THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP









N G Ư Ợ C ./ .X U Ô I ./ .N G À Y .T H Á N G .C Ó .N H A U
____________________________________________________________________________
N N & P C L


11713


Image


n à y, .y ê u .d ấ u
___________________________________________________________



Yêu dấu,
Em gọi anh là duyên ngộ kỳ diệu của đời em. Tình yêu ấy là chuỗi kỷ niệm, là buổi hạnh ngộ đầu tiên một chiều mùa thu đã đưa chúng ta đến gần nhau, rồi chúng ta dừng chân trong chốn thiêng liêng nhất của cuộc đời. Duyên ngộ ấy đã cho em biết bí ẩn của tình yêu bằng chính tình yêu của anh.

Yêu dấu đã đọc cho em nghe những bài thơ của đời sống đích thực. Chúng ta đã một đời tìm nhau, một đời thất lạc, rồi như một giải đáp, Thượng Đế đã trả ta về với ta, cho đôi ta một đời để sống, để ngồi lại cùng nhau.

Tình yêu cúi xuống, che lấp đi chiếc bóng lạnh lẽo. Mặt trời trái tim đã tỏa ấm, khiến tất cả những khó khăn, nhọc nhằn, trở thành những hạt bụi nhỏ nhoi vướng gót chân trên con đường của chúng mình.

Kỷ niệm! Trí nhớ có khả năng mãnh liệt tìm về kỷ niệm. Kỷ niệm làm thành chân dung cuộc tình chúng mình. Kỷ niệm là những con đường êm dịu ngọt ngào, là những giọt nước mắt chia sẻ thăng trầm, là những đêm mưa mỗi góc trời chúng ta nhớ về nhau, kéo gần lại khoảng cách. Bóng tối, niềm thân ái của những chặng đường ta đã đi ngày hôm qua, yêu dấu đã bỏ lại sau lưng. Bỏ lại tất cả, bỏ lại những lối đi quên tên, những con đường không để lại dấu ấn.

Tình yêu là chọn lựa khát khao, là bông hoa lớn lên, trưởng thành mà không cần đến tiết mùa. Tình yêu là ngôn ngữ không thoát ra bằng lời, là mặt hồ sâu thẳm quyến rũ những nguồn nước huyên náo phải chảy xuống tận đáy rồi lặng im. Tình yêu đẹp quá, chúng ta không đủ khả năng ngôn ngữ để nói về nó, chúng ta chỉ có thể cảm nhận bằng tâm hồn.

Yêu dấu,
Huyền thoại loài chim Uyên sống từng đôi trống mái, mỗi con chỉ còn một cánh, phải chập vào nhau mà bay cùng. Uyên Ương sống với nhau ân nghĩa trọng đến đỗi nếu một con cánh bị đau, chim kia đành xếp cánh tuyệt vọng trước bầu trời thăm thẳm. Hình ảnh ấy đẹp quá phải không dấu yêu?

Thôi, chúng ta đã có chung một lối về, hãy cất cánh bay đi cùng nhau, bay vào tầng trời mênh mông kia và hãy nghĩ về ý nghĩa của chuyến khởi hành này. Giây phút này, về sau và mãi mãi, xin giữ hạnh phúc này như ngọn lửa đam mê cháy rực. Cho dù sẽ có những ngọn gió lạnh nào đi nữa thì ngọn lửa này sẽ còn ấm mãi cuộc tình mình.



___________________________________________________________
p h ạ m c h i l a n
05/07/2003


Image


11714




Image

m ạ n .n g ư ợ c
______________________________________________________________




Tôi thường gọi con bé khoảng tám giờ sáng. Tám giờ sáng bên này, mùa này, là chín giờ tối bên đó. Hai chị em nó vừa xong cơm nước, sửa soạn đi ngủ. Và thường thì bao giờ con bé cũng bắt điện thoại.

“Chiều qua ba đã được thư con. Ba thích lắm! Con viết thư hay quá! Mà hình hai chị em cũng đẹp nữa”
“Vậy hả ba?” Con bé cười. “Con chụp ở một công viên cạnh viện, hôm đi tiếp huyết tháng rồi đấy! Lần đầu tiên trong đời con được chụp hình, vui quá ba ạ.”

Tôi thích nghe giọng cười con bé. Trong veo. Như tiếng nước róc rách con bé cho tôi nghe một lần qua điện thoại, khi bọn trẻ nô đùa bên giòng suối. Thư con bé, “Thế đấy ba ạ! Niềm vui của con từ con đường làng, từ dòng suối mát, từ mái nhà tranh… Giờ đây con đã có một cửa hàng nho nhỏ, ngày ngày con và chị buôn bán các thứ lặt vặt, nói chuyện với khách mua mà trong lòng đầy niềm vui vì con nghĩ ít ra thì con cũng có thể giúp ích được cho mọi người và không còn là một cô bé yếu ớt, bệnh tật, vô tích sự như trước kia nữa…”

Tôi yêu giọng cười hai đứa bé. Nhìn chung, quanh tôi thiếu nụ cười. Nhiều khi ngay cả nụ cười xã giao. Tôi cũng vậy, đã góp phần làm cho xã hội này thêm phần ảm đạm. Thế giới đã không có đủ tiếng cười, nhất là những tiếng cười hồn nhiên thơ dại. Đã dứt chuyện lùm xùm về ngày tận thế, có người đang bàn về một niên đại mới Mayan. Tôi thường gọi cho hai con bé lúc lười nhác, dợm khởi đầu cho một ngày làm việc vẩn vơ, chỉ để hình dung ra sự ngây thơ của một nền văn minh mới tượng hình. Tôi yêu những giọng cười non trẻ.

“Thế hôm nay hai con định làm gì?”
“Chiều nay con nấu cơm lam ba ạ. Mai tụi con lại lên viện rồi! Mang đặc sản cơm lam đãi người trong viện. Tết mà ba! A…Con chúc Tết ba.”

0O0

Lại một năm nữa qua. Tôi vẫn loay quay với nỗi buồn sâu kín, loanh quanh với quyển tiểu thuyết chưa định hình. Và có thể không thành hình. Buổi sáng đầu xuân không đủ ấm cho một vòng tản bộ dưới những hàng cây vừa đâm búp lá. Buổi tối không đủ lạnh để đốt lên bếp sưởi. Phố có đông hơn. Người có vui hơn. Nhưng tôi đố có tiếng vui như tiếng cười con bé.

Mùa xuân, có cơn bão sớm đánh tan tác mấy vạt hoa vừa chớm nụ. Tôi và những ngày ảm đạm và nỗi lo lắng vẩn vơ về những điều có thể không bao giờ xảy ra. Vẫn tẩn mẫn cố nối kết những hình ảnh rời rạc và tách rời những ý tưởng nhập nhằng. Đôi khi, xen vào là những buổi chuyện trò đốp chát với một nhân vật hư ảo nào đó. Khi ấy, những hình ảnh khói sương thoắt biến thoắt hiện, tôi cố chộp lấy như người mộng du, rồi lần nào thì hình ảnh tôi tưởng lưu giữ được bỗng tan loãng khói sương. Có lúc, lúc tôi vừa nhặt cây đàn thùng dưới sàn nhà, sắp buông vài nốt nhạc buồn, thì những hình ảnh ấy lại chập chờn hiện lên, giễu cợt.

“Anh nhất định không về lại quê nhà?”
“Tôi không có, không còn cái mà anh gọi là chốn quê nhà”
“Tôi không nghĩ là anh nói nghiêm chỉnh. Anh vẫn còn quan tâm nhiều đến những gì đang xảy ra bên đó mà.”
“Rất nghiêm chỉnh, tôi chỉ quan tâm đến những gì trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của những người thân yêu của tôi bên đó. Tôi còn nhiều người thân yêu bên đó.”
“Vậy cũng tốt. Chính những điều đó sẽ giúp ký ức và tình yêu anh sống lại”
“Anh tưởng vây sao? Anh muốn nói đến tình yêu gì? Tình quê? Một tuổi thơ nhọc nhằn, một thanh xuân đổ máu vào cuộc chiến khởi xướng từ các anh, tháng ngày tù đày khi tàn cuộc, những năm dài bị hất ra bên lề xã hội, rồi một khuya lầm lũi ra đi như trốn chạy, dè chừng cả bóng lá, chỉ sợ một tên chó đẻ bá vơ nào đó ngáng chân… Anh tưởng tôi hào hứng với những điều ấy lắm à?”
“Anh… cay đắng quá! Điều đó không giúp anh vượt qua mâu thuẫn trong chính anh. Không ai quên được quá khứ bản thân mình. Ít ra anh cũng đã nửa đời… bên đó.”
“Có thể anh đúng. Vậy, tôi cố quên và không bao giờ có mặc cảm tội lỗi về sự bạc bẻo của mình. Anh đừng dẫn dắt ký ức tôi đến tình hoài hương, lòng ái quốc nhé… Tôi chỉ còn những người thân yêu bên đó…”

0O0

Tôi biết hai con bé, tình cờ, qua một phóng sự trên một đài phát thanh Việt ngữ bên này. Nhờ người nữ phóng viên, tôi liên lạc được với hai đứa bé “bé như hai que kẹo”, và rất nhanh, sau vài lần nói chuyện, chúng tôi xem nhau như nghĩa bố con. Hai con bé gọi tôi là “ba” như người Nam Kỳ vẫn hay gọi, và khi nói chuyện với hai đứa, tôi cố tìm ra nhiều tiếng Bắc Kỳ. Hai đứa bé người dân tộc miền núi này giỏi tiếng kinh, tiếng Việt hơn tôi tưởng. Giỏi hơn nhiều người viết ở nước ngoài! Nhiều lúc tôi phát khóc khi nhìn ảnh hai que kẹo. Que chị, hăm bốn, chỉ cao tới vai que em, mười lăm. Mà que em cũng chỉ cao ngang đầu ngọn lau đồng. Chúng dựng tay thành hình mẫu tự V. Ai dạy hai que kẹo miền núi này thế hả? Bàn tay hai que kẹo cũng có biểu tượng V. Các con tôi chiến thắng điều gì? Đã nhiều năm, mỗi một tháng mười ngày nằm viện, tiếp máu, thải sắt, hai mươi ngày về núi với lỉnh kỉnh thuốc men, chúng chiến thắng điều gì?

“Con biết tụi con không thể sống như một người bình thường ba ạ. Con không thể lập gia đình và bệnh không thể nào trị dứt. Đời sống tụi con không dài…”
“Này này, không nên, không được nghĩ thế! Mọi sự rồi sẽ tốt đẹp! Lúc nào cũng phải vui con nhé”

Tôi vẫn thế, vẫn như thiên hạ, hay khuyên nhủ người khác làm những điều mình không thể.

“Vâng… lúc nào con cũng có chuyện vui ba ạ. Và lúc nào con cũng cố làm người chung quanh vui. Ba không phải lo, không có gì quật ngã được con ba ạ.”

Tôi đã tưởng tôi cho hai con bé những điều chúng cần, không ngờ tôi lại nhận, lại học nhiều từ chúng. Nhưng tôi không thực hành được gì. Tôi thấy chung quanh tôi không còn chuyện vui. Tôi không có chuyện vui. Và trong những tiệc rượu tàn tôi thường làm mọi người khó chịu. Tôi cục cằn, khiếm nhã, nhiều khi chỉ muốn cắm cái răng đau của mình vào quai hàm người khác. Tôi quên nhiều chuyện, những chuyện đáng nhớ để đau, những khoảnh khắc khắc khoải của chính đời mình.

Con bé nhá, tôi gọi lại. Bài bản quen thuộc chỉ để con bé không phải trả cước điện thoại. Không có tiếng “chào ba” thường lệ.

“Happy birthday to you…”
“Hí hi, ai dạy con bài hát ấy, hử hử hử?”
“Con tự học mấy ngày nằm viện đấy chứ ạ. Con nhớ sinh nhật ba mà”

À… thì ra con tôi có nhớ những điều tôi quên. Vậy mà tôi lại nhớ những tranh luận vớ vẩn loanh quanh với những kẻ vô hình…

0O0

“Hình như… không thấy anh ký tên vào những Thỉnh nguyện thư, Kiến nghị…”
“Trời đất! Đừng giỡn mặt cha nội! Tôi chả thèm xin xỏ ai điều gì. Kiến nghị gì? Thỉnh nguyện điều gì? Thỉnh nguyện ai? Ai ban? Ai cho?”
“Thẳng thắn với nhau nhá! Tôi nghĩ các anh, ở bên này, cần đóng góp vào sự thay đổi của đất nước. Đất nước cần đi lên và chúng ta cần…”
“Thế thì ‘thẳng thắn với nhau nhá’! Có phải những tháng năm chúng tôi xã thân, cố ngăn chận cái tai họa nhãn tiền là cái chủ nghĩa chết tiêt của các anh thì các anh hăm hở vào bưng, các anh kiên cường xẻ dọc Trường sơn? Các anh nã đạn vào đầu chúng tôi để gầy dựng cái chế độ đốn mạt đó. Giờ chế độ đó ức hiếp, trấn áp ngược lại các anh, các anh phải tự lo thân chứ! Này nhé, cái chế độ chó đẻ ngày nay là sản phẩm của các anh, bây giờ nuốt không trôi thì chính các anh phải ném nó vào xó rác! Các anh đã dựng nên cái chế độ khát quyền khát tiền đó, đã tạo ra cái xã hội thiếu ăn thiếu tình đó, trách nhiệm là của các anh, tội phạm là các anh. Các anh nên tự xử trước khi chúng tôi dây vào. Thế dân Nga, dân Đông Âu, họ dâng thỉnh nguyện thư, kiến nghị… lên ai?”
“Anh …khá gay go… Anh thiếu sự tha thứ…”
“Tôi không cao ngạo, cho rằng mình có quyền tha thứ một ai đó. Nhưng nếu anh nghĩ rằng lịch sử sẽ tha thứ cho các anh nhờ việc các anh dồn nổ lực vào các bản kiến nghị, thỉnh nguyện, yêu cầu… thì chỉ là các anh tự dỗ lương tâm mình đấy thôi.”
“Anh khắc nghiệt! Điều đó không giúp anh giảm huyết áp!”
“Tôi không hay chống đối những kẻ tôi khinh. Cố mà dẹp cái đống thối tha mà các anh thải ra đó đi. Xưa các anh thề đổ máu để gầy dựng nó thì xem chừng bây giờ các anh lại không dám đổ máu để dọn dẹp nó.”
“Tưởng anh chỉ cay đắng, hơn thế, anh cay độc. Nếu nắm quyền lực, anh sẽ là một tên độc tài.”
“Nói thế bởi các anh đã quen với phong cách dân chủ của những nhà dân chủ đang ngồi trong Bộ Chính Trị...”

Thực ra tôi không thích chính trị và những gì dây mơ rễ má tới nó. Những đối đáp với những công thần bị thất sủng thường làm tôi đổ quạo. Mùa xuân tôi hay tản bộ dưới những búp lá long lanh màu nắng. Hoa dại vỡ đất và bầy bướm vỡ kén. Tôi kiêng chính trị. Nhất là chính trị nghiệp dư, an toàn sau những bàn giấy công chức. Khổ, thế giới lúc nào cũng cần những chính trị gia! Một minh quân? Tuyệt vời! Một tên độc tài? Tính sau! Không có chúng, thế gian này loạn bạo, chả kỷ cương gì. Mà thôi, những buổi sáng này tôi thường bứt rứt vì nhiều dự định trong ngày, thấy có quá nhiều việc cần làm, và nghĩ lại thấy không có việc nào đáng làm. Con suối khô cạn từ thuở nào tôi chửa về đây, chỉ róc rách tí những ngày mưa lũ. Thiên nhiên có làm lòng tôi dịu lại và ý nghĩ của tôi lại xoay về hai con bé “bé như hai que kẹo”.

