâm câu phu xướng phụ tùy xưa nay
Nào dè vợ một vợ hai
Biết ra thì đã lở tay nhúng chàm
Bây giờ kẻ Bắc người Nam
Than ôi! tứ đức tùng tam lẽ nào!
Thương nhau sao nỡ hại nhau
Nghĩ thêm chín lá gan đau như dần!...

Chắc chú tám Lưỡng cũng muốn trở lại tiếp tục làm ăn (nghề kéo xe lôi), nên ba tôi chỉ viết dùm một cái thơ, thì một tháng sau chú đã vào tới. Thiếm tám Lưỡng cười rạng rỡ. Má tôi trách ba tôi: “Dù thiếm này hay giúp mẹ con tui khi ba tụi nó vắng nhà, nhưng vì thơ của ba tụi nó viết, mà chú bỏ vợ con ở ngoải trở vô đây; tuy có tốt mà cũng thất đức”. Ba tôi cười: “Chú ở ngoải (ngoài ấy) không có công ăn việc làm, khó kiếm tiền bằng ở đây, nên chú nhơn cái thơ mà trở vô đó thôi”. Dù sao, ba tôi cũng mỉn cười khi nghe bên kia vách chú tám Lưỡng thơ thới nằm vỏng đu đưa lại ngâm nga:
Thương nhau sao nỡ hại nhau
Nghĩ thêm chín lá gan đau như dần

Năm sau, thiếm Lưỡng “lớn” theo ghe bầu vô thăm chú Tám. Thiếm có đem đứa con trai theo, nó khoảng tuổi Điểm em tôi. Gia đình một ông hai bà hòa thuận. Qua mùa Tết, ghe bầu trở lái về Đông, thiếm lớn mang con về Phan Thiết. Chú ở lại cho đến 1945 thì bị Việt Minh giết. Họ khép chú vào tội: “Việt gian” vì chú đổi nghe, và làm tài công ghe gắn máy chưn vịt cho nhà binh Pháp. Sau này, tôi xuống Cần Thơ học; rồi nhập ngũ bôn ba xuôi ngược, không còn tin tức của thiếm nữa.

Kế đó, là nhà lá nhỏ của ba má tôi cất cuối năm 1937.

Sát vách nhà tôi, là nhà chú ba Dảnh – Chú chỉ có một đứa con trai tên Của (cũng tên Của, thường kêu là Của nhỏ) và một đứa con gái tên Mạnh. Cô này bị tật nặng: một chưn bị tóp vạt vẹo ne (sau này mới biết cô bị polio), khiến cô đi khập khiễng và rất chậm. Chú ba làm “cu li” (coolie) trường tiểu học. Trống tựu lớp, trống ra chơi, trống tan học đều do tay chú. Sau này, khi tôi lên lớp nhì một năm, gần bãi trường, chú cho tôi tập đánh trống ra chơi ba tiếng: hai nhặc một khoan: Tùng... Tùng... Tùng. Rồi khi thấy tôi học được, chú đem tôi vào trường một sáng thứ năm, tập đánh nhỏ vừa đủ nghe trọn hồi trống tựu trường từ tiếng lớn đến nhịp đôi rồi lần lần giảm cho tiếng trống nhỏ đi. Dứt hồi trống chánh thì trở lại đánh ba tiếng lớn hai nhặc một khoan như trống ra chơi. Từ ngày biết đánh trống tôi thường canh giờ, chớp dùi trống, leo lên bực gạch, vói tay cho vừa mặt trống (vì tôi lùn) để đánh cho được. Khi đánh xong mà nghe không có gì sai trật, tôi khoái chí lắm.

Nhà chú ba Dảnh, có che mái trước nhà làm trại mộc cho một ông thợ chuyên môn đóng giường chỏng kệ tủ cho bà con quanh chợ quận và đặc biệt sửa chửa các bàn ghế cửa nẻo cho trường. Lâu lâu, chú ba Dảnh lại cho một ông thầy bói sáng kiêm địa lý từ ngoải vào ghé lại ở trọ vài tháng. Thầy chuyên xem đất đai, mồ mả, nhà cửa, tiệm quán v.v... Thầy có mâm đèn riêng. Hết khách, thì thầy lên đèn dầu phộng, tự tiêm thuốc phiện hút nằm nghiêng mà hút ro ro, xong bật ngửa thẳng cẳng lim dim; mùi á phiện bay thơm khắp xóm không bị ai quở trách gì hết. Có hôm, ông ngồi nạo trong cái cối nhỏ rồi trút hết vào miệng mà nuốt. Thằng Của nói nhỏ với tôi: Ổng “thầu sái nhì”. (Dù nó lớn hơn tôi nhưng tụi tui vẫn mày tao thằng nọ thằng kia với nhau). Nó còn kể cho tôi nghe: nó mua dùm á phiện cho thầy tại R.O. (Régie d’Opium) bên hông chợ mà cũng ngang nhà việc. Tôi quen nghe hơi, nhận ra mùi thuốc phiện từ đó; sau này lớn lên, khi đọc tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân thì tôi khỏi phải tìm đâu xa, chỉ cần nhớ lại ông thầy bói này, thì mẫu người hút á phiện liền hiện lên rõ ràng; nhứt là cái mùi đặc biệt, ai là “tiên bà tiên ông” đi ngang thì tôi biết liền.

