THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP



Có một ngày như thế...
1, 2 - bottom



Image

D U Y Ê N . n ợ
........b a . S I N H
____________________________________________________________________________
t h i ê n d i



...từ sau tháng tư đen.



Tôi từ giã cha mẹ, theo chồng về quê.
Từ lâu rồi, tôi nghe câu ca dao:

" Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh"


Chắc đó là một thời thanh bình nào xa lắc, chứ còn bây giờ, khi chúng tôi bị rượt đuổi như đang gánh vác một tội đồ, thì ngay bông bí, dưa hường cũng kiếm đâu ra.

Mỗi ngày tôi đi ngắt đọt rau muống, ở nhà quê rau muống là cỏ dại, tôi tha hồ bữa luộc, bữa xào. Có khi tôi hái đọt ớt, mồng tơi, rau dền, thêm một trái mướp, tôi nấu canh tập tàng. Chồng tôi thích ăn canh, bữa cơm đạm bạc mà có được chén canh thì dễ ăn hơn nhiều.

Lần nào ở ngoài ruộng về, anh cũng móc túi quần, chiếc quần kaki đã thủng nhiều chỗ, anh bỏ ra vài con cua đồng tím đỏ, dăm con ốc bươu, có khi có thêm con cá nhỏ. Nhiều lúc tôi cũng điên đầu vì không biết phải xoay ra món gì. Anh làm việc nặng nhọc mà ăn đói thì tội quá.
Cũng may là lâu lâu anh chặt về một buồng chuối chín. Hoặc mùa đào khoai thì có khoai lang, khoai lớn phải đem bán, chỉ giữ lại nhà khoai hạng ba, củ nhỏ bằng ngón tay. Thuở đó mỗi ngày tôi ra mương cạnh nhà, chà rửa một rổ lớn rồi luộc lên, cả nhà lột khoai chấm nước cốt dừa ăn thay cơm.

Tôi chỉ lo cho sự an nguy của anh thôi. Chứ đối với tôi, được cùng chia với anh củ khoai, ngồi cạnh nhau trong căn bếp ấm, chung quanh mù mịt khói vỏ dừa un muỗi, đã là hạnh phúc lắm rồi.
Tuy được thả ra, chứ thân phận anh như con kiến bò trong miệng chén, bất kỳ trong xã có chuyện công ích nào, đào kinh, vét mương, cất nhà tình nghĩa, làm nghĩa trang liệt sĩ …nhất nhất chuyện gì, thì những phó thường dân như anh bị trưng dụng trước tiên, người ta nói “nước sông, công tù” mà .

Nhớ lần duy nhất được đi thăm anh, sau hơn một năm bị giam ở đảo Phú Quốc, không một tin tức gửi về. Lúc anh được chuyển trại về Cà Mau, tôi theo má chồng đi thăm anh, tôi nói lần duy nhất là vì tên Công an Phường không chịu cấp giấy đi đường cho tôi đi thăm chồng, hắn nói vì chúng tôi chưa “Đăng ký kết hôn”, nên chưa phải là vợ chồng.
Sau này khi tên công an khu vực đi về thăm quê, tôi mới xin được giấy phép vì một cơ hội hiếm có.
Má chồng tôi đã đi tìm con nhiều lần, nên bà biết rõ đường đi, chúng tôi đáp xe đò xuống Minh Hải, rồi ngồi đò máy vào chợ Cái Nảy, lúc chúng tôi đến nơi thì trời đã chạng vạng tối. Má chồng tôi nói trình giấy xin thăm nuôi ở đây, đây là trại E 24. Sáng sớm ngày mai còn đi một chiếc ghe nhỏ nữa mới đến trại B3 của chồng tôi.
Lúc má anh trình giấy thì trót lọt, vì là mẹ đi thăm con. Tới phiên tôi thì có rắc rối. Tên cán bộ hỏi tôi đi thăm ai, rút kinh nghiệm ở Phường, tôi không dám nói đi thăm chồng vì sợ bị hỏi giấy đăng ký kết hôn, tôi nói đi thăm vị hôn phu, tên này nhìn tôi trừng trừng làm tôi hoảng sợ.
Hắn hất hàm hỏi trống không:
- Làm nghề gì?
- Sinh viên.
Tôi trả lời và đưa thẻ ra.
Hắn lại nhìn tôi chằm chằm…
Má chồng tôi thấy vậy, liền tiến tới giải thích, tôi là con dâu sắp cưới của bà.
Sau khi yên trí tôi không phải là thành phần phản động, tên cán bộ nói:
- Thế ra là chị đi thăm người yêu… học sinh thì bảo là học sinh…chỉ tiểu tư sản!
Làm xong thủ tục, tôi thở ra nhẹ nhõm.

Đêm trước khi vào trại thăm nuôi, họ gọi tên mỗi người để đóng tiền ngủ đêm, và sắp chúng tôi thành từng nhóm nhỏ, cứ mỗi nhóm khoảng mươi người vào trong một chòi lá ven sông. Trong chòi chỉ có hai tấm ván dài kê lên mấy cục gạch,
Chúng tôi không ai ngủ được vì chỉ có ngồi xổm, hơn nữa lòng bồn chồn, nôn nóng, vì còn mấy tiếng đồng hồ nữa thôi, là sẽ được gặp người thân. Vào khoảng nửa đêm thì nước tràn vào chòi, ban đầu ướt lấp xấp… Lát sau thì chúng tôi phải đứng lên hết ,xách theo luôn hành lý vì nền nhà đã hoàn toàn ngập nước. Tất cả mọi người đều phải bước lên mấy tấm ván, nước càng lúc càng dâng cao. Bây giờ tôi mới biết mấy tấm ván này dùng để làm gì.

Chừng khoảng hai giờ sáng thì bọn họ rọi đèn kêu chúng tôi ra, cứ theo tên gọi mà lên chiếc ghe nhỏ đậu trước mặt, trước khi lên thì phải đóng tiền cho chủ ghe. Chiếc ghe nhỏ đã khẳm lắm rồi, mà tên cán bộ vẫn tiếp tục kêu người lên…Chung quanh tôi, trời đen kịt, sông nước mênh mông…Má chồng tôi ghé tai tôi hỏi nhỏ:
- Con à, con biết bơi không?
Sau này tôi mới nghe nói những chiếc ghe đó đã nhiều lần lật, chìm, và không có cách cứu nạn nào nếu nạn nhân không biết tự lo cho mình!

Chiếc ghe chèo gần tới sáng thì neo lại ở xa xa bờ, qua làn sương mỏng tôi thấy một đoàn người đi ở phía trước, vai vác dụng cụ nhà nông. Tôi đoán họ ra đồng làm việc, nhưng họ cứ ngoái nhìn lại chiếc ghe, tôi biết ngay họ là ai, nên đứng thẳng lên nhìn, má chồng tôi nói nhỏ
- Đây mới là trại 1. Trại 2, 3 còn xa trong kia
Tên dẫn đường kêu tên những người được lên trại 1, hắn gằn giọng:
- Mấy bà vợ trẻ ráng “động viên” chồng lao động cải tạo tốt thì được tha về, vô đó mà khóc lóc thì tui đưa trở ra liền nghe.