0O0

Trong nhiều năm tôi không rứt ra khỏi thành phố mình đang sống lấy một ngày. Dù biết, đi, không bao giờ cùng. Dù biết, sống, không bao giờ đủ. Dù biết, yêu, không bao giờ đầy. Tự dỗ, nhiều khi tôi cho rằng mình đã lướt qua hết cung bậc bi khốc của một đời người. Chưa bao giờ tôi đặt để cho mình một sứ mệnh, một nghĩa vụ nào cả. Thì bây giờ, tôi chỉ muốn trôi đi...

“Thế hôm nay con định làm gì?”
“Con đang giặt ngoài suối, ba ạ. Hôm nay nắng suốt, suối mát lắm. Tí nữa chị và các bạn ra, tụi con tắm.”
“Thế trong suối… có cá chứ?”
“Có đấy, ba. Này, cá dày dày, cá diếc, cá sát, cá cờ, cá cụ, cá rô…”
“Tên lạ quá há, ba không biết mấy loại cá đó.”

Con bé lại cười. Tiếng cười trong veo như tiếng suối.

“Thì ba có phải người dân tộc miền núi con đâu! Có cả cua và ốc suối…”
“Thế miệt núi con… có hoa chứ?”
“Ô, mùa xuân rồi, hoa trắng núi rừng ba ạ.”
“Ba đoán nhé… hoa mua, hoa ban…”
“Không phải! Ở bản làng con người ta gọi là hoa… chó đẻ! Buồn cười quá, con không hiểu vì sao, nhưng người kinh gọi đó là hoa tàu nhật. Con cũng không hiểu vì sao lại là Tàu với Nhật. Thân hoa làm phân xanh được ba ạ, chỉ cần ném chúng xuống chân ruộng bậc thang.”
“Quê con đẹp nhỉ!”
“Con có làm thơ về quê con đấy ba ạ, đọc cho ba nghe nhé: Quê con đồi núi chập chùng/ Rừng xanh xanh ngắt một màu yêu thương/ Dòng kênh suối chảy rì rào/ Vờn quanh đàn cá bơi lội tung tăng…”
“Con giỏi lắm! Ai bày con làm thơ mà… hay thế?”
“Con tự học đấy ba ạ! Năm lớp tám con đoạt giải nhất đọc văn diễn cảm ở trường đấy. Sau đó thì con… nghỉ học luôn. Vì bệnh ấy đấy ba ạ. À… bệnh…, hai ngày nữa con với chị lại phải nhập viện nữa rồi. Hy vọng con xuất viện trước ngày lễ viếng tổ tiên dân tộc con. Rồi tới ngày lễ Cơm mới… Dân tộc con có nhiều ngày lễ trong năm ba ạ, cứ năm ngày là có chợ phiên. Con đi chợ phiên sớm để bổ hàng cho cửa hàng tí hon của mình…”
“A… bây giờ thì ba có việc, phải chạy ra phố tí đây.”
“Nhưng ba không đi uống rượu nhá! Con không muốn nghe ba bị bệnh. Ba phải giữ gìn sức khoẻ cho ba. Và cho cả tụi con nữa.”

Con bé thật khôn. Tôi không nhớ có lần nào tôi bảo con bé là tôi biết uống rượu.

“Không, ba chỉ uống ở nhà. Ba đếm mỗi ngày hai cốc. Một cốc buổi sáng mở ra ngày. Buổi tối một cốc khép lại đêm.”
“Ba thật… nghệ sĩ!”

Con bé lanh hơn tôi tưởng.

0O0

Nhưng tôi đã dối con bé. Tôi cố tình không kể những cốc rượu giữa ngày. Không đếm được! Biết thế là hỏng nhưng ở tuổi này, không còn nhiều thời gian để hư hỏng, phải tận dụng thôi. Nhất là vào những ngày xuân ảm đạm thế này, đất trời như cứ bưng mắt người ta, thiên hạ vui vầy sum họp gia đình, một mình mình trong nhà, đốt một ngọn nến, thắp một nén hương trầm để rồi… không uống rượu à?! Để phí một ngày à? Suy tưởng để không làm gì, thú lắm!

“Tôi đọc thấy bên anh đang công diễn vỡ nhạc kịch ‘Cô Sao!'
“Vâng, đó là vỡ nhạc kịch đầu tiên của Việt Nam. Đấy, anh quan tâm nhiều đến quê nhà đấy chứ!”
“Đã bảo tôi chỉ lưu ý đến những gì liên hệ mật thiết đến những người thân yêu của tôi bên đó. Cô Sao, người thiếu nữ dân tộc Thái xinh đẹp của các anh, ‘phải đối đầu với bao tai ương nghiệt ngã và bất công nơi núi rừng. Cô tham gia kháng chiến. Rồi cánh mạng thành công, cô góp phần hồi sinh vùng đất Tây Bắc huyền thoại’. Nổ chuyện đẹp đấy! Nhưng nếu Cô Sao ấy có thật và còn tồn tại trên cõi đời này, trong chế độ chết tiệt các anh, thì hôm nay đó là một bà lão lọm khọm trong hàng ngũ đám dân oan. Bà lếch thếch đi khắp các cơ quan để xin lại đất bị cướp nhằm xây dựng các công trình mà các anh gọi là khu đô thị sinh thái, khu du lịch… có sân golf, sòng bạc.”
“Anh lại lái câu chuyện sang một hướng khác!”
“Vẫn là câu chuyện cũ được viết tiếp đấy chứ! Nhưng thôi, uống rượu nhiều rồi, tôi cần đi nghỉ một tí đây.”

Mà không dễ ngủ! Tôi vô vọng tìm một thế nằm thoải mái. Cố liên kết những hình ảnh rời rạc và cố gở rối mớ ý tưởng nhập nhằng. Tôi bực dọc với nhiều việc ngày mai nên làm, nhưng, có thể rồi thấy chả việc nào đáng làm. Tôi ước, giá mà nằm mơ được một thoáng. Hình như lâu quá rồi tôi không được nằm mơ. Tôi biết phép lạ chỉ xảy ra trong giấc mơ. Tôi muốn mơ thấy hai đứa con tôi, hai đứa bé “bé như hai que kẹo” bình phục, khoẻ mạnh, an lành như tất cả mọi thiếu nữ bình thường khác trên đời. Rồi chúng có gia đình, con cái. Con cái chúng lại lớn lên trên đồi ngô, nương sắn, những mảnh ruộng bậc thang, những rừng hoa chó đẻ. Những trưa ấm áp như trưa mùa xuân này chúng ra suối đùa nước với đàn cá diếc, cá dày dày… Và các con tôi, cùng con cái chúng, không phải nhập vào hàng ngủ đám dân oan, lếch thếch khắp nơi, khiếu kiện đòi đất sống.

Rồi thì củng ngủ được! Nhưng trong giấc mơ tôi lại xuất hiện một ông già no rượu. Ông già cứ loay hoay với mớ bản thảo quyển tiểu thuyết phần chắc không chút cơ may được ra đời.


đầu năm 2013

______________________________________________________________
n g u y ê n n h i



* ảnh Đỗ Danh Đôn


Image


11720
...

11721



Image


V a l e n t i n e
______________________________________________________________




Ngày mưa, cậu bé không chạy chơi ngoài sân được, đành ngồi nhìn mẹ đang cắt những mảnh giấy hồng thành những quả tim nho nhỏ. Cậu bé hỏi:
-Tim để làm gì hở mẹ?
Mẹ trả lời:
-Để yêu con.
Cậu bé nhoẻn cười:
-Tim mẹ đẹp quá, cho con một tim nhé?
Mẹ nhìn âu yếm:
-Mẹ cho con hết cả tim.
Cậu bé chọn hai quả tim xinh nhất:
-Con chỉ lấy hai tim, một cho con, một cho bạn gái.
Mẹ cười:
-Thế không có tim nào cho mẹ à?
Cậu bé ngẩn ra:
-Con cho mẹ một tim, mẹ cũng là con gái.
Mẹ ôm cậu bé vào lòng:
-Con ngoan của mẹ!
Cậu bé làm nũng:
-Mẹ kể con nghe sự tích quả tim đi!
Mẹ ngẩn ra:
-Mẹ không biết sự tích Valentine, chỉ biết có câu chuyện tình yêu đẹp hơn cả Tình Yêu.

“Trên một bãi cát sa mạc bỏng cháy, có một giống chim chuyên làm tổ trong những bụi gai, thời tiết khe khắt đang mùa hạn, không ở đâu tìm ra một giọt nước. Trong một bụi gai, một bầy chim con đang khát nước thoi thóp, đang đợi mẹ chúng mang thức ăn về. Mẹ nó thất thểu bay về tổ, vẫn không thể tìm ra thức gì để uống, lấy gì cho chim con ăn? Chim mẹ chợt kêu lên một tiếng thê thiết, mắt long lanh nhìn trờI, rồi tự mổ vào ngực mình cho bật máu. Những giọt máu rỉ từ ngực chim mẹ, đàn con túm lại uống cạn, vừa kịp cứu con chết khát. Chim mẹ gục xuống, kêu lên một tiếng nhỏ, tiếng kêu thống khoái đầy hạnh phúc. Chim mẹ chết.
Từ đó sa mạc mọc lên một giống hoa, hoa xương rồng màu đỏ, mà người ta vẫn bẻ cành vắt nước uống khi lạc trong sa mạc để khỏi chết khát.”

Cậu bé đăm chiêu:
-Hoa sa mạc đẹp hơn hoa hồng, mẹ nhỉ?



______________________________________________________________
p h ạ m c h i l a n

Image


11836



Image


c h ị .É N
______________________________________________________________




Tôi không thể tìm ra chị Én trong rừng người lố nhố ở phòng đợi phi trường nếu không thấy tấm bìa cứng viết nguệch ngoạc tên tôi. Và không thể nhận ra chị nếu không nhờ bức ảnh con gái chị gởi tôi từ tháng trước. Ôi, thời gian!

Tôi ôm chị. Chỉ là thói quen nơi tôi sống. Chị Én áp mặt vào ngực tôi. Tôi cảm thấy ngực áo mình ươn uớt.
“Bao lâu rồi, cậu?” Chị Én chớp chớp mắt.
“Mình không nhớ!” Tôi buột miệng, dù không hiểu chị Én muốn bắt đầu từ thời điểm nào.
“Cả nhà bận, không ai đi đón cậu được.”
“Mình biết.”

Chuyến xe xóc. Phải hơn bảy mươi cây số mới về đến nhà tôi, căn nhà nhiều khi làm tôi bàng hoàng tỉnh mơ nửa đêm xứ lạ. Chị Én không nói nhiều, thỉnh thoảng quay sang nhìn tôi. Nhìn đăm đăm. Không biết chị thấy gì, nghĩ gì, bởi từ rất lâu tôi chán nhìn tôi trong gương. Tôi cũng thoáng nhìn chị và hoang mang, không hình dung ra được cô bé của thời tôi trẻ dại.

Cô bé nhỏ hơn tôi dăm tuổi. Là chị em bạn dì. Cô hay ngồi mơ màng dưới tàn lá cây sữa độc nhất trong khuôn viên chung cư. Chiếc ghế xích đu như bất động, chỉ khẽ đưa kẽo kẹt khi tôi làm như vô tình đi ngang, tìm mãi chẳng ra một câu gợi chuyện. Cô bé hay vuốt vuốt mái tóc ngắn cũn cỡn mà mẹ cô bé, dì tôi, thường bảo vuốt mãi không khéo rồi có ngày trọc đấy con ạ. Một hôm cô bé nhờ tôi cài chiếc nơ nhỏ tím lên bím tóc sau gáy. Từ hôm đó, tôi hiểu nghĩa thế nào là lóng cóng.

Dì tôi, người chị họ xa, đời xửa xưa lắm nào đó, của mẹ tôi, xem tôi như con ruột. Tôi trú nhà dì để theo học trường tỉnh. Trường chị Én gần nhà, tản bộ chừng dăm phút, nhưng chị thường đi học sớm hơn tôi. Lại có một hôm chị nhờ tôi gài chiếc nút áo lưng, đồng phục trường chị. Nhiều ngày, sau hôm ấy, tôi ngẩn ngơ, ngồi trong lớp mà hồn ở tận đâu đâu.

“Cậu ở lại qua Tết chứ?
“Không!”
“Tết, có nhiều dịp…” Chị Én ngập ngừng. Có lẽ chị chợt nhớ không phải tôi về vì lễ lạc đầu năm.
“Không sao, mình cũng đã lỡ rất nhiều dịp trong đời…” Tôi chợt ân hận. Tôi vẫn thường ân hận sau mỗi lần mình nói hơi nhiều.

0O0

Đám tang mẹ tôi đơn giản hơn tôi tưởng. Có lẽ ba tôi chỉ chờ tôi về kịp để đóng nắp quan tài. Mẹ tôi nằm bên cạnh những người thân trong nghĩa trang gia đình, cách nhà tôi một vuông đất. Khoảnh vườn thoáng, cây trái thấp, ba tôi có thể ngồi sân sau nhấp rượu khan, ngó mênh mông về phía ngôi mộ còn uớt đất. Tôi không chắc ông ân hận vì đã có nhiều lần bỏ rơi mẹ tôi, cho đến lúc ông bị hoàn cảnh dồn đến cùng đường. Tôi nghe từ rất lâu rồi ông không còn thói quen uống rượu. Tôi thích rượu. Nhưng không thích ngồi cạnh ông.

Các em tôi và vợ chồng con cái chúng đã lục tục trở về với gia đình và công việc riêng của chúng. Căn nhà ảm đạm thêm với chiếc bàn thờ thoang thoảng mùi hương trầm. Chị Én lúi húi thu dọn vật dụng thường ngày của mẹ tôi. Dì dượng tôi mất, rồi chồng mất, chị và con gái dọn về ở gần nhà ba mẹ tôi. Nhà chị cuối con lộ đất, khuất sau mấy vạt chuối um tùm. Ngày ngày chị vẫn thường sang thăm ba mẹ tôi, phụ vặt với người giúp việc. Mẹ tôi ốm đau luôn, không đảm đương được việc nhà. Ba tôi khoẻ hơn, nhưng ông không thích giặt giũ nấu nướng. Buổi sáng ông thức sớm, vận động theo bài tập thể dục trên truyền hình, rồi đi ăn sáng ngoài chợ xã. Nghe nói ông cũng dành thời gian để tâm sự loăng quăng với một mụ nạ dòng chủ quán cà phê ngoài đó. Buổi chiều thì ông lại bận rộn với những chậu hoa kiểng.

Mẹ tôi đi hồn nhiên. Chị Én kể, chiều, chị sang thăm, nhìn mưa, mẹ tôi còn hỏi không biết lúc bà đi tôi có về kịp. Sáng sau, người giúp việc đánh thức mới hay bà đã đi trong đêm. Cuối cùng thì tôi cũng về kịp. Kịp đóng cho mẹ một cây đinh trên nắp quan tài.