Oái oăm thay! bàn đèn á phiện lại cận kề nhà một ông thơ ký sở đoan (douane) hưu trí. Kế nhà chú ba Dảnh là ngôi nhà ngói xưa ba căn hai chái của ông ba Sóc. Khi đương thời, ông chuyên về bắt ruợu lậu và á phiện lậu. Ông ở đó với bà vợ sau và hai người con gái. Dì hai Xuyến là vợ góa của thầy phạm nhe Trường ngoài xóm rạch Tầm Vu. Dì hai “ở vậy” nuôi con. Con gái lớn của dì là chị hai Nhung được gả về làm dâu một điền chủ bên Trà Vinh (?). Kế đến là các anh Quang, Nhả, chị Lệ. Con trai út của dì là Tống Hữu Minh và tôi cùng học lớp ba A do thầy ba Lưu Nhơn dạy. Suốt năm học, Minh, Nguyễn Phước Cương và tôi chuyên đọc truyện Tàu và tiểu thuyết trong sách quảng cáo của nhà thuốc bắc Nhị Thiên Đường trên Chợ Lớn. Ông ngoại Minh có tủ sách tiểu thuyết. Ba má Cương có mấy bộ truyện Tàu: Bắc Tống diễn nghĩa, Phi Long diễn nghĩa, Ngũ Hổ Bình Tây, Ngũ Hổ Bình Nam v.v.. Minh và Cương lén lấy đọc rồi cho tôi mượn. Tôi ráng ngốn cho mau, để trả sớm, hầu mượn cuốn khác. Vì đọc gấp, cuốn hết trọn, cuốn lướt qua như vậy, nên nay chẳng còn nhớ được bao nhiêu.

Dì ba Châm không chồng con mà cũng không được bình thường. Dì không nổi cơn dữ dằn mà chỉ nói lầm thầm và cười một mình. Không ở trong nhà thì dì đi tha thẩn đầu trên xóm dưới không phá hại ai.

Cạnh nhà ông ba Sóc, là nhà thương quận Ô Môn nằm ngay dốc cầu sắt. Kiến trúc theo lối xưa, nằm dọc bờ sông hai dảy nền đúc bằng đá tảng xanh cao khỏi ngực tôi, vách gạch quét vôi trắng, mái lợp ngói đỏ. Gồm: một dảy nhỏ làm nhà sanh (sau này gọi là bảo sanh) có bà Ba là mụ chánh túc trực; một dảy lớn là nhà thương có văn phòng “quan thầy thuốc” (bác sĩ) chẩn bịnh; có phòng phát thuốc do hai phạm nhe luân phiên túc trực, có hai khu phòng bệnh nhân nam nữ riêng biệt. Mặt tiền nhà thương có một hàng cây điệp thân cao tàng rộng. Cứ đến mùa thì hoa điệp nở hai màu đỏ vàng rực rỡ chen nhau. Đằng sau nhà sanh là một dảy nhà bếp và kho của nhà thương. Cách xa trong đục vườn là một nhà xác nhỏ. (Đứng sau nhà tôi nhìn ra hè thì nhà xác ẩn hiện sau mấy bụi chuối).

Đứng đầu nhà thương và nhà sanh là “quan thầy thuốc” Tô Phương Ký. Sau này được biết ông vốn là médecin indochinois. Phụ quan thầy thuốc Ký có hai thầy phạm nhe (infirmier=y tá): thầy tư Tá và thầy năm Thơ. Thầy tư Tá có nhiều con học chung trường với chúng tôi. Lao công thì có chú sáu Ngô, người Trung. Chú ăn ớt như tụi tôi ăn kẹo; một bữa cơm của chú thường kèm theo nửa chén ớt hiểm. Chú có đem theo hai cậu con trai: anh Khanh học trên tôi hai lớp, còn Lương Trọng Công học cùng lớp với tôi. Nhà bếp thì do dì hai Xuyến điều khiển (có thể những bực chức sắc trong quận đều biết dì là quả phụ của thầy phạm nhe Trường nên dành ưu tiên cho dì). Phụ lo bếp núc cho cả nhà thương là vợ chồng dì tư Cư. Nhân nhắc tới nhà bếp, khiến tôi nhớ lại một chuyện vui nhỏ: mỗi bữa trưa và chiều khi tan học (thời đó chúng tôi học ngày hai buổi) mấy đứa có quen với dì Hai Xuyến hay dì tư Cư hay ghé lại nhà bếp của nhà thương (nằm gần đường lộ cái mà cũng là đường đi học) để nhận một miếng nhỏ cơm cháy vàng phết một chút mỡ hành. Trưa thứ năm thì học trò học chữ nho được lãnh miếng lớn hơn vì thầy ba Nhơn chỉ có khoảng 20 đứa lớn nhỏ học caractères chinois để chuẩn bị thi môn này vào kỳ thi C.E.P.C.I. cuối hè. Ngày chủ nhựt thì sắp nhỏ tụi tui trong xóm chia nhau miếng cơm cháy lớn vì cơm nấu bằng chảo đụn.