Cuối cùng, chúng tôi cũng tới trại B3, tôi hồi hộp lắm.
Chiếc ghe cũng đậu ở xa bờ… Trời đã sáng rõ, tôi thấy trong dãy cầu xí cất gie ra mé sông, có mấy người đàn ông đứng trong đó nhìn chúng tôi, tôi biết họ chỉ giả bộ đi cầu thôi, vì ai cũng đứng ngó ra ngoài.

Chiếc ghe được lệnh cặp vào chiếc cầu nhỏ, chúng tôi chuẩn bị đi lên.
Tôi không thể nào quên được giây phút đó.
Đứng trên bờ đất, chồng tôi cúi xuống nắm tay tôi kéo lên. Tôi nói sao cảm giác lúc hai bàn tay chạm vào nhau, cảm giác mà mỗi khi nghĩ lại, còn làm tôi xúc động đến bây giờ. Chồng vợ nắm tay nhau mà chưa được phép nói chuyện.
Tôi cảm ơn biết bao, những người bạn tù đã chạy đi thông báo với chồng tôi, đã sắp đặt cho anh “tình cờ” đi ra đúng lúc ấy để giúp đỡ tôi leo lên bờ đất cao.
Trên bờ, mấy con ba khía hốt hoảng chạy ngang ngang, ba khía ở đây nhiều lắm.
Mẹ con tôi đi vào căn nhà lợp lá, dành làm chỗ thăm nuôi.
Còn anh và mấy người bạn có thân nhân thì quay trở lại trại, chờ quản giáo kêu tên ra gặp người nhà .
Anh ngồi trước mặt mẹ, hỏi thăm chuyện gia đình. Cánh tay anh choàng ngang vai tôi, tôi nắm tay anh, cảm động sao giây phút quý báu ở cạnh nhau, bàn tay thân thuộc ngày nào bây giờ chai sạm, to bè. Tôi không cần e dè, ngần ngại trước mặt má anh nữa, tôi cũng không khóc.
Ở cạnh anh, tôi chỉ thấy niềm vui, hai chúng tôi cười với nhau mà chẳng nói chi nhiều. Nói gì bây giờ cũng vô nghĩa. Khi người ta có quá nhiều điều để nói, thì biết bắt đầu từ đâu bây giờ.
Mấy tiếng đồng hồ trôi qua nhanh quá, trước khi chia tay, tôi nhét vào tay anh một lá thư thật dài, anh cũng kín đáo đưa lại cho tôi một lá như thế. Tôi lặn lội một ngày, một đêm để gặp chồng có vài giờ .
Chiếc ghe nhỏ đưa những cha mẹ già, những người vợ trẻ đi trở ra chợ Cái Nảy. Ở đây chúng tôi lại đi theo đò máy mà về Minh Hải...

Thường thì lượt về, người ta sẽ có cảm tưởng hành trình ngắn hơn, nhưng tôi thì trái lại.
Tôi thấy đường xa mù khơi, hôm qua tôi lặn lội mỏi mệt, nhưng tôi có anh ở cuối con đường. Hôm nay, mỗi con sông tôi đi qua, là chúng tôi lại xa nhau thêm nghìn trùng, tôi chịu hết nổi nên nằm bịnh dọc đường làm má chồng tôi lo lắng cuống quít.
Tôi nằm trong lòng chiếc đò máy, sóng đánh đu đưa, tiếng máy đuôi tôm rền rĩ làm tai tôi ù đặc, tôi bị sốt mê đi… nghe như gió lạnh nổi thốc tứ bề.

*

Tin từ trong trại đưa ra, anh bị đau nặng...
Gia đình được làm đơn bảo lãnh cho anh ra tù.
Anh nằm thiêm thiếp, bất động…nhưng tôi vẫn cho là tôi may mắn, vì tôi biết có nhiều người đã chết vì không có phương tiện chạy chữa ở trong đó.
Khi ấy, thuốc thì phải chạy kiếm ngoài chợ trời, bệnh viện chỉ cung cấp thuốc cho những đơn thuốc của cán bộ, (dân đen thì chỉ có thuốc Xuyên tâm liên) mặc dù lúc đó Việt cộng đã lấy hẳn bệnh viện Thống Nhất dành riêng cho cán bộ cỡ bự.
Khi tôi bắt đầu bán đi những chiếc áo dài, nghĩa là trong nhà không còn có cái gì giá trị nhiều hơn nữa để bán… Thì Ơn Trời, bệnh anh tự nhiên như lui hẳn...

*

Khi anh vừa qua cơn nguy biến thì phải trở về quê, vì tuy được thả ra khỏi trại tù nhưng anh cũng như tất cả những tù nhân chính trị đều bị mất quyền công dân , và không được phép ở thanh phố, cho dù lúc ấy gia đình bên tôi và bên chồng đều ở Saigon.
Chúng tôi làm một lễ cưới đơn sơ, lạy gia tiên và ra mắt họ hàng hai bên . Sau đó, tôi chuẩn b đồ đạc theo anh về quê.
Từ Saigon đi xe đò xuống tới Cần Thơ khoảng 4 giờ chiều, nhưng anh dẫn tôi đi kiếm nhà bà con xin ngủ qua đêm. Vì tới Cần Thơ phải lấy xe đò đi tiếp vô chợ Rach Gòi, mà lúc đó ngoài bến xe người ta nằm, ngồi cùng hành lý chật cứng. Vé xe bán qua giấy giới thiệu, ai không có giấy thì phải nằm chờ, xe có dư chỗ thì lên.
Chúng tôi xuống tới Rạch Gòi, qua xã Thạnh Xuân, rồi quá giang xuồng để vào tiếp trong Ấp Láng Hầm. Ở đây không có số nhà, cho nên thư từ, cho dẫu điện tín khẩn cũng phải nằm chờ ngoài Trụ sở Công an xã, khi người dân đi chợ thì ghé vô tự soạn ra mà lấy thư về.

Nhớ mấy lần sau về quê chồng, tôi mắc cở làm thinh khi má chồng tôi kêu đò từ bên kia con rạch. Người chở đò cho quá giang, nhưng người đi nhờ đò phải phụ chèo mũi hay chèo lái. Má chồng tôi phụ chèo, tôi còn trẻ mà lại ngồi không cho người ta chở. Tôi từ nhỏ tới lớn có chèo đò bao giờ, nên rất ngại ngùng vì không giúp được gì cho chủ đò. Tôi cũng không dám bắt chuyện với họ, vì tôi nói tiếng Bắc, họ nghe không quen nên đồn rằng nhà ông bà Năm cưới con dâu ngưòi Huế.