0O0

Chị Én gọi. Tôi mang rượu sang nhà chị. Tôi nghiện rượu. Và không hiểu sao tôi thường có cảm giác bất an khi chỉ có một người phụ nữ bên cạnh. Dù người phụ nữ ấy là chị Én. Nên tôi thích, và cần rượu. Mái tóc chị phơn phớt bạc. Tôi bật cười khan, nhớ dì tôi, vuốt mãi có ngày trọc đấy con ạ. Hai chai rượu mua ở cửa hàng miễn thuế ở phi trường bên kia, tôi đã uống gần hết trên suốt chuyến bay dài.

Chị Én có vẻ bình thản, tự tin trong căn nhà của chị. Căn nhà trống trải, tôi không biết thiếu những vật dụng gì. Có lẽ bởi thiếu nhiều thứ quá.
“Mình thấy cậu không có gì thay đổi. Vẫn như hồi ấy!”
“Không!” Tôi buột miệng, dù không rõ chị Én nhắc hồi ấy là hồi nào, và cũng không biết điều không thay đổi ấy là điều chi.
“Mình muốn nói cám ơn những điều cậu đã làm cho gia đình mình.”
“Không!” Tôi lại buột miệng, dù biết rõ chị Én muốn nhắc tới những món quà nho nhỏ tôi gửi cho chị, qua ba mẹ tôi.
“Mình muốn qua bên đó! Với cậu!”
“Hả?” Hai tai tôi tê điếng. Tôi hoang mang cùng cực.
“Mình nghĩ có nhiều cách để mình sang được bên đó với cậu.”
“Này Én, Én có hiểu Én đang nói gì không?” Tôi hét lên. Tôi kinh hãi.

Gió chiều xoay lật những tàu lá chuối sau hè, lay động mấy tấm tranh dân gian ngày Tết treo trên vách tre. Trên chiếc bàn gỗ tạp giữa nhà, cành mai nhựa trơ trơ, vô cảm. Vài con chuồn chuồn trâu bay chấp chới trên mấy chum nước mưa ngoài hiên. Vườn sau, con bé con chị đang giặt giữ dưới cầu ao. Thỉnh thoảng con bé ngưng tay, vuốt lại mái tóc, hệt như mẹ nó bốn mươi năm về trước.

“Có! Mình hiểu mình đang muốn gì. Mình muốn qua bên đó! Sống với cậu!”
“Không!” Bàn tay trái tôi run lật bật. Từ lâu, tôi có triệu chứng bệnh liệt rung. Thỉnh thoảng tôi đánh rơi đồ vật cầm trên tay. Rượu làm trầm trọng thêm chứng này. Nhưng tôi không bỏ được rượu. Tôi nghiện. Có nhiều thứ đánh rơi, tôi nhặt lại được. Có thứ không. Không, không bao giờ tôi tìm lại được chị đâu..., cô Én!

“Mình còn giữ lá thư của cậu. Hơn bốn mươi năm rồi đó! Bây giờ cậu có muốn đọc lại không?”
“Không, Én!” Tôi nói. Như khóc.
“Cậu có muốn giữ lại nó không?”
“Không! Không, không, Én ơi!”. Tôi nói. Như rên.

0O0

Đó cũng là một buổi chiều cuối năm. Dì tôi đang bận rộn với sạp hàng Tết, còn dượng tôi đang trầm tư bên bàn cờ tướng với những người cùng sở. Én vần hay ngồi trên chiếc ghế xích đu dưới gốc sữa, vuốt từng lọn tóc. Không xa, chiếc cầu quay tấp nập xe tải xe thồ và người gồng gánh. Bên dưới, ghe thuyền đầy ắp trái cây và những giỏ hoa.

“Én, mình có chuyện muốn nói...”
“Gì, cậu?”
“Vào nhà đã!”
“Quan trọng lắm hả?’
Én kéo ghế ngồi cạnh tôi.
“Mình đi lính!”
“Cậu nói gì?”
“Mình đăng lính rồi! Mai sớm mình đi!”
Chị Én cười. Cô bé có giọng cười to giễu cợt mỗi khi tôi bông đùa. Nhưng nụ cười ấy tắt ngấm khi cô bé nhìn thấy quần áo vật dụng của tôi đã xếp gọn trên bàn.
“Nhưng... tại sao? Cậu đang học đều, học giỏi, đang được tiếp tục hoãn dịch..., tại sao? Có thể cậu sẽ đi, nhưng tại sao là lúc này, là sáng mai?” Chị Én cau mày. Tôi nhìn lâu nốt ruồi ở đuôi mắt cô bé.
“Không biết! Chỉ biết là mình cần thay đổi!”
“Nhưng sự thay đổi này rồi đưa cậu tới đâu?”
“Không biết! Mình bơ vơ! Mình ngán ngẫm tin chiến sự buổi sáng và tiếng đạn pháo dội vào thành phố giữa khuya. Mình bơ vơ.”
“Thì thôi, ý cậu đã muốn vậy.”
“Mình gửi Én... cái này! Không, thư này. Phải hứa là mai mới đọc! Khi mình đã đi rồi.”

Năm sau, Én bỏ học, bỏ nhà. Én chạy theo mối tình vụng trộm với một gã đàn ông bề bộn vợ con. Dì dượng tôi từ Én. Và cuối cùng gã đàn ông kia cũng ruồng rẫy Én. Nhiều khi, nằm co trong những công sự, tiền đồn giữa rừng già hiu quạnh, tôi cố tự an ủi mình rằng Én, cũng chỉ như tôi, cố chạy trốn nỗi niềm bơ vơ của một lớp trẻ mất phương hướng trong một thời buổi dị thường. Có dỗ lòng cũng chẳng bớt đau. Đau lắm! Tôi bặt tin Én rất nhiều năm sau đó.
Nhiều người phụ nữ đã đi qua đời tôi. Nói rõ hơn, nhiều người đã bỏ rơi tôi. Én là người đầu tiên. Và dăm người đàn ông đã đi qua đời Én. Nói rõ hơn, nhiều người đàn ông đã gạ gẫm Én. Có lẽ tôi là đứa con trai đầu tiên tỏ tình. Và có lẽ tôi là đứa duy nhất thất bại. Rất lâu, sau này, tôi nghĩ, vậy mà hay!
Dù gì, Én đã phụ tôi!

0O0

“Cậu sẽ lại về nữa chứ?”
“Không, Én!”
“Cậu bận lắm à?”
“Không, Én!”
“Thế, tại sao?”
“Không tại sao cả!”
“Thế không có điều gì ngày xưa để cậu nhớ sao?”

Tôi không biết nói thế nào để chị Én hiểu, rằng điều phiền muộn của tôi là ngày ấy có quá nhiều điều để hôm nay tôi nhớ lại. Trong khi tôi chỉ muốn quên đi. Tôi cảm thấy ghét Én. Tôi già rồi. Tôi quên nhiều người, nhiều chuyện. Những chuyện mới hôm qua, tuần trước. Nhưng lại nhớ chuyện cách mấy mươi năm. Tôi ghét Én. Én không thể hiểu rằng tôi về vì tôi nghĩ rằng tôi đã quên mọi chuyện. Nhớ, không chắc tôi về.

“Cậu giữ thư lại nhé”
“Không!” Tôi ghét Én.
“Mình cùng đọc lại nhé!’
“Không!” Tôi ghét Én.
“Mai mình đưa cậu lên phi trường nghe!’
“Không!” Tôi ghét Én.

0O0

Rồi thì tôi cũng chìu ý ba tôi một lần cuối, để chị Én đưa lên phi trưòng. Ba tôi nghĩ rằng tôi không ý thức được rõ ràng những bất an trong xã hội mà ông đang sống, dù là những việc lặt vặt xảy ra trên một chặng đường. Trong suy nghĩ của ba tôi, tôi vẫn là một đứa con nít như thuở xửa xưa nào, ông trói tôi giữa sân cờ trại lính đơn vị ông rồi đánh tôi một trận đòn thừa sống thiếu chết. Trong suy nghĩ Én, chắc tôi còn là đứa học trò ngu ngơ ngồi khảy đàn, hát nghêu ngao, lén nhìn Én đong đưa trên chiếc ghế xích đu dưới tàn cây sữa. Tôi thấy lại tàn lá nâu và những quả sữa xanh tím lắc lay trong ngọn gió Tết. Tôi không phiền ba tôi. Tôi không trách Én. Nhưng tôi ghét. Hình như chả ai để ý rằng tôi đã lăn cũng gần hết dốc đời tôi. Hừ, chả ai biết rằng tôi đã đi qua hết nhiều nghịch cảnh bi khốc đời người. Không ai thấy rằng tóc tôi đã bạc?

Hai bên đường, những đống dưa, quả, hoa chờ xe mang ra chợ Tết. Con kênh xưa nước lũ tràn bờ giờ chỉ là một con lạch hẹp té, chỉ vừa chỗ cho hai chiếc xuồng con tránh nhau. Từ lâu, tôi ghẻ lạnh với Tết. Tôi nhớ những cái Tết túng thiếu nhọc nhằn, nằm co mình nghe ngọn gió chướng xoay lật mấy tàu lá chuối sau hè. Hừ, tôi lại nhớ nhiều quá. Biết trước là nhớ nhiều vậy, không chắc tôi về.
Tôi hửng hờ cảnh sum họp. Tôi lạnh lùng chuyện tiễn đưa. Hãy nói là tôi bạc lòng. Tôi ghét Én.

“Mình muốn thay đổi đời sống. Mình muốn sang đó với cậu. Có cách...” Chuyến xe xóc, Én ngã mái tóc hăng hăng mùi nước hoa rẻ tiền vào vai tôi.
“Không!” Tôi thả mắt bâng quơ qua dãy bạch đàn. Xa xa, một cánh cò đơn độc. Tôi ghét sự lập lại! Tôi ghét mùi nước hoa! Nhất là nước hoa rẻ tiền. Tôi ghét Én.
“Cậu sẽ sống mãi vậy sao?”
“Không biết!”
“Cậu sẽ không về lại thật à?”
“Không!’ Tôi ghét Én.
“Cậu sẽ nhớ mãi những ngày ấy chứ?”

Tôi im lặng. Đã nói, tôi già rồi! Đã nói, tôi quên nhiều người nhiều chuyện lắm mà! Rượu làm trầm trọng hơn chứng này. Biết vậy, nhưng chịu. Tôi nghiện. Nhiều khi tôi đi tìm một vật, một điều gì đó, đến nơi, loay hoay, ngẩn ngơ, không biết định tìm gì. Nhớ mãi không ra, đành thôi. Đãng trí hay não suy hay gì gì đó, đó là chuyện của nghề thuốc, tôi không cần biết. Riêng tôi, tôi bằng lòng và cám ơn Thượng đế đã phú cho con người sự lãng quên. Chả lẽ tôi bảo Én rằng mấy ngày qua tôi đã nhớ lại nhiều quá và điều đó làm tôi khó chịu? Một thời gian dài, tôi quên hết mọi chuyện. Nếu nhớ, không chắc tôi về! Tôi cũng muốn nói với Én rằng cái bi kịch của một con người là hắn còn có thể nhớ. Nhưng nói ra tôi không chắc Én hiểu tôi. Và nói xong, tôi biết tôi sẽ ân hận. Có rất nhiều lần trong đời, rượu vào, tôi nói hơi nhiều, hay tâm sự vụn. Và sau đó, lần nào tôi cũng bực bội với chính mình.

0O0

Tôi ôm chị Én. Chỉ là thói quen của người bên ấy. Tôi lại có cảm giác ngực áo tôi ấm và uớt.

“Bình an nhé!” Chị Én sụt sùi.
Tôi quay mặt đi, kéo vội hành lý qua cửa phòng cách ly, không thể nói với chị rằng không. Hừm, không thể có sự bình an! Chừng nào tôi còn nhớ lại.
Ghé cửa hàng miễn thuế, tôi mua hai chai. Tôi nghiện rượu mà người ta sẽ không chịu nạp rượu liên tục cho khách trên một chuyến bay dài. Người ta không biết rằng tuy khi say tôi nói hơi nhiều nhưng, nói chung, ngoan.
“Về, vui chứ" Người hành khách bên cạnh tôi gợi chuyện.
“À há!’
“Sao không ở lại chơi Tết? Bận việc hả?”
“Ừ!” Tôi làm như rất chăm chú rót rượu vào ly nước cam người tiếp viên mang lại lúc nãy, sợ rượu tràn.
“Tôi cũng bận quá, về sớm. Thôi chuyến sau vậy! Tết sau về chứ?” Người đàn ông che miệng ngáp.
“Không. Chừng nào tôi còn nhớ...” Suýt nữa thì tôi sẽ lại ân hận vì nói nhiều. Có lẽ giờ này chị Én đã về tới nhà. Tôi ghét Én!
“Hả? Anh vừa nói gì?”
“Không!” Tôi nhấp một hớp nhỏ. Rượu trôi trong người thường mang lại cho tôi sự thanh thản. Tôi nghiện. Nhưng không bao giờ tôi có ý nghĩ đi cai rượu và không bao giờ tôi che dấu mọi người tật nghiện ngập của mình. Chả sao, về điều này, có nhiều phụ nữ đức hạnh khả kính đã tỏ ra xấu hổ dùm tôi rồi!
“Tôi về lo gấp giấy tờ cho cô bồ qua đoàn tụ. Chắc là nhanh thôi. Trọng tuổi rồi, sống xa xứ một mình buồn quá!” Người đàn ông lại ngáp.

Trời ơi, chuyến bay đông cứng người thế này, làm sao tôi có thể xin chuyển sang một ghế khác?


11/2011

______________________________________________________________
n g u y ê n n h i


Image


11837



Image


n h ữ n g..g i ấ c..m ơ
........t r o n g..b ệ n h..v i ệ n
______________________________________________________________







Tôi không nhớ mình mê man được bao lâu, chỉ nghe văng vẳng bên tai "Ms. Pham, you’re awake… Operation is done!" Rất nhiều người chung quanh đang bận rộn tíu tít với tôi và với đám máy móc dụng cụ và các procedures trong phòng hồi sinh… Tôi chỉ cảm thấy một vùng lạnh mênh mông, đau buốt ở lưng, tôi đang ở đâu đây… Rồi tôi nhìn thấy khuôn mặt chồng tôi cúi xuống, anh vuốt má tôi, cười mà như mếu. Tôi mỉm cười thấy lòng thật bình yên vì có người thân yêu bên cạnh.

Rồi người ta đem tôi ra phòng ICU, Nhi chỉ ở cạnh tôi được một lúc rồi y tá đuổi về bảo hết giờ thăm bệnh. Thấy mắt anh rơm rớm, không đành quay lưng đi, tôi giơ tay vẫy vẫy, thì thào "về nghỉ đi anh…" Lúc bấy giờ hình như là khoảng 10g tối thứ Hai. Tôi còn sống, ôi lạy Chúa, tôi vẫn còn hiện diện trên đời đây ư? Tôi thở bằng ống dưỡng khí, và quanh người tôi không biết bao nhiêu ống, dây điện… chi chít cột chặt tôi vào giường. Tôi đưa tay lần đếm: ngực và bụng tôi quấn băng kín mít, có 3 ống test tubes từ trong ngực và bụng chảy ra 3 cái fluid collectors ở cạnh giường, foley catheter, tay mặt thì có máy đo áp suất cứ 30 phút lại tự động bóp chặt, máy bóp hai chân cột vào cuối giường để khỏi đọng máu cũng vậy, chốc chốc lại co thắt rồi xì hơi… Còn cái gì đầy trên ngực thế này? Một lô dây nhợ dính vào một cái máy nhỏ đặt trên ngực, nối vào monitor đo nhịp tim, oxygen…, thỉnh thoảng nó kêu tít tít, y tá lại chạy vào bấm bấm cái nút gì đó rồi nhìn phớt qua tôi. Tôi nằm cứng đơ như một cái xác còn thở, còn nhận biết chung quanh. À thì ra người ta vừa cứu sống tôi qua một giải phẫu.