Tóm lại, hồi đó, nhà ba má tôi cất cốt gần trường học, may mắn lại gần nhà thương, và gần chợ quận qua khỏi cầu sắt là tới. Vì xóm nằm quanh ngả ba đường lộ tráng đá chạy ra làng Thới An, nên bấy giờ bà con thường gọi tắt là xóm ngã ba Thới An.

Tôi ở xóm này 7 năm từ năm 1937 đến 1944 để đi học. Kỷ niệm về trường thật nhiều, nhưng kỷ niệm về khu nhà quanh trường tức xóm ngã ba Thới An cũng nhiều.

Ở đây được đến năm 1943, thì cả xóm bị đuổi nhà theo chương trình làm đẹp khu Nam chợ quận. Chương trình này do ông quận Hồ Văn Xuân khởi xướng chỉnh trang ngoại ô. Ông đuổi hết xóm nhà lá hai bên đường từ trường học đến đầu cầu; lấy đất trống cấp nền cho những người có tiền xây nhà gạch mái ngói. Vì thầy năm Thơ là phạm nhe, công chức nên thầy được lô đất gồm hai nền nhà của chú ba Dảnh và nhà ba má tôi. Khi cất xong, nhà thầy xoay mặt ra đường cái. cửa mở về hướng Tây. Bà sáu Lùn khá giả, có rể là chú ba Rạng, chủ tiệm vàng bên chợ, thì được lô đất đối diện, vốn là nền nhà của cô dượng Tám thợ bạc. Khi cất xong, nhà của bà cũng xoay mặt ra lộ cái, nhưng cửa mở về hướng Đông.

Dân xóm nhà lá, số đông toàn là người nghèo, lại thêm dốt nát, nên không ai dám cải lịnh của quan chủ quận. Chỉ có một mình má tôi làm đơn xin miễn đuổi nhà và trong đơn má tôi có hứa sẽ cất nhà gạch theo lịnh của quận. Đơn có kèm theo bản đồ do tôi vẻ, theo má tôi chỉ dẫn. Hỡi ôi! khi thầy phạm nhe Thơ cho má tôi coi bản đồ của thầy nạp vào dinh quận để cất lên trên nền nhà của ba má tôi, tôi đứng bên cạnh nhìn theo; thì tôi mới thấy là không bao giờ tôi biết vẻ một bản đồ như vậy. Rốt cuộc, ba tôi phải bỏ công ăn việc làm, trở về lo giở nhà dời vào chỗ mới, gần cây ô môi sau hè nhà bà Sáu Lùn.

Gần 60 năm qua rồi! Xóm cũ nhà tôi năm xưa chắc đã đổi thay hết; những người tôi quen phần nhiều đã chết, hay nếu còn hẳn cũng con đàn cháu đống, tản lạc mười phương sau mấy cuộc đổi thay. Nhứt là từ năm 1975, miền Nam bị nạn hồng thủy, chế độ cầm quyền đã khác, luật lệ áp đặt cũng khác, thì cuộc sống của dân cư càng khác!



L o n g T u y ề n
Ngày 25 tháng 06 năm 2004

Image


13323 top -
SƯƠNG BÁM CỎ MAY
1, 2
_______________________________________________
Tháng Chín Giao Khúc Mưa - thơ - Hoàng Vũ Luân _______________________________________________

Image

tháng chín, mưa tàn, thu lá, úa
mùa phai, nhàn nhạt, nét son, môi
tím sim, áo trắng, đêm, nhung lụa
thoi dệt, tình si, mộng, giữa vời

xem tiếp...

_______________________________________________
Đèo Bồng - văn - Trần Đại _______________________________________________

Image

Buổi chiều mây bàng bạc trôi, nắng lung linh và gió biển nhẹ hiu hiu, hai người mua cà phê xong, không ngồi lại quán như lần trước, họ sóng bước bên nhau dọc theo con đường lát gạch sát bờ biển. Những cánh buồm chầm chậm ngược xuôi trong vịnh, xa xa là các chiến hạm che khuất một phần bán đảo ngoài khơi.

xem tiếp...

_______________________________________________
Dạ Khúc Mùa Thu - nhạc - Ngọc Thể _______________________________________________

Image

Chiều thu mưa rơi rơi, lá vàng bay chơi vơi
Chiều thu mang tin yêu đôi mắt tình tự nắng.
Có đôi môi nồng thắm, nhớ vòng tay chìm đắm!
Những kỷ niệm không phai ,ngát hương mùa thu say

xem tiếp...

_______________________________________________
Autumn Is Here - ảnh - sisily _______________________________________________

Image



xem tiếp...