Ở dưới quê, chợ họp theo con nước, khi nước lớn vào khoảng 3 giờ sáng.
Chồng tôi kêu đò xin quá giang, nhưng anh chỉ gởi tôi lên, còn anh thì đi bộ trên bờ, trên vai mang một buồng chuối, hay một quầy dừa, đem ra chợ đổi lấy gạo. Tôi muốn đi bộ với anh cũng không được, vì ở dưới này, cứ giữa hai nhà là có một cái mương rộng, trên có cái cầu khỉ làm bằng thân cây bắc ngang.
Có lần phải đi qua một con kinh lớn, cây cầu khỉ làm bằng thân cau khá dài, mà khi đi gần đến giữa cầu, nó lại oằn xuống một chỗ cong theo thân cây. Cái tay vịn thì ở xa, tôi lại nhỏ con, nếu tôi vói tay vịn thì sẽ rớt xuống khoảng không ở giữa cầu. Nhìn dòng nước chảy xiết bên dưới, tôi sợ muốn khóc, tôi muốn ngồi xuống mà bò qua bằng tay… Lần đó anh cõng tôi qua cầu, lúc qua được bên kia rồi ngó lại, tôi thấy hai bên đầu cầu người ta coi vợ chồng tôi nãy giờ như coi hát xiệc.

Miếng đất mà ba chồng tôi xin “nhập hộ khẩu” để có địa chỉ mà bảo lãnh chồng tôi về, là miếng đất rất xấu, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Vùng đất cằn khô, cây trồng trên rẫy mà nước mương không lên tới. Ruộng thì chỗ thấp chỗ cao, nên đến mùa lúa thì lúa chín từng khoảng, gặt hái chẳng bao nhiêu, cả nhà phải ra “mót” lấy những chỗ lúa chín, nâng niu đập, phơi.
Hễ cây giống cam, quýt vừa đặt xuống, có khi chưa kịp bén rễ đã bị bứng trộm mất, vì trong phần đất trước đây có một lối đi chung, người ngay kẻ gian gì cũng có quyền đi xuyên qua đất nhà.

Trăng ở nhà quê đẹp mà buồn.
Ánh trăng xanh mét trải mênh mông trên từng con mương dài, trăng rớt trên hàng cau xõa tóc, lả lơi trên tàu dừa đu đưa, ánh trăng tương phản với những cây đèn đầu đỏ quạch dưới những mái lá hắt hiu.
Tôi ngồi trên bờ, còn anh cầm cái len xuống ruộng để san cho hết chỗ đất thấp cao, gieo hi vọng cho mùa tới, lúa sẽ chín đều.
Lúc mặt trăng đã lên cao lắm, trải ánh sáng tràn lan trên từng bờ cỏ, thì anh trở lên ngồi cạnh tôi, hai bắp chân bê bết đất sình. Anh cười vui, còn tôi thì buồn nẫu ruột, thương chồng mà không biết làm sao hơn.
Chợt nghĩ tới ngày phải trở lên Saigon vì tôi còn hai cái chứng chỉ chưa lấy xong, tôi muốn nghỉ quách cho rồi, thời buổi này còn học làm chi, nhưng anh khuyên tôi nên tiếp tục.
- Kiến thức sẽ giúp em dễ dàng nhận ra những trò xảo trá, bịp bợm đang xảy ra quanh em!

Đã nửa khuya rồi, chúng tôi xuống mương rửa chân tay.
Tiếng nhóc nhen kêu rền rĩ.
Mấy thanh niên trong ấp hãy còn tụ họp ca tân cổ nhạc giao duyên, tiếng đờn thùng bập bùng...

Chỗ ngủ của vợ chồng tôi là một tấm tôle đã được anh đập cho phẳng, trải trên nền đất. Anh trải thêm lên đó hai tấm mền dầy để ngăn hơi đất. Tôi thấy trên đầu nằm, có mấy quyển sách và cây đèn dầu nhỏ.
Tôi thắp ba cây nhang cặm ngoài chiếc Bàn Thiên.

Bên kia con rạch, bài vọng cổ Khóc Bàng Phi có ai ca làm rớt nhịp.
Bài ca buồn quá giữa đêm sương !

“Ta biết tìm đâu, biết gởi đâu.
Lời thơ thiên cổ biệt ly sầu.
Người về chốn ấy xa thăm thẳm,
Ta ở nơi này hận bể dâu.”


. . . . . . . .

Tri kỷ ơi,
Khi vợ chồng còn mặn nồng bên nhau, đừng bao giờ anh hứa hẹn kiếp sau sẽ đi cưới em lần nữa.
Đó là một lời nói gở.
Cây nhang chưa tàn…anh biết không?


Image


16153



Image

l ặ n .l ộ i.......
T H Â N .C Ò
____________________________________________________________________________
t h i ê n d i




Tôi đến phòng khám Chẩn y viện Tân Định đúng 7 giờ sáng. Lố nhố trước tôi chừng hai chục người, là vì phòng khám chỉ làm việc mỗi tuần có một buổi sáng thứ hai mà thôi .

Sau khi lấy số, tôi kiếm một chỗ đứng chờ tới phiên mình rồi tẩn mẩn giở tờ giấy ra đọc kỹ lại, tên họ, địa chỉ trên tờ giấy giới thiệu khám sữa. Khám sữa không phải là ở trong khám có sữa. Cũng không phải là công an khám bắt buôn lậu sữa. Mà là người có tên trên tờ giấy này, được nơi làm việc giới thiệu đến đây để cán bộ nhà nước bóp vú, xem có còn khả năng có sữa hay không. Trên nguyên tắc thì phải vắt không ra giọt nào thì mới được mua sữa nuôi con. Như vậy, khám ở đây là một động từ trăm phần trăm theo nghĩa đen.

Tôi cầm khư khư tờ giấy giới thiệu, bởi để có nó, đối với tôi là chuyện không dễ dàng. Tôi ở vào một thời buổi mà khẩu hiệu treo nhan nhản, những là Độc Lập, nào là Tự Do, mà người dân muốn làm chuyện gì cũng phải xin phép, kể cả chuyện đi mua sữa về cho con bú. Sự cho phép đó được làm chứng bởi tờ giấy giới thiệu.

Như đã nói ở trên, muốn có tờ giấy thời thượng này, tôi phải là công nhân viên nhà nước, và được cơ quan nhà nước đóng dấu thị thực, mà tôi thì lúc đó đang chạy chợ trời.

Ba tôi là tư sản, kẻ thù của nhân dân, từ khi mất nghiệp, gia đình ly tán, con trai con rể đồng loạt đi ở tù, thì ông sinh ra đau ốm, nằm liệt trên giường. Má tôi vét voi tiền bạc trong nhà làm vốn, buôn khoai lang khoai mì, đắp đổi qua ngày. Tôi còn bốn đứa em nhỏ dại, và đứa con 6 tháng tuổi.

Chồng tôi, cái người thân yêu có thể nâng đỡ, san sẻ, chống chịu với tôi trong cơn nguy khốn này, thì đang làm ruộng ở Rạch Gòi - Cần Thơ.

Từ sau khi ở tù về, anh bị mất quyền công dân. Bị cấm về thành phố, cấm bén bảng đến vùng biển, hay biên giới. Mỗi tuần phải ra trình diện công an xã, kèm theo bản báo cáo những công việc làm hàng ngày, tôi thấy anh viết trên giấy một dọc dài... làm ruộng, làm ruộng, làm ruộng... như chép phạt. Bài chép phạt cho một sự quản thúc tại chỗ. Dù sao, tôi cũng còn có phước hơn những chị em cùng hoàn cảnh.