Tôi vừa trải qua một cuộc giải phẫu cấp tốc để tôi còn thở và còn sống thế này. Tôi nhớ bác sĩ có giải thích sẽ làm gì làm gì và yêu cầu tôi ký tên vào cái consent form. Tôi cố gắng run rẩy ký tên mình trên cái lằn ngang ở tờ giấy, rồi gật đầu phó thác mạng mình trong tay bác sĩ. Làm gì tôi cũng được, làm sao cho tôi thở được thì làm, đâm đục chích chỗ nào cũng được, tôi không sợ đau đâu, tôi chỉ sợ mình ngất đi và tôi sẽ đi luôn vì không thể thở được, tôi sẽ phải giã từ đời sống tuyệt đẹp này. Phổi và tim tôi ngập đầy nước, người ta bảo thế. Sáng nay, nếu tôi không vào emergency kịp thời, chắc bây giờ tôi chỉ còn là cái xác lạnh ngắt!

Ôi trời, không thể diễn tả hạnh phúc, sung sướng khi nhìn thấy cánh cửa sổ căn phòng bệnh viện ngập đầy ánh nắng bình minh sáng hôm ấy. Hình như đó là một ngày thật ấm và có nắng đẹp, sau vài ngày có mưa đá rất lạnh của đầu mùa đông Dallas. Dù tôi vẫn còn nằm cứng đơ trên giường bệnh với bao nhiêu giây nhợ chằng chịt, nhưng nhìn thấy khoảng nắng trong lành ngoài kia, tôi bỗng thấy yêu đời sống vô cùng. Ngoài kia, một ngày mới đang lên, những nhánh cây khô mùa đông oằn mình chịu đựng cơn lạnh của đêm qua, khô xám và hứng đầy ánh nắng long lanh, con đường buổi sớm có tiếng xe cộ qua lại, có tiếng còi xe, tiếng phanh xe, tiếng một xe cứu thương hay cảnh sát công lộ đang rộ hồi còi inh ỏi từ xa vọng lại… Những tiếng động đáng yêu ngoài kia là của một đời sống bình thường, đối ngược với khung cảnh chìm đọng, gò bó trong căn phòng bệnh viện này. Đối với tôi, những tiếng động sinh hoạt đời sống bên ngoài giờ mới thấy gần gũi thân thương làm sao. Tôi muốn ứa nước mắt. Tôi thèm vô cùng được sống trong thế giới ngoài đó, tôi ao ước được lái xe đi chợ, đi nhà thờ, đi tới nhà bạn bè… tôi muốn đánh đổi tất cả để có được một phút đi lang thang dạo bộ dưới con đường tản bộ ngoài kia, với những đám lá vàng tả tơi cuối mùa thu chín. Còn nhớ hôm nào đi lang thang ngoài phố với chồng và dự định cho những chuyến viễn du. Một nơi nào đó, có nắng ấm, có đời sống hiền hòa, có những quán cà-phê lộ thiên ngồi nhìn thiên hạ thong dong qua lại chẳng hạn. Đời sống ơi, sao mi vừa gần gũi vừa xa cách thế này...

*

Dù đã ra khỏi ICU và được về phòng riêng, tôi vẫn trải qua từng cơn tỉnh rồi mê, thiếp đi rồi tỉnh lại khi có ai lay nhẹ, có thể vì side effect của morphine trị đau đớn làm tôi không ý thức được chung quanh. Hôm nay là ngày thứ ba trong bệnh viện, chồng tôi gần như lúc nào cũng bên cạnh, tội nghiệp anh, hai mắt anh đỏ kè, sâu hoắm vì mệt mỏi và thiếu ngủ, thiếu ăn… anh trông như người mang bệnh, chứ không phải là tôi. Nhi nói tối nay sẽ mang mền gối vào ngủ ở bệnh viện cạnh tôi. "Anh có chỗ nằm rồi, đây này, cái ghế này ngả ra sẽ thành một cái giường thoải mái. Được nằm ngủ cùng phòng cạnh em cả đêm còn gì bằng. Anh không thể chợp mắt một giây khi về nhà một mình, căn nhà trống trơn, lạnh lẽo không có em… Nhìn chỗ nào anh cũng thấy bóng dáng em… Anh sẽ mang sách và thơ vào đọc cho em nghe, tối nay anh sẽ đọc thơ tình cho em ngủ…" Tôi thấy mình hạnh phúc vô cùng. Nhi ơi, anh là người yêu dấu nhất đời, có ai đọc thơ cho em nghe hay hơn anh đọc đâu…

Và đúng như dự tính, 10 giờ tối thứ Tư, Nhi ngồi cạnh tôi, với cuốn thơ "Quái Phong" của anh trong tay. Anh lần giở đọc những bài thơ tình cho “hải đăng”, những bài thơ lúc nào cũng làm tim tôi như nghẹn lại vì cảm động, thơ đầy ắp kỷ niệm, chúng tràn về làm tim tôi nghèn nghẹn. Chúng tôi như đang đi lại trên những con đường hạnh phúc ngày nào… Giọng anh ấm và êm, anh đọc sang sảng như nhập vào lời thơ. Nước mắt tôi ứa ra, "đọc nữa đi anh, cái bài thơ nào có nhắc đến kỳ mình ghé đỉnh hải đăng ở Point Reye miền bắc California, rồi kỳ mình đáp xe lửa từ Cerebes đi Barcelona đó…" Chồng tôi chọn đọc bài "Ta cũng có một Giáng Sinh như ai…". Tôi chợt nhớ chỉ còn vài hôm nữa là Noel, liệu tôi có một Giáng Sinh năm nay… như ai không? Lại cảm thấy bồi hồi. Nếu Chúa cho tôi một điều ước bây giờ, tôi sẽ xin được về nhà ăn Giáng Sinh với gia đình, rồi tôi có từ giã cõi đời cũng vui lòng. Một mơ ước nhỏ nhoi, chắc Chúa không nỡ từ chối? Tiếng chồng tôi đọc tiếp những bài thơ anh chọn, những bài thơ mà anh đã dành riêng cho cuộc tình của chúng tôi, bắt đầu cách nay 11 năm. Tôi có thể chết một cách hạnh phúc trong tiếng đọc thơ của anh thế này… Anh lại đọc tiếp, đọc mê mải một bài thơ đắc ý khác mà anh đã vắt tim ra, từng lời từng chữ cô đọng, và hẳn nhiên vô cùng ý nghĩa với liên hệ vợ chồng tôi.

Một lúc, anh quay nhìn tôi, mắt đỏ và ướt, nói rất nhiều thay lời. Tôi mỉm cười, nói khẽ: "Cám ơn anh. Những bài thơ làm em tỉnh rồi nè…" Nhi cầm tay tôi rồi anh bật khóc, "em phải tranh đấu cho em và cho anh nữa, nghe em…" Tôi nhắm mắt, gật đầu. Em đang tranh đấu cho sự sống vô cùng quí giá và rất đẹp, của chúng mình. "Em sẽ cố gắng vượt qua kỳ này, em xin Chúa cho em sống bên anh thêm một thời gian hạnh phúc nữa, bao lâu cũng được… anh chịu không?" "Lâu hơn nữa, em cứ tin như vậy đi…" Đời sống ơi, hạnh phúc ơi, tất qua như đang đi qua trước mặt tôi, tôi cố đưa tay bắt lấy, níu lấy… Có lúc, lòng tôi êm dịu, bình an và thanh thản lạ thường. Tôi nhớ lại từng hồi ức, đời tôi nhiều hạnh phúc quá đấy chứ. Tôi có ra đi về với Chúa bây giờ cũng đủ mãn nguyện. Và tôi đã sẵn sàng, Chúa ơi đem con về nơi ấy đi, nơi ấy chắc hẳn vô cùng bình yên và hạnh phúc. Rồi lòng tôi nghẹn lại, còn Nhi, chồng con, anh ấy sẽ sống thế nào khi con không còn bên cạnh? Chỉ nghĩ đến anh, lòng tôi quặn thắt. Số mệnh không cho em ở bên anh lâu hơn cho đến đầu bạc răng long, biết làm sao được…

Tôi nhớ đến thư một người bạn, có khi Chúa đóng cánh cửa chính khi ta đi tìm hạnh phúc và tìm đến người, nhưng đồng thời Chúa lại mở ra những cánh cửa sổ nho nhỏ…, tạo cho ta nhiều cơ hội thử thách hơn để đến với người. Trong tay tôi đang có rất nhiều cơ hội để tìm đến bên người, lẽ nào tôi không tận dùng. Tôi vẫn muốn chinh phục thử thách. Tôi lại ứa nước mắt, cuộc đời 47 năm đã đủ, tôi đã may mắn gặp người chồng yêu thương tôi chân thành, đó là ân tứ Chúa đã ban cho tôi. Nếu không có chồng tôi trong thời gian đau bệnh vừa rồi, ai chia sẻ đau đớn, khó khăn với tôi? Tạ ơn Chúa, đó chính là cánh cửa nhỏ Chúa mở ra cho tôi đó. Và còn nhiều xoa dịu khác mà Chúa đầy lòng thương xót đã trao cho tôi: Công việc làm dễ dàng, đồng nghiệp tốt bụng, bạn bè thương mến, gia đình an ủi, và nhiều điều thuận tiện khác đã đến với tôi trong 2 năm tôi mang căn bệnh này. Chúa đóng cánh cửa chính, vâng, cuộc đời tôi gặp nhiều biến cố và biến cố, căn bệnh quan trọng này là thử thách sau cùng. Đời sống thật mong manh, tôi biết rõ đời sống tôi sẽ thu ngắn lại và không có tương lai dài, tôi sẽ không có cơ hội đi hết con đường cuộc đời cho đến ngày thành một bà cụ già tóc bạc, sẽ không đến ngày hưu trí, về hưu thong dong đi du lịch đó đây, thăm viếng những nơi xa lạ như tôi hằng mơ ước, sẽ không có dịp về VN thăm những trung tâm xã hội giúp đỡ người tàn tật, kém may mắn như tôi dự định và hứa với lòng, và còn nhiều dự định lâu dài mà tôi đã có lúc phác thảo… Tất cả những ý định tương lai đó giờ không còn quan trọng đối với tôi nữa. Quan trọng là chính giờ phút này, khi tôi đang nằm đây trong căn phòng bệnh viện và biết là tôi vừa thoát một cái chết, vừa trải qua một cơn thử thách. Tôi chấp nhận thực tại, chấp nhận những ngày giờ còn lại vô cùng quí đẹp mà tôi đang có. Tôi thấy lòng bình an…


Giấc mơ thứ nhất

Đêm thứ tư ở nhà thương, Nhi mang gối, mền, và một cuốn sách to tướng, tuyển tập Võ Phiến, để đọc cho tôi nghe. Lúc ấy khoảng 10g hơn, cô ý tá người da đen gốc Phi châu tò mò hỏi thì chồng tôi trả lời, để đọc cho vợ tôi nghe, vợ tôi rất thích đọc sách. "Đọc sách cho bà ấy nghe, ôi chao, tuyệt quá. Ông bà cứ tự nhiên thoải mái nhé, cần gì cứ gọi tôi."

Nhi giở tập sách dầy cộm, "để xem anh sẽ đọc bài gì cho em nghe đây. Tùy bút của Võ Phiến duyên dáng, thú vị. A, bài này hay nè, "gắn, gùa, và gụ". Bài nào cũng được, tùy anh chọn. Giọng Nhi ấm và êm, tôi lim dim lắng nghe, cái đau như không còn cảm giác… Bài viết mở đầu với cảm xúc của một người khách tình cờ đi lang thang đến một vùng chợ quê miền Trung (?). Khung cảnh chợ quê đơn sơ, vài cái quán lá liêu xiêu, bà cụ yếm thắm, cô hàng bán quán vô tư, vài đứa trẻ chạy chơi tồng ngồng, hàng của họ là những bó rau, hạt nếp, quán bún, gánh chè. Hình ảnh nên thơ và bình an quá. Khác với khung cảnh chợ búa ngày nay ở VN, xô bồ, chụp giật, chen lấn, la ó… Người khách trong bài viết gặp một cậu bé đến chào hàng, "mua gắn, gùa gì không chú." Giọng người miền Nam, a đây là giọng miền Nam mà tôi cũng đã từng được nghe. Tiếng rắn phát âm thành "gắn", rùa thành "gùa"… Cậu bé lại gạ gẫm thêm, "Mua ‘gắn’, ‘gùa’ về nhậu, thì phải kiếm thêm ‘gụ’ nữa." "Muốn gắn có gắn, gùa có gùa, gụ có gụ…" Dường như bài viết như thế, trong mơ màng, tôi chỉ có thể thu thập được bấy nhiêu ý chính. Tùy bút vui thật, dễ thương, trong sáng, nhí nhảnh, hồn nhiên làm lòng tôi ấm lại. Và cái hình ảnh quán chợ miền quê ấy bỗng theo tôi vào giấc mơ hiếm hoi trong đêm nằm bệnh viện. Đã mấy tuần qua, tôi có ngủ được đâu, nói gì đến một giấc mơ đẹp.

Giấc mơ diễn ra như thế này. Nhi và tôi rủ nhau đi gởi tiền về Việt Nam cho gia đình anh. Chúng tôi đến một khu chợ Mễ cạnh biên giới (lạ chưa?), khung cảnh êm đềm, bình yên, trong cái nắng chiều vàng ấm áp. Những quán xá thưa thớt, vài kiosk bán hàng lưu niệm đủ màu sắc, vài xe bán hàng rong, bà cụ già nhăn nheo ngồi buồn đuổi ruồi vo ve trên những chiếc bánh chiên xốp. Nhi ghé vào một gian hàng, anh đòi gởi 95 pesos về VN cho thân nhân. Tôi ngạc nhiên hỏi "sao anh gởi số lẻ vậy? Rồi bên đó làm sao hoán đổi ra tiền VN để đưa lại cho người nhà?" Anh nói "Tại ở đây họ làm việc như vậy, bên VN sẽ nhận được tiền chẵn." Tôi không nói gì thêm, và cũng không buồn thắc mắc trị giá 95 pesos Mễ trong giấc mơ là bao nhiêu nếu hoán đổi ra tiền VN. Cảm giác lúc ấy thật êm đềm, lòng thanh thản lạ lùng. Bỗng thấy bên tường một giàn hoa vàng, hoa gì tôi không biết tên, chỉ biết là đẹp lắm, đẹp não nùng, đẹp lạ lùng… Tôi rủ chồng chụp một bức ảnh bên giàn hoa rồi gởi về cho gia đình bên ấy xem. Một người Mễ cầm máy ảnh chụp hình dạo đến bên, tôi cười thật tươi đứng bên cạnh chồng, trước giàn hoa màu vàng tuyệt đẹp.

Họ ở đâu xuất hiện trong đám đông giữa phố chợ. Hai người đàn bà trung niên, da rạm nắng đen xám, nhiều nếp nhăn, tóc hoa râm và cắt tém thật ngắn trông ngộ nghĩnh. Cái kiểu tóc của những người gypsies nghệ sỹ, tuy bình dị nhưng vẫn tỏa ra một vẻ biệt lập giữa người thường. Họ mặc quần áo giống nhau, quần ống loa rộng màu xanh nhạt, áo sơ mi trắng tay phồng, đơn giản nhưng không phải là trang phục thường ngày của người lao động, có vẻ như họ đóng bộ để sẵn sàng trình diễn dạo kiếm sống. Người ta vây quanh họ, người già, trẻ em, những người tò mò đứng ngồi quanh họ chờ xem họ sẽ làm trò gì. Họ sẽ trình diễn gì? Vợ chồng tôi cũng tụ lại gần xem. Người đàn bà nhỏ con hơn lôi ra một chiếc guitar cũ kỹ, lau nhẹ phím, nắn giây, dạo một vài nốt nhạc, chúng tôi chờ đợi… Và kìa, giọng hát song ca bỗng trổi lên từ đâu, rất mạnh và to, tỏa khắp khu chợ chiều. Giọng hát và lời nhạc ấy hay vô cùng, tôi không biết diễn tả thế nào khi nghe hai người nghệ sĩ già ấy trình diễn. Đó là nét trình diễn của người nhà nghề, nhập hồn và điêu luyện, đầy nghệ thuật. Có lúc họ hát tiếng Pháp, rồi chuyển sang Tây Ban Nha, tôi không hiểu lời nhạc lắm, nhưng tôi như bị thôi miên nhập vào tiếng hát và lời ca của họ. Lối trình diễn tuyệt vời, ru hồn và quyến rũ lạ thường, giống như những nghệ sĩ trứ danh trên một sân khấu hí viện lớn đang thu hút đám đông.

Thế rồi khung cảnh trong giấc mơ chợt đổi sang một phòng khách nhỏ, giống như trong ciné người ta đổi scene bất chợt. Trước lò sưởi có lửa hồng tí tách, hai người đàn bà vẫn đang hát một cách say sưa, đám khán giả vẫn là những kẻ ở phố chợ nhếch nhác và quê mùa, đứng ngồi ngổn ngang lắng nghe một cách chăm chú, và chúng tôi đang ở giữa họ, thưởng thức những bài hát rất hay, giọng truyền cảm của hai người đàn bà như đưa người nghe vào một thế giới xa lạ, đằm thắm, êm ái lạ thường. Tôi có cảm giác mình đang ở một vùng bình yên vô cùng, có thể nào gọi đó là thiên đàng?

Cảm giác thiên đàng ngây ngất ấy bỗng bị cắt đứt vì tiếng gọi của bà y tá trực, "Ms. Pham, I need to take your vital signs." Tôi giật mình ra khỏi cảm giác êm ái, vô cùng tiếc nuối. Nhìn đồng hồ trên tường, lúc đó là 3g sáng.

Những giấc ngủ rất khó đến với tôi trong những ngày khốn khó vừa qua, nói gì đến một giấc mơ cho tôi cảm giác thú vị và hạnh phúc ấy. Tạ ơn giấc ngủ, tạ ơn giấc mơ. Chỉ tiếc, giá y tá đừng lay tôi dậy, thì cảm giác ấy còn kéo dài hơn. Nhưng quan trọng là, tôi tỉnh dậy với cảm giác sung sướng và nhớ rất rõ từng chi tiết của giấc mơ. Hình ảnh và câu chuyện giấc mơ ấy, nếu có thể tái tạo trong một đoạn phim documentary ngắn, loại short arts movie, thì thật hay biết mấy! Tôi bỗng ước mơ nếu có thể tái hiện những giấc mơ đẹp thành… phim ảnh hay truyện ngắn được thì tuyệt quá.


Giấc mơ thứ hai

Những giấc ngủ dù ngắn ngủi trong bệnh viện đối với tôi cũng rất quí, dù thuốc đau làm ngầy ngật nhưng nhắm mắt ngủ một giấc dài thật vô cùng quí hiếm. Thế mà đêm sau, tôi lại ngủ một giấc khá dài, dễ thường đến 3 tiếng. Cũng nhờ giọng đọc êm ái của chồng tôi ru vào giấc ngủ. Anh đọc tiếp một đoạn tùy bút của Võ Phiến, lời văn nhẹ nhàng, thông minh, dí dỏm, và hẳn nhiên là… rất dễ ru ngủ. Tôi thiếp đi, và gặp một giấc mơ khác cũng cho tôi cảm giác sung sướng, êm đềm, khỉ tỉnh dậy còn nhớ khá rõ chi tiết.

Đó là một buổi họp mặt gia đình có đông những người thân, khung cảnh ấy hoàn toàn xa lạ tôi chưa từng biết tới. Chung quang tôi là các anh chị, các cháu rất đông tôi không nhớ rõ mặt từng người, chúng đang xúm xít bàn tán, trò chuyện, cười nói với nhau. Tôi ngồi yên ở góc quan sát những người thân trong khung cảnh ấm cúng đó. Rồi nghe có tiếng đứa cháu nói: "Bây giờ tới phần trình diễn thành quả phúc lợi của từng người trong gia đình. Ai làm những điều lành, phước thiện trong cuộc đời mình thì những nghĩa cử ấy sẽ diễn ra như đang chiếu phim. Mọi người sẽ thay phiên nhau tới lượt mình nhé…" Lạ ghê, một kiểu "kiểm thảo" hành vi cuộc đời, bày diễn ra theo kiểu chiếu phim 3 chiều (3-D) ngay trước mặt, có hình ảnh mình đi qua trước mặt mình, từ ấu thơ cho đến trưởng thành. Tôi thấy thú vị vô cùng. Ô kià, ai kia sao trông giống tôi, đang đi qua trước mặt mình, vừa thân quen vừa lạ lẫm. Và cái mái tóc đó, lởm chởm cắt tém, vừa thô vừa thưa thớt, đó là tôi đó sao? Tiếng một đứa cháu cười khanh khách bình phẩm: "Úi chà, mái tóc dì Lan mode quá xá…" Tôi thấy một người đàn bà trung niên, khá giống tôi, tóc tém tẹm, xơ xác giống bàn chải chổi cùn, giống kỳ tôi vừa cạo sạch sau đợt chemo thứ nhất, vậy mà mode cái nỗi gì? Bà ta cười tươi rói, giơ tay vẫy vẫy chào. Tôi trố mắt nhìn lại. A tôi hiểu rồi, đây là hình ảnh diễn biến của "toà phán xét" sau khi người ta qua đời, người ta có thể nhìn lại ký ức mình xem mình đã làm những điều lành dữ nào trong đời. Nhưng sao lòng tôi êm ái hạnh phúc thế này? Cái người đàn bà giống tôi đó cười tươi, và đám em cháu đang vỗ tay tán thưởng "thành quả" của bà ta, lại còn khen như để khích lệ tinh thần. Và tôi còn nhớ một chi tiết, tôi mặc cái áo dài thêu hoa, đi đứng đàng hoàng, không chống nạng khó khăn như ngoài thực tế, lạ chưa!

Đang say sưa với cảm giác êm đềm lạ lùng ấy, bỗng có tiếng cô y tá đánh thức: "Ms. Pham, há miệng ra cho tôi lấy nhiệt kế nào…" Tôi choàng tỉnh với cảm giác hụt hẫng vì tiếc nuối.


Và những giấc mơ khác...

Giữa cảm giác mơ màng, mê mê tỉnh tỉnh, tôi cũng chợp mắt được một chốc và có được những giấc mơ nho nhỏ. Chúng là những hình ảnh không rõ nét, không liên tục, có thể khi tỉnh dậy không mang cho tôi cảm xúc gì rõ rệt nhớ từng chi tiết, nhưng tôi chỉ có thể cảm nhận đó là những "sweet dreams" tạo cho tôi cảm giác êm đềm, thoải mái, không phải là những ác mộng. Những giấc mơ đẹp trong bệnh viện là những món quà đẹp tôi có được, bù lại cho cảm giác bứt rứt, tù túng, đau đớn, khó chịu, mệt mỏi và những cơn đau hành hạ.

Tôi lầm thầm tạ ơn Chúa cho tôi những giấc mơ ngọt ngào êm dịu, để tôi có thêm nghị lực tranh đấu cho một giấc mơ thực tế, nho nhỏ thôi, nhưng quan trọng đối với tôi vô cùng: Tôi vẫn muốn sống, thêm một thời gian nữa, muốn còn hiện diện trên cuộc đời, và tôi không thể phụ lòng chồng tôi đã luôn nhắc nhở "cố lên em ơi", và cả gia đình, người thân, bạn bè, những người quan tâm đến tôi đã từng cho tôi niềm tin đấu tranh cho sự sống. Tôi đang mơ một giấc mơ thực tại, tôi có thể về nhà trước Giáng Sinh để được hưởng một đêm Giáng Sinh ấm cúng, an lành trong căn nhà của mình, để có thể tự hào rằng "Ta cũng có một Giáng Sinh… như ai!"


Giấc mơ sau cùng

Giấc mơ sau cùng không phải trong giấc ngủ, mà là ước mơ thực tế. Tôi chỉ muốn được về nhà nằm ở cái sofa trong phòng khách, bình an và ấm áp, bên cạnh Nhi. Những mơ ước xa xôi khác tôi không còn nghĩ tới. Ước mơ gần nhất đó được Chúa và Mẹ Đồng Trinh nhận lời. Sau sáu ngày trong bệnh viện, tôi được về nhà. Ôi chao, căn nhà nho nhỏ trong góc rừng của tôi mới thân thương làm sao! Tôi có thể nằm xuống ngủ một giấc ngàn thu trong khung cảnh này. Ở đây có rất nhiều kỷ niệm, những ngày vui và êm đềm cuộc đời tôi đã trải qua trong căn nhà này. Tôi không mong ước gì thêm nữa. Bình yên trong không gian của riêng mình, thêm một thời gian nữa thôi, bên cạnh những bạn bè, người thân yêu nhất của mình.

Những ngày êm ả lễ Noel và Năm mới trôi qua, tôi vẫn còn đây. Và trước mỗi giấc ngủ, lạ lùng, tôi vẫn nhớ đến giọng hát của hai người đàn bà da nâu quê mùa ở phố chợ biên giới Mexico. Giọng hát của họ như tiếng hát của thiên thần, ru tôi vào một vùng thật bình an.



tháng Giêng, ngày 3, 2009


______________________________________________________________
p h ạ m c h i l a n


tranh Les Amants Bleus, Marc Chagall, 1914.
Là một trong những hoạ sĩ PCL rất yêu thích.


Image


12016



Image


n h ữ n g .n g à y .n ằ m .c h ờ
............ .t r ạ m .Z
______________________________________________________________


1

Căn phòng có lò sưởi. Có nến trắng. Hoa hồng. Rượu đỏ. Có một người đàn ông và một người đàn bà.
“Uống mừng được thêm một ngày! Bên anh.” Người đàn bà nheo mắt.
Người đàn ông khẻ chạm ly vợ. Ngoài trời, tuyết ngớt. Rèm cửa chưa khép kín, hắt chút ánh chiều muộn.
“Anh cảm thấy một điều lạ lùng là hình như mọi sự chung quanh vẫn vậy. Trái đất vẫn quay. Sẽ chẳng có điều chi xảy ra.”
“Anh mong điều gì? Đời sống vẫn tiếp tục thôi anh. Bình thường. Dù NÓ đến. Thêm một hoặc bớt một, chẳng có nghĩa gì.”
“Nhưng với anh, đời sống sẽ tiếp tục như thế nào?”
Người đàn bà im lặng. Người đàn ông chọn một dĩa nhạc. Chọn một sự tình cờ. Họ chỉ có nhạc buồn.
“Có những chiều thế này, anh mường tượng thấy em đi. Đi xa. Một mình. Đi thật xa, về phía những con sao sớm. Rồi đợi anh.”
“Ở đâu, và lúc nào, em cũng vẫn chờ anh.” Người đàn bà cười nhẹ.
Tiếng một súc gỗ vừa cháy sụp trong lò.


2

Buổi sáng, con chim đến gõ cửa. Người đàn bà thức giấc với tiếng gõ mỏ của con chim đỏ trên mặt cửa kính, nơi có bàn làm việc của nàng. Không có nàng ở đó, con chim đánh vòng ra sân sau, gõ vào cánh cửa kính cạnh giường.
“Chào chim nhỏ, chào buổi sáng!” Người đàn ông nói từ ngăn bếp, nơi anh sửa soạn cho người đàn bà tách trà và cho mình một tách cà phê.
“Con chim về đây từ hồi nào, anh nhớ không?”
“Không! Nhưng lâu lắm rồi, từ sớm mai nào đó. Như sáng hôm nay.”
“À, sáng đó anh bảo con chim hồng y là người khách đầu ngày, mang lại một ngày mớI, một hy vọng mới.”
“Rồi từ hôm ấy chưa bao giờ mình vắng người khách đầu ngày đáng yêu này, phải không?”
“Thật hạnh phúc! Buổi sáng thức dậy trong tiếng chim. Buổi tối dỗ ngủ có con bướm trắng.”
Người đàn ông lặng nhìn cánh bướm trắng mà hôm trước người đàn bà bảo anh treo trên trần nhà, nơi anh đặt chiếc giường cho riêng nàng.
“Cánh bướm trắng tượng trưng cho linh hồn những người thân đã khuất, anh biết chứ?”
“Không!”
“Rồi một ngày em sẽ nhập vào cánh bướm này! Nhìn, sẽ thấy em!”
“Em yêu, đừng mở đầu một ngày bằng những chuyện như vậy. Sáng ngày mai con chim hồng y sẽ gõ cửa cho mà xem!”


3

Lại buổi chiều. Những cụm mây cùng đường lại trở về ngang phố cũ.
“Hôm nay anh đã làm được gì nào?”
“Chôn xong củ. Mùa xuân này mình sẽ có một vườn hoa tuyệt đẹp.”
“Nhưng em có hẹn với NÓ! NÓ không đến trước mùa xuân chứ?”
Người đàn ông lục túi tìm bao thuốc lá. Anh chực đi lên phòng riêng.
“Không, không! Còn lâu lắm, em. Quên NÓ đi!”
“Hãy thực tế, anh! Phải biết chấp nhận thực tế ấy. Anh cứ sống lãng đãng! Mình còn nhiều điều cần thu xếp.”
Người đàn ông dừng lại giữa cầu thang.
“Anh không chấp nhận sự đầu hàng! Sống thêm một ngày, với anh, đó là một sự bắt đầu!” Giọng người đàn ông đanh lại.
“Anh giận em đấy à?”
Người đàn ông quay mặt đi. Chưa bao giờ anh thành công trong ý muốn che dấu cảm xúc. Đã rất nhiều lần người đàn bà hỏi anh câu hỏi ấy. Và lần nào câu hỏi cũng làm anh rưng rưng.
“Không, không, không một ai có thể giận em. Về bất cứ điều gì.”