Khi tôi bị hư thai đứa con đầu, vừa cấn đứa thứ hai và khi biết thai bị yếu, chồng tôi gởi hai mẹ con lên Saigon ở với ngoại.
Má tôi chép miệng :
- Trời làm một trận long đong. ông hóa ra thằng, thằng trở nên Ông!

Đất nước 'Thống nhât' mà vợ chồng trẻ lại chia ly. Chúng tôi thành vợ chồng Ngâu. Ông cậu thứ năm của anh thấy vậy thì than thở:
- Vợ chồng 'con nit' như bây mà mỗi đứa một nơi thì sao đặng!

Dẫu sao, mặc lòng!

Cái đảng cướp này đang dạy cho chúng tôi, những người vợ xa chồng biết thế nào là 'Độc lập'.

Ngưu Lang hàng ngày đắp bờ bao, làm rẫy, cày ruộng. Chức Nữ sinh con xong, chạy ra chợ trời. Mỗi sáng tôi cho con bú no rồi gởi cho mấy đứa em coi dùm. Tôi chạy ra chợ trời Tạ thu Thâu, một đứa bạn học cũ của tôi đã thủ sẵn một tấm ni lông túm bốn góc, trong đó là quần áo, mới có, cũ có. Tụi tôi vừa bán, vừa mua hàng, vừa canh chừng công an rượt đuổi tịch thu cơ nghiệp.

Nhiều bữa trưa, mặt trời đã đứng bóng mà tụi tôi mắc lo chạy công an mệt nhoài, chưa kiếm được đồng nào. Bạn tôi hối tôi về cho con bú. Bỏ bạn lại trên lề đường nắng cháy không một đồng ăn cơm, chỉ có chai nước lã đem theo, tôi đi mà cứ ngó lại.

Về tới nhà, vừa quăng chiếc xe đạp, tôi vội ôm lấy con, nó đói lả đang vừa khóc, vừa rúc vào nách đứa em trai tôi đòi ăn.

Hợp tác xã phường chỉ bán 'phân phối' đường, gạo, thịt, còn mặt hàng quý hiếm như sữa thì phải mua theo 'tiêu chuân', nghĩa là phải có giấy chứng nhận mới được mua theo giá chính thức.

Tôi trở lại trường, tay cầm lá đơn tôi gõ cửa văn phòng. Bí thư chi đoàn bây giờ ăn bận ra dáng lắm, hơn hẳn cái hồi làm sinh viên. Hắn đọc tờ đơn xin giấy giới thiệu đi khám sữa của tôi mà tay hắn run run. Tôi nhớ khi đi thực tập chung nhóm, lần nào tôi cũng dành làm thí nghiệm, còn hắn thì làm tường trình, vì hắn cứ run lập cập như ăn chân gà.

Hắn trở ra, đưa cho tôi tờ giấy giới thiệu đi khám sữa, trên có đóng con dấu đỏ lòm, hắn tằng hắng, ngập ngừng dặn tôi nên cẩn thận, vì tôi không phải là nhân viên nhà trường, lẽ ra tôi không đủ tiêu chuẩn... lẽ ra...

Tôi nghỉ một buổi chạy chợ để đứng xếp hàng ở đây, lòng hồi hộp lo âu như sắp vô phòng thi. Chỉ khác là khi tôi đi thi, thì tôi mong cho cái đầu tôi thật là lớn để tôi trang trải sự hiểu biết trên giấy, ý tứ đừng cạn kiệt mà mãi tuôn tràn... Bây giờ đứng đây, tôi lại mong cho bộ ngực lép của tôi đừng phản chủ.

Nhưng khổ cho tôi thì thôi, lúc tới phiên tôi cởi trần , bà y sĩ cán bộ vừa đưa tay bóp... thì một tia sữa bắn vọt ra ! Bà ta lắc đầu quầy quậy, không ký giấy. Sau đó, vì vị tình tôi cũng là 'nhân viên nhà nước' nên bà chuyển tôi qua khám lại với một bác sĩ để lấy quyết định. Ông bác sĩ này còn rất trẻ, nói giọng Nam đặc sệt. Tôi lại cởi áo ra, ngồi xuống, bên phải, bóp... Quay qua, bên trái, bóp... Bên nào thì tôi cũng để lại một tia sữa trắng còn nhỏ giọt. Đã trưa rồi, đến giờ cho con bú, sữa xuống làm sao tôi dấu được. Tôi nghĩ đến củ khoai lang hồi sáng trước khi đi không dám ăn, bây giờ đói cào!
Thật ra tôi cũng còn may, ông bác sĩ lầm bầm :
- Mấy bà thì bà nào y bà nấy, nặn ra cả ly mà hô hết sữa.
Tôi cầm lấy tờ giấy có đóng dấu, nói vã lã :
- Dạ, cháu nó nhay quá nên không đủ, thưa bác sĩ !
- Ừ..ừ..mm, biết, biết, kiếm đọt lang luộc mà ăn, tui chỉ giúp được lần này thôi nghen.

Tôi được phép mua tám hộp sữa đặc có đường, năm 1979 giữa lúc toàn miền Nam ăn hột bobo thay gạo. Tôi cầm tờ khai hộ khẩu và sổ mua nhu yếu phẩm ra Hợp tác xã Phường, nhưng bà cửa hàng trưởng nói không có hàng. Tôi trở lại vào thứ hai đầu tuần như cửa hàng thông báo, nhưng vẫn chưa có sữa. Cửa hàng chất đầy băng vệ sinh, và dép mủ tái chế. Đến tuần lễ thứ ba thì tôi được mua bốn hộp, vì hợp tác xã không đủ sữa để 'phân phối'. Tuần lễ cuối tháng tôi trở lại, thì nhân viên nhà nước nói tờ giấy mua sữa của tôi... hết hiệu lực!

Tôi khỏi cần nhức đầu, moi óc tìm tờ giấy giới thiệu khác, vì vài ngày sau đó thì tụi tôi bị công an bắt tịch thu hàng. Bữa sáng hôm đó công an trà trộn vô khách đi đường, rồi bất ngờ móc cái băng đỏ 'kiểm soát' ra đeo lên cánh tay. Bạn tôi lúc nào cũng lẹ hơn tôi, nó ôm xốc đống quần áo, chạy về phía đầu đường, nhưng cả hai phía đều bị hai tấm rào cản kéo chặn lại. Cả một khu hàng chợ trời trên đường Tạ thu Thâu, không một ai thoát!