4

Lại buổi sáng. Vẫn con chim hồng y hồn nhiên gọi sáng. Người đàn ông bật TV.
“Chả có tin tức nào tốt lành em ạ!”
“Thế hôm nay anh định làm gì?”
“Chạy một vòng phố. Lo vài chuyện tủn mủn. Xong, ghé mua một ít hoa. Một cốc kem, cho em. Và một ít rượu, cho anh.”
“Nhanh nghe! Nhớ là em có hẹn! Với NÓ. NÓ có thể đến bất cứ lúc nào! Em không muốn lúc ấy vắng mặt anh! Nhớ là mình không còn nhiều thời gian.”
Người đàn ông đứng tần ngần môt lúc nơi cửa.
“Không, NÓ không thể đến hôm nay! Anh chưa sẵn sàng. NÓ còn phải đợi lâu lắm. Chiều nay ấm, anh đẩy em đi dạo, em nghe?”
“Ngon!” Người đàn bà hớp trà. “Tối qua em ngủ được một chút. Lại mơ!”
“Kể anh nghe,” người đàn ông trở vào. Anh kéo chiếc ghế dựa sát vào giường người đàn bà. Anh vẫn thường thích nghe nàng kể về những giấc mơ.
“Em thấy mình đang ở vườn nhà anh. Em tìm hái một trái xoài xanh. Buổi trưa mình ngồi dưới gốc mận. Em thèm một ly chanh muối. Này, nhớ tìm mua cho em một trái xoài non.”
“Và một ly chanh muối nữa.” Người đàn ông xoa xoa bàn tay gầy guộc của nàng.
“Đến cùng đường thì người ta tìm cách quay trở lại,” người đàn bà lại nhìn lên cánh bướm trắng treo lơ lửng trên trần nhà, “em đang quay trở lại đó sao? Em thường thấy lại tuổi thơ.”
“Hình như có lần anh nói với em rằng giấc mơ buồn là giấc mơ thấy lại quê nhà. Giấc mơ buồn nhất là giấc mơ thấy lại tuổi nhỏ.”
“Nhưng bây giờ thì em chỉ còn những cơn đau và những giấc mơ. Mà những giấc mơ ấy lại vui vì trong đó có anh.”
Người đàn ông hôn lên gáy người đàn bà, nơi ngày nào phủ mái tóc dài óng mượt.
“Cần gì mơ? Không phải là lúc nào em cũng có anh sao? NÓ không thể đến được đâu!”


5

Khu phố có sáu nhà. Con đuờng vòng dẫn ra con suối cạn. Bên kia con suối, vạt rừng hấp hối trong một thành phố mới lớn.
“Anh nhớ không, mười năm trước mình còn có thể ngồi uống trà sân sau, nhìn cánh đồng cỏ ngút mắt. Em nhớ bầy ngựa.”
“Rồi em xem, mình sẽ mất cả vạt rừng kia nữa.”
Người đàn ông dìu người đàn bà lên chiếc xe lăn. Chiều hè hâm hấp nhưng anh vẫn đắp ngang người nàng tấm chăn mỏng. Gió lớùn. Nàng giữ trong tay ly rượu đỏ cho anh. Anh có thói quen lúc nào cũng phải có một cái gì để uống.
“Đã bao lần mình đi tìm chọn nhà để rồi vẫn trụ lại đây anh há!” Người đàn bà quay lại, trìu mến nhìn căn nhà nhỏ, nơi nàng đã trải qua một thời thiếu nữ.
“Bởi không đâu đẹp bằng ngôi nhà này!” Người đàn ông lại đốt thuốc.
Người đàn bà cười. Nụ cười biết ơn.
“Em muốn gặp NÓ ở đây. Trong căn nhà này. Em không muốn rời nhà trong lúc em còn cảm nhận được thế nào là sự chia cách.”
“NÓ sẽ không đến đâu! Chưa đến đâu! Còn lâu lắm em ạ!”
Những cụm hoa dại bắt đầu ngấm sương. Trên cao, vầng trăng khuyết và ngôi sao sớm.
“Tối qua, mơ màng, em nghe chuỗi tiếng chim kêu thãm. Sao ngày nay không thấy con chim hồng y, anh hở?”
“Có lẽ nó đã tìm được bạn. Có lẽ chúng đã khám phá ra được một khoảnh trời riêng.”
“Ô, cũng như mình! Em luôn nhớ rằng mình cũng có một khoảng trời riêng.”


6

Rất nhiều đêm trời nổi sấm. Sấm ầm ì từ xa, thoắt dừng lại giữa đỉnh trời. Mưa trút nước hả hê rồi cơn bão vụt qua. Người đàn bà nhìn chăm chăm vào cánh bướm trắng treo trên trần nhà, lắng nghe những đợt sấm rượt đuổi nhau.
“Rồi một ngày em cũng sẽ nhập vào cánh bướm này. Nhớ giữ cánh bướm nghe! Hãy nhìn để nhớ em!”
“Anh không nghĩ đến chuyện ấy,” người đàn ông lắc đầu, “anh không tưởng tượng ra đêm, mình và một cánh bướm trắng. Anh không hình dung ra anh trong một thế giới vắng em!”
“Hãy cứ là anh. Là người mà em đã biết và đã yêu thương. Cứ sống như cách mà anh đã sống. Hãy đi những nơi em chưa kịp đi. Hãy làm những gì em chưa kịp làm. Hãy sống tiếp cho em...” Người đàn bà ngần ngừ một lúc. “Hãy cứ làm những gì anh thích. Bởi em thích những gì anh làm.”
“Đừng đi xa quá, em!”
“Nhưng anh không thể để rồi một ngày nào đó phải ân hận vì đã hoang phí thời giờ. Rằng có nhiều việc phải dở dang.”
“Ngủ lại đi, cưng!”
“Không có gì phiền hà nếu anh lại lập gia đình.” Người đàn bà xoa tóc người đàn ông.
“Đừng đi xa quá, cưng! Ngủ lại đi!”
“Cầu cho anh gặp ai yêu thương và chăm sóc anh như em đã từng.”
“Anh không là kẻ quấy rối!”
“Cứ là anh! Khi người ta yêu những điều giống họ, tức họ yêu họ. Rồi sẽ có người yêu sự khác biệt giữa anh và họ. Như em!”
“Đừng đi quá xa, anh không hiểu! Anh chấp nhận sự khác biệt giữa con người...”
“Từ chấp nhận đến yêu thương còn một khoảng cách khá xa.”
“Nhưng chẳng phải là chúng ta đã gắn bó nhau vì những khác biệt hay sao?”
Tiếng phong linh va đập thánh thót ngoài hiên.
“Tội nghiệp anh! Lâu quá rồi, anh viết lại đi chứ!”
“Sẽ! Nhưng em không thấy chính những ngày qua của mình đã là một bài thơ rồi à?”
“Ừ, một bài thơ đẹp! Nhưng sao những gì đẹp đẻ đều buồn buồn vậy anh?”


7

Người đàn bà vén rèm cửa cạnh giường. Nàng muốn ngắm người đàn ông đang tỉa cây vườn sau. Nàng gõ vào mặt kính. Người đàn ông kéo hé cửa.
“Đó, mở tí cửa vậy cho em. Em muốn ngửi mùi ngọc lan.”
“Tí thôi. Gió!”
“Em muốn mùa thu năm nay đến chầm chậm, lặng lẻ thôi. Cho lá kịp chín. Năm ngoái lạnh sớm quá, lá chưa kịp vàng đã khô quắt.”
“Rồi em sẽ thấy quanh đây một biển lá vàng.”
“Chắc không? NÓ không vội đến chứ?”
“Không!”
Người đàn ông thoáng nghe mùi hương quen thuộc. Không phải huơng ngọc lan.
“Ô, em...”
“Em... điệu!” Người đàn bà cười thành tiếng. Tiếng cười khàn khàn. “Cho dù NÓ có đến ngày mai, hôm nay em vẫn điệu!”
“Không, NÓ chưa thể đến!”
Đó là một ngày thật đẹp. Nắng xiên qua những hàng cây, xóa sạch dấu vết trận mưa tối qua.
“Hôm nay mình có bạn chứ?”
“Chưa biết! Chắc có đó!"
“Mình có những người bạn thật tuyệt vời.”
“Tuyệt vời! Nhưng không hiểu sao anh lại... áy náy.”
“Đừng anh! Anh chỉ có thể san sẻ những ân tình anh đã nhận được của người này cho những người khác! Quy luật!”
Vài cánh bướm vàng bay chờn vờn trên những khóm hoa tím.
“Thôi, đủ rồi em. Gió! Để anh khép cửa nhé.”
“Cám ơn anh!”
“Gì?”
“Cám ơn anh đã chấp nhận em trong đời sống anh. Đã chấp nhận những khiếm khuyết của em. Chấp nhận sự tật nguyền bệnh hoạn của em!”
Người đàn ông chực khóc. Không, những điều buồn bã không thể xảy ra trong một ngày tuyệt đẹp như thế này.
“Em có hiểu em đang nói gì không? Anh sợ nhất là sự tật nguyền trong tư tưởng và tình cảm. Anh đã chứng kiến những tật nguyền và bệnh hoạn như thế ở nhiều người. Họ không tự nhận ra đấy thôi. Và còn tật nguyền của anh, em đã chấp nhận phải không? Và hơn thế nữa, đã yêu thương, phải không?”


8

“Đã mấy ngày em không thấy con chim hồng y đến gõ cửa kính nữa. Hay nó đã bỏ đi rồi?” Người đàn bà bồn chồn.
“Ù, có thể! Chắc nó đã bỏ đi rồi!” Nhưng rồi người đàn ông không thể dấu vợ. Anh không nhớ đã có lần nào anh dối vợ chưa. Lúc nãy anh nhặt được trên đám cỏ già cái xác chim khô đét.
“Anh vừa chôn nó dưới khóm hồng!” Giọng người đàn ông rưng rưng.
Người đàn bà yên lặng nhìn sâu vào mắt người đàn ông. Rồi nàng đảo mắt qua những khóm hồng. Những khóm hồng này họ trồng từ những ngày mới gặp nhau.
“Mới đó mà hơn mười năm rồi hả anh? Nhanh quá! Nhưng hồi đó anh đã viết Con chim chết giữa khóm hồng vô cớ/ Tiếng hót quên thảng thốt rụng hiên ngoài, tại sao?”
“Không biết,” người đàn ông ngần ngừ, “nhiều khi thơ chỉ là một cuộc hội ngộ tình cờ.”
“Nhưng cuộc biệt ly này không tình cờ chứ? Nhiều đêm, rất nhiều đêm, em nghe càng lúc càng rõ tiếng bước chân của NÓ. NÓ đang đến gần, rất gần. NÓ mơn trớn thịt da em. Lay động từng đốt xương em. Thôi, em không cần thuốc giảm đau nữa!”
“Còn! Em còn cần chúng!”
“Không! Đọc cái gì cho em đi!”
Người đàn ông quay mặt đi. Anh khóc. Cho sự bất lực của mình.


9

Vị linh mục thong thả khoác chiếc áo choàng. Ông ái ngại nhìn người đàn bà.
“Chị thay đổi nhiều quá! Chị… có sợ không?”
“Thưa Cha, không!”
“Tôi mừng cho anh,” vị linh mục gật đầu rồi quay sang người đàn ông. “Bây giờ anh có thể ra ngoài. Để chị xưng tội!”
Người đàn ông ra tản bộ sân ngoài. Bầy chim trời đang bình an mổ hạt, không buồn bay vì cái bóng người đàn ông. Không có con chim đỏ. Hàng tre xanh, cội trúc đào, những cụm hoa mà anh chỉ biết loáng thoáng và thường lẫn lộn tên gọi, bình an đón gió. Chiếc phong linh bình an đón gió. Anh không nghĩ rằng rồi anh có được sự bình an như cây cỏ.
“Tôi mừng cho anh,” vị linh mục đã đứng nơi cửa trước. “Nhưng tôi cũng chia sẻ với chị nỗi ái ngại về anh. Anh phải biết chấp nhận ý muốn Thiên Chúa. Chúa đã cho. Và bây giờ là lúc anh trả lại. Tôi sẽ luôn cầu nguyện cho sự bình an của anh.”
“Cám ơn Cha. Con vững chãi. Con sẽ có được sự bình an ấy!” Lại một lần nữa, như nhiều lần, rất nhiều lần trong đời, người đàn ông thốt ra những điều anh không chắc.
Người đàn ông quay vào nhà. Người đàn bà cười tươi. Nụ cười anh vẫn thường gặp những khi nàng ở nhà thờ.
“Hôm nay anh lại phạm tội rồi!”
“Gì nào?”
“Không được uống rượu buổi sáng, trước lễ nhận Mình Thánh Chúa!”
“Anh sẽ để ý! Lần sau!”
“Em không chờ lâu được đâu! NÓ không chờ đến lúc anh thực hành lời hứa đâu!”
“Không, không, NÓ không được, không thể đến lúc này…”


10

NÓ đến đúng vào một ngày lập thu.
CÁI CHẾT được báo trước, đã hẹn hò, được chờ đợi, nhẩn nha, lừ lừ đến, nhưng phút gặp gỡ lại cực cùng tàn liệt.
Người đàn ông vừa mớm cho nàng thìa súp thứ ba thì đột nhiên thân thể nàng co rúm. Nàng lên cơn động kinh! Trước khi đôi mắt nàng nhắm nghiền, người đàn ông, dù trong cơn hốt hoảng tột cùng, vẫn thấy được trong đôi mắt đục mờ ấy nỗi buồn vời vợi chia xa.
Vậy là nàng đạt được ý nguyện: khi người ta đến đưa nàng đi, nàng đã hôn mê. Nàng không còn cảm nhận được sự chia lìa với căn nhà nàng đã trải qua một thời thiếu nữ. Nơi nàng đã gặp và đã yêu. Nơi nàng đã trải qua những tháng ngày hạnh phúc.
Người đàn ông thường nhìn cánh bướm trắng trên trần nhà, góc có bức chân dung người đàn bà. Nhiều lúc anh nhìn thật lâu vào người đàn bà trong bức chân dung nhưng, lạ, lại thấy nàng trong cánh bướm.
Anh cũng thường đến nhà thờ mỗi ngày, ngồi bên mớ tro cốt của người đàn bà, trò chuyện đôi phút với nàng. Anh hay nói với nàng về những ngày, những tháng, những năm cùng ở trạm Z. Chờ NÓ!
Thỉnh thoảng anh mơ thấy nàng. Bầu bỉnh. Khoẻ mạnh. Không xe lăn. Không nạng gỗ. Nàng đi lúp xúp dưới những tán lá thấp quê nhà anh. Có lẽ nàng đang tìm một trái xoài xanh. Có tiếng một con chim hồng y kêu ríu rít trên cành khô.
Người đàn ông còn ở lại trạm Z. Vẫn làm những việïc anh ta thích. Và không thích. Vẫn làm nhiều chuyện đần độn. Và nhiều chuyện anh ta tưởng là khôn ngoan. Và vẫn chờ!