Bạn tôi vụt khóc nức nở. Hàng bị tịch thu! Chiếc nhẫn trên tay tôi đã bán đi để làm vốn, coi như hết thấy lại. Bữa đó tôi về sớm. Bế con lên, tôi thấy nó nhẹ bỗng hẳn đi, tôi nâng nó lên, xoay một vòng con bé cười hăng hắc, mấy đứa em tôi láu táu nói con bé không chịu bú sữa bò, cứ lè cái núm cao su ra. Con tôi nhịn đói chờ mẹ về, tôi vừa ẵm con vừa nghĩ đến chồng mà thương quá đỗi! Mẹ con tôi còn hủ hỉ với nhau, mẹ có con, con có mẹ, còn cha nó thì bị lưu đày ở xa. Anh nhìn thấy mấy gia đình có con đau ốm không chở ra trạm xá kịp, nên phải bỏ mạng giữa sông nước kinh rạch, anh nhất định không cho mẹ con tôi xuống.

Nước mất, nhà tan... Tôi gởi chút phận bọt bèo trong cơn đau chung của đất nước. Bởi đã quá nhiều đau khổ của những người đồng cảnh ngộ, những giọt nước mắt của tôi chẳng làm đầy thêm đại dương tủi hận. Nhưng nước mắt làm cho mắt thêm sáng trong.

Thế hệ thứ nhì, thứ ba, lớn lên sẽ hiểu vì sao cả triệu người Việt Nam không sống được trên đất nước Việt Nam thân yêu.


Image


16206



Image


m ư a .t r ê n .t ấ m .p o n c h o
____________________________________________________________________________
t h i ê n d i



Chuyện xóm tôi.


Ba má tôi về đây lập nghiệp đã lâu lắm. Má tôi nói lúc đó ở phía sau nhà còn có một cái ao lớn, mấy người đàn ông trong xóm và ba tôi tháo nước ao, ngăn sình để cùng nhau đổ nền nhà.
Dân nghèo tứ xứ tụ hội, vài chục năm sau thì gần gũi thân tình như bà con. Lúc về đây má tôi còn chưa sanh hai đứa em út, chỉ mới tới tôi và thằng em kế. Dì Tư bán chè nói khi đó tôi còn nhỏ lắm, ngủ trưa dậy còn ngồi khóc.
Bác Năm Lâm còn biết rõ tánh nết từng đứa trong chị em tụi tôi. Bác Năm làm Khóm trưởng ở đây, bác cũng là ông bạn già của ba tôi. Buổi tối bác Năm ưa qua nhà tôi, hai ông ngồi uống trà bàn chuyện thế sự.
Theo năm tháng, tình hình chính trị càng lúc càng nặng nề, câu chuyện giữa hai ông bạn già ngày càng khuya hơn.
Ba tôi nhận lời làm Cố vấn phong trào Nhân Dân tự vệ, cũng để giúp bác Năm một tay. Lúc đó ba tôi đã chuyển qua kinh doanh, nên cũng có phương tiện bảo trợ tài chánh chút ít cho phong trào.
Vào thời điểm bọn đặc công Việt cộng bắt đầu gài lựu đạn trong cầu tiêu rạp hát. Đặt chất nổ trong nhà hàng và những khu đông dân cư. Thì thanh niên Nhân dân Tự vệ trong xóm bắt đầu đi tuần tra ráo riết mỗi đêm.
Trong xóm tôi, mọi người đều nể nang vợ chồng ông Giáo Nghĩa, hai vợ chồng đi dạy học. Họ có hai con, một gái một trai. Nếp sống của họ khép kín khác hẳn những người lao động ở chung quanh. Con gái họ, Thu Sương hồi nhỏ học cùng trường với tôi nhưng dưới tôi một lớp.


1.
Lúc Cộng sản mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, thì Huế chịu ảnh hưởng tang tóc nặng nề. Còn Saigon Chợ lớn, thì chúng đã đột nhập nhưng mới vừa ra tay đã phải tháo chạy. Xóm nhà tôi ở gần Tổng Nha Cảnh Sát nên sau vụ Mậu Thân đó, những nhà nào ở đầu con hẻm vẫn còn mấy lỗ đạn lạc trên tường.
Bữa đó trong xóm tôi ai nấy cũng ngỡ ngàng, khi thấy năm sáu người bà con từ trong nhà ông bà Giáo Nghĩa đi ra, họ từ dưới quê lên chơi. Không biết họ ở trọ làm sao, chớ còn ai cũng biết nhà ông bà Giáo nhỏ chút xíu, hai vợ chồng và hai đứa con đã chật cứng.


2.
Cho đến cuộc đổi đời trưa 30 tháng Tư 1975.

Gia đình ông Giáo Nghĩa là căn nhà đầu tiên cắm lá cờ Mặt trận Giải phóng. Ông bà Giáo cùng những người lạ mặt đeo súng ra « tiếp quản » đường phố, xóm làng. Từ đó cả xóm thấy họ hăng say làm công tác cách mạng, hội họp tuyên truyền đường lối của « ủy ban quanh quẩn quân quản »
Bọn cỏ đuôi chồn như vợ chồng bà Giáo bị dân trong xóm kêu là « Cờ đỏ », vì đã có dấu hiệu bán đứng sinh mạng bà con cho công an.
Vài ngày sau cả phường phải theo loa phóng thanh ra họp để chào đón « Cách mạng lâm thời » địa phương. Một cô gái còn trẻ, mặt mũi vênh váo, mang dép râu khăn rằn, áo bà ba đen, đeo súng. Đó là Hai Lý chủ tịch phường xuất thân từ lực lượng Giải Phóng, và Ủy ban Nhân dân là mấy tên nằm vùng, leo lên từ địa đạo Củ Chi.
Bọn cỏ đuôi chồn và bè lũ nằm vùng này cho dù thay chỗ đổi ngôi nhau, nhưng tựu trung trước Anh Linh Dân Tộc, chúng chỉ là một loại « chó nhảy bàn độc », thừa lúc vận nước suy tàn để nhảy lên ngồi chồm chỗm mà thống trị đất nước.

Bà giáo Nghĩa làm Chủ tịch Hội Phụ nữ, kiêm Ủy viên đặc trách Thanh niên Xung phong, kiêm Cố vấn Chi Hội Thanh Niên, kiêm …hầm bà lằng !

Ngoài nhiệm vụ hội họp các đoàn thể, bà Chủ tịch này còn chủ tọa những đợt lễ giao quân từ Phường lên Quận. Sau bài diễn văn thì bà đi trao quà cho từng thanh niên tới tuổi phải đi bộ đội, bà bắt tay từng người, cảm động ôm siết từng người .
Lúc mặt trận phía Tây Nam bắt đầu sôi sục, Việt cộng đưa quân qua Campuchia ngày càng nhiều. Để đủ chỉ tiêu giao quân, công an phường lùng sục danh sách từng nhà, một mặt kêu gọi những nam nữ thanh niên chưa tới tuổi, tình nguyện gia nhập bộ đội.


3.
Bữa đó má tôi hớt hải đưa cho tôi tờ giấy kêu thằng út đi khám sức khỏe để đi bộ đội. Tôi cầm sổ thông hành của nó ra khiếu nại với ban tuyển quân. Tên cán bộ cầm cuốn sổ « hộ chiếu » lật qua lật lại, nó chưa bao giờ thấy loại giấy tờ này, cho nên sau khi nghe tôi giải thích là em tôi đang chờ lên danh sách chuyến bay để đi Pháp, thì nó yêu cầu tôi đi ra cái « Cục xuất nhập cảnh » để xin giấy xác nhận người này được đi nước ngoài !
Hồi nãy má tôi sợ quýnh quáng vì lo cho con.
Bây giờ chính tôi sợ vì sự ngu dốt « vĩ đại » của tên cán ngố này. Tôi nói tôi không thể nào xin được tờ giấy xác nhận đó, vì tự cuốn sổ thông hành này đã ghi rõ thời hạn, và cho phép cái người có tên và có hình dán trong cuốn sổ này, được phép xuất cảnh qua « cửa khẩu » Tân Sơn Nhất.

Tôi cầu cứu bà giáo Nghĩa để bả « đả thông tư tưởng » cho tên này hiểu dùm tôi, vì nó đã nổi cáu :
- « Tôi đánh thắng giặc Mỹ mà chị bảo tôi không biết à ? »
Bà giáo khuyên tôi nên « động viên » em tôi đi khám sức khỏe, vì chưa chắc là nó sẽ được « trúng tuyển nghĩa vụ » đâu.
Thông minh hơn tên cán bộ trong rừng kia, bà nói sổ thông hành chỉ có giá trị để đi qua cửa khẩu, chứ không có ghi được miễn đi bộ đội .
Bà trấn an má tôi, cứ để em tôi làm « nghĩa vụ », chừng nào em tôi có vé bay thì đảng sẽ cho gọi nó từ mặt trận về !
Tối hôm đó má tôi dẫn thằng út vô Chợ Lớn, ở nhờ nhà bà con để tránh mặt bọn công an trong lúc này.

Hầu như ai cũng sợ công an, nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ. Ông Vạn là cư dân kỳ cựu trong xóm. Người con trai lớn là Đại úy Biệt động Quân đang ở tù cải tạo. Vợ ông và mấy đứa con nhỏ lần lượt vượt biên. Ông bị công an kêu hỏi thường xuyên vì sự vắng mặt của các thành viên trong gia đình, lâu dần ông cũng đâm lỳ nên nói trả treo lại với chúng. Không biết bọn công an đã làm gì ông, mà một đêm khuya, cả xóm nghe ông chửi một mình, lồng lộng :
-« Tiên sư thằng trưởng công an nhá, tiên sư thằng phó công an nhá. Mày chửi ông à … mày đánh ông à … quân cướp nước ! »
Sáng ra, mọi người trong xóm gặp nhau cứ tủm tỉm cười. Bọn Vẹm tức lắm, nhưng không bắt giam ông được, vì ông đã quá già ! Một mình ông ở lại trong căn nhà lớn làm lũ Vẹm ngứa mắt, chúng đưa lệnh tịch thu nhà ông để làm trụ sở công an, và chuyển ông đến ở chung với một cụ già khác trong một con hẻm nhỏ gần bờ sông. Ông Vạn chết một năm sau đó.


4.
Như mọi buổi Lễ Giao Quân

Kỳ này buổi lễ cũng được tổ chức theo thông lệ, nhưng không khí có hơi khác thường, bà Chủ tịch Hội Phụ nữ, kiêm Ủy viên Mặt trận…mặt mũi phờ phạc.
Mới mấy tuần trước Thu Sương khoe với tôi là nó sắp đi du học Tiệp Khắc. Bữa nay nó ỉu xìu :
- «Chị nghĩ coi, thằng Nghĩa em của em nó ngu hết sức, nó viết đơn tình nguyện đi « nghĩa vụ » mà không nói gì cho nhà hay, khi ba má em biết thì danh sách đã đưa lên « trên » rồi ! »

Bà Ủy viên đi bắt tay trao quà cho từng thanh niên, khi đến thằng con trai mình… thì bà quay lưng bỏ đi thẳng.


5.
Tiệm bán gạo của thím Mười ở chợ Cầu Kho vẫn không có gì thay đổi sau cuộc đổi đời, vì gia đình thím là « Cơ sở Cách mạng » nôm na là Việt cộng nằm vùng. Chỉ sau cơn quốc biến, bà con xóm tôi mới ngã ngửa ra trước sự thật này.
Chú Mười, chồng của thím bây giờ làm Trưởng ban thông tin văn hóa phường.


6.
Tên Công an khu vực kêu tôi tới trụ sở công an, trước mặt tôi là một tờ giấy mà ai đó đã kê khai rành rẽ các chi tiết về gia đình tôi : Ba tôi làm ăn với Tây với Mỹ, anh tôi vượt biên, em út tôi trốn đi nước ngoài, tôi có vị hôn phu bị « tù cải tạo », gia đình tôi bảo trợ cho Nhân dân Tự vệ, trước đây nhà tôi có treo khẩu hiệu :
-« Gia đình tôi không chấp nhận Cộng Sản ! »

Nếu các nhà bình luận chính trị cho rằng chiến thuật của Cộng sản gồm : gieo rắc Sợ Hãi, Đói nghèo, và Dốt nát. Thì khi đối diện với thực tế tôi thấy ba cái thế khốn nạn này nó tương tác liên hoàn với nhau.
Bắt bớ, khủng bố, và bán thực phẩm cầm chừng, để người dân chỉ còn nghĩ đến cái sợ và sự đói ăn, thì bước đầu Việt cộng đã thành công
Vẹm còn muốn lợi dụng hơn nữa, lòng chơn chất của dân để đẩy mạnh chế độ khát máu tham tàn, nhưng nếu họ dốt chữ thì khó mà tuyên truyền, cho nên phải có chiến dịch :

« Xóa nạn mù chữ » :

Nhưng chiến dịch này đã bị bọn cỏ đuôi chồn tâng công, thi đua đạt thành tích, cho nên đã bị biến thể thảm hại.
Bà giáo Nghĩa ghi danh sách những giáo viên trong xóm để « vận động tham gia » dạy lớp đêm.
Tôi nói tôi không có khả năng sư phạm, nhưng bà ta nói chỉ cần người nào biết chữ là đủ. Cho nên tôi thành cô giáo.
Ủy ban nhân dân phường buổi tối được dùng làm lớp học xóa mù chữ. Học viên lối xóm của tôi là Dì Tư bán chè, chị Năm bán cá, chú Cấm bán hủ tiếu… Vần tập đọc được phát miễn phí.
Mỗi lớp học có hai giáo viên, bà giáo Nghĩa và tôi phụ trách chung một lớp. Sau mỗi tháng thì giáo viên báo cáo lên quận về bài vở đã dạy. Và cứ sau mỗi sáu tháng thì có một kỳ kiểm tra để ghi nhận tỷ lệ học viên đã được xóa mù chữ.
Vì muốn thi đua vượt « chỉ tiêu », nên khi tôi đọc chính tả, thì bà giáo lấy phấn viết những chữ khó lên mặt bàn cho học viên chép lại, kiểm tra toán cũng vậy. Tất nhiên sau mỗi kỳ kiểm tra, thì bà giáo báo cáo lên Quận số người đã được xóa mù chữ, chỉ cốt lấy chỉ tiêu thôi, chứ mấy người này cũng vẫn không biết đọc biết viết.
Số học viên « thi đậu » khỏi đi học nữa, sĩ số lớp học giảm đi, dần dà những người dân lao động tìm lý do chính đáng để không đến lớp nữa, chú Cấm thì bận đẩy xe hủ tiếu bán đêm. Chị Năm thì phải dậy thật sớm từ ba bốn giờ để đi ra chợ cá, chị không thể thức khuya. Họ nói không cần học toán, vì có thể tính rợ đến con số trăm, cộng trừ gì cũng vậy ! Lớp học rụng rơi, thưa thớt.