______________________________________________________________
n g u y ê n n h i


Image


12020



Image


t h á n g..t ư
...............t ộ i..l ỗ i
______________________________________________________________


Chủ Nhật, 27/4/1975

Ðang ngủ ngon thì mẹ gọi thốc dậy. Vẻ mặt nghiêm trọng, mẹ gọi tôi và Biếc ra góc bếp rồi dúi vào tay chị em tôi mỗi đứa một cuộn giấy bạc. Mẹ cho tiền tiêu vặt, muốn mua gì thì mua thỏa thích này. Và không giải thích gì thêm. Cầm cuộn tiền trong tay, tôi bối rối, ngại ngùng. Lần đầu tiên được giữ nhiều tiền, tôi hỏi Biếc làm gì với nó, chị ngơ ngác bảo không biết. Mỗi đứa có 50.000 đồng, số tiền quá lớn đối với một đứa trẻ. Hồi hộp với cảm giác lạ, không biết lấy làm vui sướng hay lo sợ một điều gì mơ hồ đang xảy đến. Số tiền này, chị em tôi có thể hùn mua được chiếc xe đạp mini, một mơ ước ngoài tầm với những ngày trước. Nhà nghèo, chị tôi vẫn mơ có một chiếc xe đạp xinh xinh để đi học và chở tôi đến trường, thay vì phải lội bộ dưới những cơn nắng gắt. Nhưng, lúc này, chiếc mini không còn là giấc mơ hay cần thiết nữa. Chỉ thấy lòng dửng dưng với xấp giấy bạc. Tiền để làm gì bây giờ nhỉ?

Mấy tháng nay tình hình xao động, chung quanh không bình thường, yên ổn như ngày này năm ngoái, những ngày chuẩn bị mùa nghỉ hè. Có nhiều chuyện quan trọng khác, chẳng hạn như cảm giác bất an trong lòng mà tôi không định hình được. Tôi đang thấp thỏm chờ đợi một biến cố tâm lý, cơ thể đứa con gái bắt đầu dậy thì, đang xôn xao với nhiều bồn chồn, lo lắng. Như lần đầu tiên mặc cái áo nịt ngực, xấu hổ tưởng ai cũng đang nhìn mình chằm chằm, xuyên qua lớp áo nhìn thấy hết...

Bà bắp luộc cắp rổ đi ngang, tôi gọi mua một chục cái bắp nóng hổi. 12 cái à, dạ hôm nay con bao cả nhà ăn bắp. Tôi tặng bà luôn số tiền thối lại khá lớn. Gặm một cái và đưa Biếc một cái. Ngô nhạt nhẽo, miệng mồm tôi cũng nhạt nhẽo, không cảm thấy thèm quà vặt. Những chiếc bắp dư thừa nằm lăn lóc trên bàn không ai ngó ngàng tới, ruồi bậu vo ve. Không khí im sững lại. Tôi nghe tiếng thở của mình nặng nề giữa buổi trưa nóng nực. Biếc có vẻ tư lự, suy nghĩ gì, chị bảo chạy đi đây một tí, sẽ về ngay. Tôi nhắc theo, mẹ dặn không được đi đâu quá một tiếng đồng hồ đấy. Bố mẹ lại thì thào, bàn tính chuyện gì không muốn cho bọn trẻ nghe. Tôi tò mò, không biết bố mẹ đang có chuyện gì quan trọng. Vẻ mặt mẹ rầu rầu đăm chiêu, tôi hồi hộp nhưng không dám hỏi. Ðến chiều, bà chị ở Bến Ðình đạp xe vào, rón rén nhìn trước nhìn sau. Mẹ và chị kéo nhau ra góc thì thầm. Chị Thuận nói nhỏ, “gia đình con thu xếp xong rồi, nhà có 5 người, tiền thì mua vàng hết, chỉ có cái TV và xe honda thì để lại, dấu trong góc vườn, nếu không đi lọt trở lại…” Tôi bàng hoàng, tay nổi gai, rờn rợn khắp người. Cái lo bỗng ập đến, tôi hoang mang vô cùng. Ðiều ghê gớm là gia đình tôi đang tính đi xa, nhưng mà đi đâu? Con Hà hàng xóm chạy sang rủ đi ciné có phim hay đang chiếu, tôi lắc đầu không đi. Cũng không muốn tâm sự gì với nó.

Có điều gì trong tôi đang giằng co, bứt rứt mà không thể nói với ai được. Tôi vẫn giữ trong bụng nhiều điều. Biếc vẫn bảo tôi bày đặt kín đáo, khó tính như bà cụ non. Bà cụ non đang buồn muốn chết… Cả tháng nay tin thời sự nóng bỏng. Tối nào ăn cơm xong tôi cũng phải đọc báo cho bố nghe khan cả cổ. Tôi đọc như con vẹt, toàn những từ ngữ dao to búa lớn, những địa danh khói lửa. Nội dung là trận chiến đang thảm khốc, tới hồi quyết liệt. Báo đăng toàn tin xấu: Huế, Ðà Nẵng thất thủ, Khe Sanh, Pleiku tơi bời. Bên ta, bên địch người chết như rạ. Lính bỏ áo giáp, súng ống chạy có cờ. Mỹ thì đã bỏ chạy từ kiếp nào. Chữ “Time” tôi đọc là “Ti-me” mặc Biếc che miệng cười. Tham-mờ, nhỏ này quê quá, là tờ Thời Báo của Mỹ đó. Kệ tui, tui đọc bố hiểu là được rồi… Bố mua gần hết nhật trình ở sạp. Ðối với tôi những tin gì liên quan tới chiến tranh, Việt cộng, Giải phóng nằm vùng, Nguyễn văn Thiệu, Dương văn Minh, Mỹ Mẽo... đều chán phèo, tôi đọc như một cái máy, đọc vì được bố trả công, vì cặp kính lão của bố bị gãy càng. Ðọc mà không biết mình đọc gì, đầu rỗng toang. Chỉ chờ đọc xong phần tin tức cho bố, tôi lật ngay trang trong có đăng từng kỳ truyện “Áo mơ phai” của Nguyễn Ðình Toàn, đọc ngấu nghiến. Văn nhẹ nhàng, thơ mộng, hợp với tuổi ô mai hơn. Giọng ông này đêm mà đọc truyện trên đài Quân Ðội thì tuyệt, ru ngủ rất ngon, tối nào chị em tôi cũng dành cái radio nghe nhạc.

Tôi đang chán ghê vì những gì người lớn đang toan tính. Không ai hỏi ý kiến bọn trẻ có muốn đi hay không. Biết đi là trọng đại, ai cũng mơ hồ cảm nhận, vừa thấy thích vừa hoang mang, hồi hộp. Nhưng một khi bố đã quyết định thì không còn một chọn lựa khác. Mẹ lúc này tiêu tiền phóng khoáng, không hà tiện chắt chiu như lúc thường. Dường như tiền không còn ý nghĩa giá trị trong những ngày loạn lạc, hay mẹ dùng tiền dành dụm bao lâu nay để bù đắp cho chúng tôi những món ngon, vui hưởng những giờ phút còn lại ở nơi này? Mua một lúc 2 ký nhãn và mấy chục cái lạp xưởng, bánh mì, phó mát… mẹ xài sang như dân Saigon có tiền vậy. Gia đình bà chị cả đã kéo ra Cấp tối qua, lễ mễ hành lý, radio, máy hát lỉnh kỉnh. Biếc tìm được trong thùng cuộn băng nhạc Trịnh Công Sơn, khoái chí. Giọng Khánh Ly khàn khàn, rên rỉ. “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…” Họ nói tất cả đã sẵn sàng, tăng lều đã được dựng lên ở đảo Guam, đảo Wake, Philippine… Người Mỹ đã biết hết thời cuộc. Bố kêu nhức đầu nằm ngả lưng trên phản, bảo tôi mang báo có hình quang cảnh trại tị nạn cho bố xem. Bố ngồi ngay dậy: “Ðây này, tin xác thực có cả hình đây, bác Gián nói không sai. Tình hình không ổn đâu, trước sau gì cũng mất nước. Mình là dân Bắc di cư không thể chần chừ được…”, bố phân trần với mẹ. Mẹ đang loay hoay thu xếp, mẹ buông tay thẫn thờ. Dưới ánh đèn, hình ảnh mẹ chịu đựng như một bức tượng. Miền Trung đã mất cả tuần nay, bố bồn chồn đứng ngồi không yên.

Báo và radio toàn loan tin thời sự, từng thành phố một thất thủ. Người miền Trung bỏ chạy về phía nam, những khuôn mặt thất thần, nhếch nhác, rách rưới, nhà cửa cháy tan hoang… Họ thoát chết vì bom đạn trên quốc lộ số một. Người chết nhiều lắm. Xe tăng Việt cộng đang tiến vào Sàigòn. Xuân Lộc đang tử thủ. Lại nghe đồn giá gạo mắm sẽ lên. “Ôi dào,” mẹ thở ra, “tôi chẳng biết, ông tính sao thì tính...” Người bạn của bố ghé nhà mấy lần có vẻ vội vã, thầm thì với bố điều gì, rồi phóng xe đi ngay. Không khí căng thẳng ngột ngạt một điều gì... Biếc nói bên trường trung học phải nhường phòng lớp cho người di tản. Nghe nhiều chuyện dễ sợ lắm, có người chết hết cả gia đình. Tuần trước, lớp tôi quyên được ít tiền ủy lạo nạn nhân thời cuộc, tôi nhịn tiền quà sáng đóng góp. Các cửa hàng bán đồ khô, gạo, nước mắm đắt như tôm tươi. Ai cũng lo dự trữ thực phẩm. Tối qua mẹ chở về nhà 2 tạ gạo, bố gắt um lên, bà mua làm gì lắm thế. Mẹ cẩn thận bao giờ cũng lo đến cái ăn trước tiên. “Ông có nhớ năm đói không? Tôi phải tích trữ gạo, nước mắm… kẻo chết đói cả lũ.” Bố lắc đầu, đầu hàng mẹ.


Sáng thứ Hai, 28/4/1975

Cả nhà thức dậy sớm hơn thường lệ. Bố hô hào chuẩn bị hành lý. Túi lớn túi nhỏ, bóp ví đã đặt ở đầu giường từ đêm qua để khỏi quên. Trời nắng rất đẹp. Trong nắng có một cái gì long lanh mà buồn hiu hắt. Có ai vừa bật cái máy hát, lại nhạc họ Trịnh, giọng Khánh Ly ngân nga, sướt mướt: “Người con gái Việt nam da vàng, yêu quê hương như yêu đồng lúa chín…” Mấy chị gánh hàng rong đi ngang, mẹ gọi mua mỗi người một gói xôi và chén đậu hũ đường. Không ai nuốt được, bảo không đói. Hàng xóm đi lại thơ thẩn, thản nhiên như thường ngày. Vài người nhìn chúng tôi tò mò, dò hỏi. Gia đình Bắc kỳ này lạ lùng, làm cái gì cũng kín kín mở mở, ít ai hiểu. Mà chẳng ai thèm quan tâm đến chuyện người khác trong lúc này. Có ai biết chuyện gì ghê gớm đang xảy ra không? Ðời sống vẫn đang tiếp diễn. Chiến tranh kẻ thù ở nơi khác, ở đây chỉ có giá vàng là tăng, bến tàu thì nhộn nhịp khác thường, và ngư phủ ra giá từng khoang tàu bằng những cây vàng. Tôi cảm thấy có điều gì bứt rứt không yên. “Em chưa thấy quê hương thanh bình, em chưa thấy xưa kia Việt Nam…”

Lại dấy lên ý nghĩ so sánh giữa đi và ở. Tội nghiệp họ hay tội nghiệp mình? Có biết ai may mắn hơn ai? Ðám con nít chạy chơi rông ngoài đầu ngõ, trường cho nghỉ học cả tuần nay vì biến động thời cuộc. Chiến tranh đã mò về tới thị xã du lịch miền biển này. Vũng Tàu mà cũng đi chạy giặc là đánh tới đít rồi. Việt cộng vào sẽ không tha một ai. Ông Hùng là nằm vùng đó, ổng biết hết ai tẻ ai nếp… Những lời truyền miệng hoang mang. Sôi động khắp nơi, thày cô nhớn nhác, hiệu trưởng bù đầu với đám tị nạn thời cuộc lếch thếch, rách rưới, gồng gánh từ Ðà Nẵng vào chiếm ngụ hết cả nhà trường. Họ nằm ngổn ngang, lều chõng la liệt, nấu nướng giặt giũ giống cái trại tị nạn. “Ðàn bò vào thành phố, không còn ai hỏi thăm… Ðàn bò tìm dòng sông, nhưng dòng nước cạn khô… Cái máy lải nhải, đĩa nhựa đứng tại chỗ không nhảy qua vòng khác được. Rồi người bỗng thấy buồn… Rồi người đã thấy buồn. Chiến tranh thảm khốc ở đâu đâu chẳng biết, ở đây, tôi nhìn thấy hậu quả. Chiến tranh chính là mi đấy ư? Ôi quê hương đã lầm than sao còn chiến tranh? Mười giờ sáng, xe lam tới đậu trước cửa nhà, bố chạy ra bảo chờ. Ðại gia đình nhà tôi tất cả 20 người đã tề tựu từ mấy hôm trước. Ðã sẵn sàng cả rồi. Bố dặn túi xách của ai người nấy mang. Trong túi, ai cũng có một số tiền mẹ phát “để dằn túi”. Tôi vẫn còn một bó nhỏ, gài kim băng cẩn thận. Mới tiêu hết có vài nghìn, tiền ăn hàng, mua mấy tập truyện và một đôi dép mới. Tôi mua mấy cuốn Tuổi Hoa đỏ và tím là mấy loại tôi thích nhưng vẫn chưa động tới. Có gì trong nắng mà nhớ...

Nắng lung linh nhảy múa, buổi trưa nóng gắt. Tôi bỗng hoảng hốt nhìn quanh quất, linh tính lần cuối cùng nhìn khung cảnh căn nhà quen thuộc này. Con mèo tam thể chạy đến gạ gạ dưới chân, tôi bồng nó lên vuốt nhè nhẹ. Thôi ở lại nha mèo, sao hôm nay mày nhiều tình cảm thế này. Con Mướp cũng tới meo meo đòi nựng. Tôi vẫn cưng Tam thể hơn vì nó nhu mì, mắt nó trong veo, lim dim nhắm nghiền. Mẹ dục, rồi đẩy tôi lên xe lam ngồi trước cạnh ông tài. Nhìn lại con ngõ một lần cuối, tôi cố thu hết hình ảnh.

Ðến Cầu Ðá chuẩn bị xuống ghe, mẹ khóc, vai mẹ rung nhè nhẹ. Ông anh thứ vẫn còn kẹt ở đơn vị chưa về kịp. Mẹ nói bố chờ đến tối xem anh có về kịp, bố gạt đi bảo không thể chờ, nó lớn tự lo đường đi sau. Bến tàu đông nghẹt người, người ở đâu ra nhiều thế? Trên mặt ai cũng lộ hoang mang, hoảng hốt điều gì. Ghe tàu đủ loại đậu kín các bãi. Bến đậu bẩn thỉu, hỗn loạn, bát nháo. Người ta chen lấn, giành giật, chửi rủa nhau vì không được mang gà vịt, chó, xe honda, tủ lạnh xuống ghe. Nhìn ra biển, tôi thấy lo. Nếu đắm tàu, tôi sẽ níu ai, ai có thể cứu tôi. Lần đầu tiên đi biển trên một chiếc ghe, tôi bỗng thấy khiếp. Tôi không thể bơi, và Biếc thì sợ nước giống con mèo Tam thể. Thuyền chòng chành, ruột gan bắt đầu nhộn nhạo. Chạy một đoạn thì tấp vào một tàu đánh cá lớn, đây là tàu bố tôi mua chỗ do bác Gián môi giới thu xếp. Sóng lớn, ghe trồi lên dập xuống. Chân tôi mềm oặt không có điểm tựa, tôi cố trèo lên tàu. Người trên thì kéo, ngừơi dưới thì đẩy, ngón tay tôi bị kẹp dập tím, đau điếng. Trên tàu đã chật ních người, ngột ngạt mùi tanh lợm của cá chết và gây gây nặng mùi mồ hôi của mấy gã đánh cá. Sóng lớn, gió nóng và rát bỏng, mặt ai cũng đỏ gay vì say nắng, say sóng. Ðầu mơ màng, tôi ói tận mật xanh. Tôi thiếp đi một giấc dài, tỉnh dậy thấy trời đã tối mịt. Mênh mông trời nước. Một rừng ghe tàu đông nghẹt trên mặt biển, nhấp nháy đèn dầu sáng lung linh như một thành phố nổi. Phía xa, những đốm sáng của những chiếc tàu lớn đen ngòm, lừng lững một góc trời.