Nhưng có một học viên đêm nào cũng đến lớp.
Đó là Dì Tư bán chè, từ khi thằng Đẹt chết vì đạp trúng mìn trên kinh tế mới, dì trở nên mất trí. Dù đêm mưa tầm tã dì cũng tới lớp, không dù không nón nên Dì ướt loi ngoi. Dì nói với bà Giáo :
-« Cô Ba cho phép tui nghỉ học bữa nay, tui đi kinh tế mới thăm con tui, mình nó…đầy máu cô ơi ! »
Bữa khác thì Dì Tư tới nài nỉ xin phường đừng bắc loa kêu Dì trả lại cuốn vần.

Trong thời gian dạy xóa mù chữ, tôi có dịp tiếp xúc với chú Mười, Trưởng ban Thông tin Văn hóa.
Nhằm đợt đánh Tư sản, nên tiệm bán gạo của vợ chồng chú Mười bị « nhà nước » bất ngờ ập vô. Một toán bộ đội « đóng chốt » hẳn trong nhà chú để kiểm kê tài sản. Hai tên khác cầm súng ngồi trước cửa để ngăn nội bất xuất, ngoại bất nhập, tránh tẩu tán tài sản ra ngoài.
Sau khi bị niêm phong của cải, vợ chồng chú Mười bẽ bàng lắm.
Bọn Vẹm nay không còn cần đến vợ chồng chú nữa, chúng trở mặt cướp của ban ngày, ngay chính cái người trước đây đã che đậy, nuôi dưỡng chúng.
Phường tôi và phường kế cận lúc mới giải phóng đã sát nhập thành một, bây giờ lại chia ra theo một ranh giới mới.
Khi ký tên vào tờ báo cáo, chú Mười cay đắng nói :
-« Trước gom lại để thâu, nay chia ra để trị ! »

Chú dặn tôi ra Phường sáng hôm sau vì chú trực ban . Chú đóng con dấu lên tờ giấy tôi có tham gia công tác xóa nạn mù chữ, để tôi ghi danh trở lại trường KH. Thêm một con dấu nữa trên tờ đơn tôi xin đi thăm chồng, mà tên công an khu vực không chịu xác nhận vì chúng tôi chưa « đăng ký kết hôn ».
Khi bọn Vẹm chiếm miền Nam, tôi đâu đành lòng nhìn má tôi bán khoai lang để kiếm mỗi ngày hai ký gạo. Mặc dù lúc đó ở trong tù, chồng tôi vẫn dặn tôi đừng bỏ học.
Tôi vô chợ trời xe đạp Lý Nam Đế ở phía sau khu trường đua Phú Thọ. Lúc đó phụ tùng xe đạp bán rất chạy, những người ráp xe đạp, một số cũng là những kẻ lỡ thời như tôi. Mỗi ngày tôi chỉ cần bán mươi cặp vè xe là đã dễ thở rồi, vè xe đạp làm bằng nhôm nên rất dễ trầy, phải chịu khó chùi cho nó bóng. Vừa lau mồ hôi trán, vừa bán hàng, nhiều khi khách hàng nhìn tôi cười, vì tôi quẹt mặt như hề.
Trong hoàn cảnh đó tôi gặp lại mấy đứa bạn học cũ, tụi nó kêu tôi đi học lại, bây giờ đi học được mua 13 ký lương thực, được cấp học bổng 18 đồng một tháng ! Nhưng vì tôi đã bỏ học, nên tôi không thể trở lại trường được nữa.
Chú Mười đã mách cho tôi một kẽ hở, đó là con đường dành cho …cán bộ bị gián đoạn học tập vì lý do công tác.
Cũng cái hôm ra phường này, tôi gặp một cán bộ thứ thiệt làm việc ở « Viện Kiểm Sát nhân dân ». Khi tôi thắc mắc vì sao đã làm cán lớn như thế lại còn đi học bổ túc văn hóa cấp một (tương đương bậc tiểu học), thì ả vênh váo đáp :
-« Đảng luôn luôn sáng suốt, nếu chỉ chọn người học giỏi thì làm sao có người tốt được ? »
Tôi nghe xong tiêu chuẩn chọn lựa của đảng thì choáng váng mặt mày. Cũng bởi vậy, mà khi được đi học lại, tôi cứ thấy nghi ngại khi được gọi bằng cái tên đầu voi đuôi chuột :
- Các « đồng chí » sinh viên.
Ngay khi trở lại trường , tôi đã không biết điền tờ khai lý lịch. Tôi đọc tiếng Việt mà không hiểu đâu là đâu, lẫn lộn, rối nùi giữa mớ chữ và nghĩa của Vẹm, những nguyên quán, trú quán, thành phần gia đình, thành phần bản thân…đám bạn tôi vừa ganh tỵ vì tôi …sướng, vì tôi như người vừa mới rớt từ trên trời xuống, vừa chê tôi…ngu, vì không biết khai cái mục « thành phần bản thân » là Tiểu tư sản, vì hễ đã đi học thì là Tiểu tư sản rồi.
Đã như vậy thì làm sao tôi là « đồng chí sinh viên » được, khi tôi không có lý lịch ba đời đi rửa chuồng heo?


7.
Cuối cùng thì Mặt trận Giải Phóng Miền Nam bị đá đít trắng trợn. Ả Hai Lý cuốn khăn rằn, chỉ chừa lại đôi dép râu, nhường chỗ cho một tên bộ đội chính quy, răng vổ nón cối vào ngồi chễm chệ làm Chủ tịch Phường.
Sau khi bàn giao chức vụ lại cho đám cán bộ từ Bắc vào, vợ chồng chú Mười cũng dọn về quê. Bà Giáo Nghĩa bây giờ chỉ còn họp Chi hội phụ nữ mà thôi.


8.
Tuy bất bình với gia đình ông bà Giáo, nhưng mọi người trong xóm đều sửng sốt khi hay tin thằng Nghĩa chết trận ở Campuchia, chỉ vài tuần trước khi đơn vị của nó rút về nước.
Bà Giáo được tin từ đồng đội của nó, nhưng đơn vị nó chưa được lệnh thông báo cho gia đình, nên bà cứ chạy đôn chạy đáo đi tìm chỗ nhận xác con.

Lối xóm đã dựng lên một chiếc rạp để làm nhà đám. Một chiếc poncho của lính Việt Nam Cộng Hòa được giăng ngang giữa con ngõ hẹp, nối liền hàng hiên nhà bà Giáo với hàng hiên nhà đối diện.
Chiếc poncho này là gia bảo của bác Năm Lâm, nó là cái áo mưa dầy có mũ trùm đầu, nó cũng có thể giăng ngang, cột bốn góc che mưa nắng, nó tiện dụng vì là quân trang. Nhất là bây giờ nó đã trở thành vật lưu niệm của bác Năm.
Chỉ mới hai ngày mà vợ chồng bà Giáo đã ốm rốc rác hẳn đi. Lối xóm quyên góp phúng điếu, chia buồn. Em gái tôi đi cùng với mấy đứa bạn thằng Nghĩa, hồi nhỏ tụi nó vẫn chơi đùa với nhau, chúng đến đốt cho bạn nén nhang từ biệt. Giữa vùng nhang khói, nước mắt tuôn trào không ngớt từ hai quầng mắt lõm sâu, bà Giáo rũ người xuống khóc con…
Tôi nhớ mới mấy tháng trước đây Dì Tư cũng khóc thằng Đẹt như vậy.
Nước mắt của bà mẹ nào cũng giống nhau !
Hôm đó tiếng mưa rơi trên tấm poncho nhà Dì Tư cũng rất buồn.

Người Cộng sản cũng yêu thương gia đình họ, như ông bà Giáo thương con.
Đảng viên như vợ chồng chú Mười vẫn ưa tư hữu tài sản.
Vậy chế độ Cộng sản phi nhân kia để dành cho ai ? Hay chỉ là chiêu bài dựng lên để cướp của, giết người, được che dấu dưới khẩu hiệu « Cứu cánh biện minh cho phương tiện » ?
Cũng như kế hoạch đổi tiền lần thứ nhất, ngày 22 tháng 9 năm 75, toàn miền Nam phải đổi 500 đồng của Ngân Hàng Quốc Gia, để lấy 1 đồng tiền Hồ. Bọn Việt cộng đã trơ trẽn rêu rao : « Đổi tiền là vũ khí sắc bén để xây dựng chuyên chính vô sản »
Bây giờ cái giai cấp « vô sản » đó đã trở thành Tư Sản Đỏ, giàu nứt đố đổ vách. Con cháu ăn chơi sa đọa, thác loạn. Còn dân nghèo thì có tầng lớp người nghèo đến đỗi không có đủ mà ăn.
Cộng sản đã thành công rực rỡ trong việc «Xóa bỏ giai cấp», chúng tuyên truyền lươn lẹo để cho người dân chất phác tưởng rằng Cộng sản làm cho người nghèo sẽ trở nên giàu !
Thực tế thì chúng đánh tư sản, tịch thu tiền của, để làm cho người giàu rớt xuống thành nghèo, làm bần cùng hóa nhân dân, xóa bỏ hẳn đi một giai cấp để mọi người cùng nghèo đói như nhau. Đó không phải là xóa bỏ giai cấp hay sao?


9.
Xóm tôi bây giờ tan tác, chỉ trong một thời gian ngắn mà vật đổi sao dời. Buồn nhiều hơn vui.
Nếu trò đời dâu bể là chuyện bất biến của đất trời, nếu mỗi vận hạn trong một đời người là mười năm, thì một vận nước dẫu dài, cũng có thể nào kéo đến trăm năm ?
Tôi vẫn kiên nhẫn, và sẵn sàng tố cáo tội ác của Việt cộng.
Chúng tôi, những nhân chứng sống của lịch sử vẫn luôn ủng hộ cho Tự Do, Nhân quyền.
Trong nước, những người đấu tranh cho Dân Chủ, có kẻ đã ngã xuống trước bạo lực, đã bị bịt miệng, bị gông cùm hãm hại trong bóng tối.
Đội ngũ người dân chống đối Việt cộng trong nước ngày càng đông đảo, trước những tội lỗi ràng ràng của giặc cộng : Dâng đất cho Tàu Đỏ, cho chúng khai thác bauxít, làm ô nhiễm thiên nhiên, cho công nhân Tàu cộng qua làm việc, sinh sôi nẩy nở, chiếm đất vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam, y như kiểu Tầu Đỏ đã và đang xâm lăng Tây Tạng.

Khi bọn cường quyền càng ngu xuẩn, thô bạo, cơn Bĩ cực của đất nước càng đen tối, thì sự chống trả của toàn dân trong và ngoài nước sẽ ngày càng mãnh liệt hơn…
Hồi Thái lai của nước Việt sẽ phải đến, một ngày không xa!


Image


16207


Cám ơn những truyện ngắn của Thiên Di, đọc thấy hay và thấm!
DRD


16210


Sự đồng cảm giữa người viết và người đọc rất khó tìm. Cảm ơn anh Dũng rất nhiều.


16234


chị TD ơi,

có HY cũng là độc giả trung thành của chị TD đó... em đợi anh Dũng nói trước rồi em mới le te vào nói sau (HY là đứa chuyên ăn ké... :-))

chị TD viết nhiều nhiều cho tụi em đọc với nha, nha :-))


16318


HY ơi, mấy bài viết này buồn lắm, thôi để TD đi viết văn cho HY đọc nghe :)


16326


Chào làm quen TD .. :) .. những cây viết của eTetet đều gạo cội, nhưng BV cứ tấm tắc khen bài của TD .. @};- ..
HV

Image


16328


chị Thiên Di ơi ời... hôm trước YC không dám để dấu tay vì chưa có đủ thời gian để nghiền ngẫm hết mấy câu chuyện thấm thía của chị, thật sự là buồn vì gợi nhớ lại giai đoạn thê thảm của thời bao cấp... cám ơn chị thật nhiều...


16341


Chào anh HV,
TD rát hân hạnh được làm quen với anh chị, nếu chị BV biết được TD là fan của chị thì sao nhỉ?


16366 top -
Có một ngày như thế...
1, 2
_______________________________________________
Giật Mình - thơ - Hoa Cỏ _______________________________________________

Image

Tôi, say ly rượu đỏ
Em, lạc bước u mê
Đêm bỏ quên từ khước
Lỡ đánh mất lối về

Ở chỗ hương yêu đang bừng cháy
Tiếng thở bỗng nhiên rơi
Giật mình !

xem tiếp...

_______________________________________________
Nửa Đêm - văn - Nguyễn Quang Tấn _______________________________________________

Image

nửa đêm thắp đèn soi đôi mắt người tình, thấy trong mắt phải, một dòng nước lang thang tìm mãi cội nguồn, trong mắt trái, một bầy người ngơ ngác mất quê hương.

xem tiếp...

_______________________________________________
Anh Còn Yêu Em - nhạc - Thúc Sinh _______________________________________________

Image

Anh còn yêu em ngời trong giọt máu,
Anh còn yêu em bờ vai mười sáu,
Cánh môi thơm mềm,
nồng nàn hương ấm,
anh còn yêu em...

xem tiếp...

_______________________________________________
Like A Painting - ảnh - Đỗ Danh Đôn _______________________________________________

Image


xem tiếp...