Ðệ thất hạm đội Mỹ đó, người ta đang bàn tán, chỉ chỏ. Bụng cồn cào, buồn nôn vì mùi tanh tanh, mùi muối mặn, gió nồng… Tôi nhịn tiểu đã gần một ngày, người bứt rứt khó chịu. Mệt lả, lịm đi không còn cảm giác, không muốn ăn uống, tiêu tiểu như bình thường... Mồ hôi ra rịn ướt, chất cặn trong người thải ra đỡ khỏi tiểu. Biếc ôm khư khư cái túi vải, không biết có gì quí mà ôm chặt không rời, Biếc ngủ gục trên cái túi đó. Tôi gặm một miếng bánh mì cứng như khúc củi, miệng khô rát, đắng ngắt. Chúng tôi ở trên ghe đánh cá đã 2 ngày đêm rồi, tàu cắm neo một chỗ, tay chân tôi tê điếng vì gò bó không nhúc nhích được. Sáng nay, tôi và Biếc phụ họa với chị Cả đòi vào bờ. Mình cứ đậu đây hoài sao, để làm gì chứ, quay về đi bố ơi. Bố quát bảo im miệng, con nít biết gì...

Giữa đêm có tiếng nhốn nháo, mọi người chồm ra tàu nhìn xuống. Một chiếc ghe nhỏ táp lại gần, nhao nhao đòi lên. Ông Biên chủ tàu quát lớn: “Không cho nó lên. Lấy cái chày đâu, đưa tao…” Ông ta đập túi bụi vào đầu người đàn ông bận đồ lính thủy quân lục chiến. Hắn nhảy được lên tàu, mắt long sòng sọc, hắn rút khẩu súng lục, lên đạn, bắn mấy phát lên trời, rồi chộp ngay một đứa bé ngồi ở mạn tàu. “Ð.M. không cho gia đình tao lên, tao quăng con nhỏ này xuống nước.” Bà chủ ghe hét lớn “Ối, không được đụng tới con tao. Cho nó lên đi, ghe còn chỗ đấy...” Họ kéo nhau lên. Nhiều người lầu bầu chửi, ỷ đi lính có súng giỏi uy hiếp. Mệt và chán nản, không ai thèm quan tâm tới ai. Chúng tôi nằm chồng chất lên nhau, thiêm thiếp trong mỗi tâm trạng riêng. Có tiếng đọc kinh tối của một gia đình ngoan đạo nào trong hầm tàu, tiếng kinh líu ríu quyện với tiếng sóng vỗ đều đặn. Tôi cố làm quen với những đợt sóng ngả nghiêng, chòng chành, tôi dựa đầu lên lưng mẹ. Ðêm ấy bầu trời trong đầy sao. Tôi nhìn những khoảng trống đen trên biển, cảm thấy lạc lõng. Rồi tôi thiếp đi. Giữa đêm tàu bị sóng động, tôi bị nhồi sóng không ngủ lại được. Nằm thao thức, tôi thấy Biếc thò tay vào túi vải, cái túi cựa quậy. Tôi kinh ngạc chồm dậy. Biếc ra hiệu cho tôi im lặng. Tam Thể hay Mướp? Tam Thể đó. Nó đòi theo. Ðừng nói cho ai biết nghe. Miu miu, nằm im, ngoan nào. Tôi cười đồng loã với Biếc. Sáng 30 rồi, bố thì thào với mẹ, tay ôm cái radio áp sát tai nghe đài. Mẹ vấn lại mái tóc xổ, nhìn hướng vào bờ, trông ngóng. Núi lớn nổi rõ, sừng sững. Ngọn hải đăng đã tắt ngúm từ bao giờ, mặt trời chói chan trồi lên mặt biển. Tôi choàng tỉnh dậy giữa tiếng nhốn nháo ở đầu ghe. Ông Biên chủ tàu đang quát nạt một người đàn bà. “Không được! Bao giờ có lệnh thì tàu chạy.” Ông Biên hách dịch cắp đít bỏ đi.

Có khói lên từ phía cuối ghe, mùi cơm sôi thơm ngào ngạt. Chắc gia đình chủ tàu nấu cơm cho nhau ăn. Ba ngày nay, gia đình tôi chỉ ăn cơm nắm mẹ bới mỗi đứa một bịch. Ăn cơm nắm với ruốc, vừa mặn vừa khô thật khó nuốt. Cái gì vào bụng cũng muốn tống ra ngay. Tôi thấy ngăm ngăm đau ở bụng, cái đau khác thường lắm. Lòng bàn tay tôi lấm tấm rịn mồ hôi, run run. Tôi ráng nín đau, kềm nó lại. Tàu lại có thêm vài người mới lên. Nắng chói gắt, nóng ghê gớm, mặt trời đã lên trên ngọn núi. Bỗng có tiếng nổ ầm ở mé trái, ngọn nước bắn cao tung toé.

Người nhốn nháo, kêu rú thất thanh. Việt cộng pháo kích, bắn từ trong đất liền ra? Rồi tiếng súng đì đạch phát ra từ những tàu ghe đậu cạnh. Chung quanh tàu ghe đã đậu sẵn từ bao giờ, cả hàng ngàn chiếc ghe đánh cá đầy nhóc người. Tôi run bần bật, níu lấy áo mẹ, sợ như chưa bao giờ sợ. Chưa bao giờ nghe tiếng súng, tiếng nổ to và sát bên tai thế này. Tôi nói mẹ quay vào bờ, thôi không đi Mỹ nữa đâu. Người đàn ông đen thui từ dưới hầm ghe chui lên, mắt đỏ ngầu giận dữ, quát lớn: “Tổ cha đứa nào mang mèo lên tàu! Ði biển mà mang mèo theo là xui tận mạng. Ai? Ð. má đứa nào ngu vậy, tao vặn cổ ném xuống biển...” Mặt Biếc tái xanh không còn giọt máu, tay run cầm cập. Bố chợt hiểu. Bố quay nhìn chị em tôi, nghiến răng trừng mắt giận dữ. Mẹ ra hiệu nín im, không được lên tiếng. Tôi nắm chặt tay Biếc. Con Tam Thể chui ra túi từ hồi nào, chạy rông kêu meo meo nên bọn tài công biết được. Biếc cúi đầu, không dám hó hé. Gã đen đủi xấu xí kia túm được Tam thể, xách cổ nó lên boong, mắt nó ngơ ngác, co rúm vì sợ. Gã rủa, rồi ném mạnh con mèo rơi tõm xuống biển. Biếc rú lên, tôi cấu tay chị. Biếc bụm miệng, rung bần bật. Tôi bỗng thấy cơn giận ập đến, nhoài người ra tàu nhìn theo con mèo hiền lành của mình đang ngụp lặn, ngáp ngáp, dãy dụa trên sóng. Nó quào quào yếu ớt, rồi chìm lỉm, mất hút. Tam thể mọi khi rất sợ nước. Biếc mím chặt môi khóc không thành tiếng. Tối nào nó cũng nằm ngoan ngoãn lim dim trong lòng chị khi học bài. Kẻ thù, chiến tranh, quân địch ở đâu? Tôi vừa nhìn thấy cái mất mát đầu tiên. Con mèo thân thuộc chìm lỉm làm tôi thấy nhói trong lòng. Cơn đau lại quặn lên từ bụng, nó ngâm ngâm như là… mà không phải, tôi không cần đi ra đầu tàu lúc này… Ðầu tôi quay mòng, nhức khủng khiếp.

Giữa trưa, nắng lên nóng gắt. Tiếng radio của ông chủ ghe mở lớn, át tiếng xì xào nói chuyện, bàn tán, cãi nhau. Ông Biên quát mọi người im lặng để ông nghe đài. Dương văn Minh đã đầu hàng. Thôi, thế là hết rồi. Người ta nhao nhao hét nhổ neo mà chạy thôi. Ðám đàn bà con nít sợ hãi, ré khóc um sùm. Mặc ai nấy khóc, nói, quát nạt, chạy tới chạy lui, bứt đầu bức tóc. Tàu nào chung quanh cũng có cảnh tương tự. Một chiếc ghe lớn đi ngang tông cái rầm vào sườn tàu. Tàu chao nghiêng, tiếng rú thất thanh. Ối lạy chúa, Nam mô a di... Ông Biên hét gã tài công nổ máy, chạy gấp. Ðã có lệnh ra khơi. Ðoàn tàu nhổ neo túa ra biển như những chiếc lá tre, trực chỉ phía hải phận quốc tế. Tai tôi lùng bùng giữa nhiều thứ âm thanh hỗn tạp, tiếng hét, tiếng khóc, tiếng đọc kinh, tiếng súng nổ, tiếng pháo kích, tiếng máy tàu, tiếng trực thăng quạt trên đầu… Có tiếng bàn tán của những người nhanh miệng trước thời cuộc. Việt cộng đã vào Dinh độc lập. Có người ôm mặt khóc. Làn sóng đài thủ đô đang vỗ tay đánh nhịp: Rừng núi dang tay nối lại biển xa… Dương văn Minh chào mừng người anh em từ miền bắc vào giải phóng. Bố đập mạnh tay vào thành tàu: “Khốn nạn!” Không ai còn lòng dạ nào lắng nghe những lời hát, lời nhạc, diễn từ phát ra từ cái radio ấy. Vài thanh niên đứng lên ngồi xuống, nhấp nhổm trông ngóng ra hướng biển xa.

Chúng tôi quay nhìn lại trong bờ, đất liền xa dần, ngọn núi Bãi sau chỉ còn là một chấm li ti ở đường chân trời, thu nhỏ rồi mất hút. Giã từ đất liền, giã từ Việt nam. Chúng tôi đã nhấc chân ra khỏi vùng đất quen thuộc, gắn bó. Tôi chợt nhớ tới một câu trong cuốn sách đã đọc. Chữ quê hương bỗng trở nên lạ lùng, khó hiểu đối với tôi kể từ lúc này.

Chiến hạm khổng lồ xuất hiện. Ghe tàu tị nạn bu quanh như đàn kiến. Tàu Mỹ rất lớn, sừng sững như tòa nhà mười tầng. Chúng tôi tiến về phía đó, mọi người trên ghe la ó, mừng rỡ, tay phất cờ Mỹ và cờ vàng ba sọc đỏ. Có tiếng loa phóng thanh từ trên tàu lớn, người thông dịch viên yêu cầu “đồng bào” lần lượt chờ lên tàu theo trật tự.

Không có gì gọi là trật tự trong giờ phút này, người mất nước bỏ chạy như đàn kiến vỡ tổ. Mạnh ai nấy leo, mạnh ai nấy đẩy, đè đạp lên nhau để trèo lên. Lão Biên ra lệnh cho thân nhân ông ta khiêng vali hành lý của họ lên trước. Lão quay lại nạt nộ bố không được mang theo gì hết, đồ đạc lính Mỹ sẽ mang lên sau. Mẹ đỡ tôi trèo qua được cái xà lan dập dềnh sát cạnh cầu thang lên tàu. Một ngọn sóng lớn trồi lên, xà lan chòng chành, tôi bước hụt chân, tiếng mẹ hét lớn. Bỗng một cánh tay lông lá, rắn chắc khoẻ mạnh của ai vừa nhấc bổng tôi lên. Người lính Mỹ bế tôi lên thang dây, những bậc thang mỏng manh, chòng chành, tôi níu chặt ông ta sợ té. Bụng tôi lại đau quặn, lưng mỏi ghê gớm. Tôi thở ra như sắp đứt hơi. Có cảm giác ẩm ướt chảy sướt, mồ hôi vã ra, bàn tay lạnh ngắt. Ðiều lo sợ kinh hãi nhất trong đời tôi đang xảy đến, trời ơi, không ngờ nó lại là lúc này. Tôi cắn răng, kềm tiếng rên.

Mặt tôi tái nhợt. Trời hành tôi là con gái, tôi than thầm. Không dám rên la hay động đậy mạnh. Những gì “người-lớn” chuẩn bị tinh thần về chuyện hành kinh đầu đời con gái, giờ thấy vô lý hết. Tôi bối rối, sợ và cảm thấy tức giận một điều gì ghê gớm, giận vu vơ. Tại sao lại ngay giờ phút này mà không đợi tháng sau, năm sau? Tủi cực, xấu hổ, tôi ngợp với cảm giác choáng váng, nôn nao, cơn đau càng lúc dồn dập. Gập mình bậm miệng… Ðau này có giống cái đau của đàn bà đau đẻ? Tôi không biết làm sao mình qua được những giây phút khốn khổ đó. Tôi chỉ nhớ, người đàn ông Mỹ đó đặt tôi lên chiếc băng ca lúc vừa lên tàu. Có nhiều người tị nạn đã có mặt sẵn ở đó, có lẽ họ di tản trước bằng trực thăng. Họ nháo nhác tìm gọi người thân từ đám người mới lên. Tôi ngất lịm đi. Vì sợ, hay vì đau. Tôi không thể nhớ. Lúc ấy chỉ kịp ghi nhận hình ảnh mẹ tôi lếch thếch chạy theo đám người Mỹ khiêng tôi trên chiếc băng ca về trạm y tế. Tôi không nhớ cảm giác đau bụng đó kéo dài bao lâu. Người y tá cho tôi uống một viên thuốc và đưa tôi hộp băng vệ sinh. Hình như mẹ thay cho tôi cái quần khác. Tôi mơ màng, nóng sốt giữa nhiều hình ảnh. Tiếng khóc, tiếng người gọi nhau trên loa phóng thanh, tiếng sụt sịt, tiếng gào, tiếng thở dài... Tôi hỏi mẹ gia đình mình đâu hết rồi. Mẹ dìu tôi leo những nấc thang lên tầng trên, tìm mãi mới thấy cả nhà tôi đã chiếm ngụ một góc. Chị Biếc đưa cho tôi hộp lương khô lính Mỹ vừa phát và một cái ca đựng cơm nấu độn với cá hộp nhão nhét. Tôi ngồi thu mình trong góc chiến hạm. Tôi không thấy đói, không có cảm giác gì rõ rệt lúc bấy giờ.

Người ta đổ lên chiến hạm mỗi lúc mỗi đông, tàu đã chứa cả gần mười ngàn người. Bố tức giận khi khám phá tất cả tài sản, đồ đạc, vali xách tay của gia đình tôi đều bị bỏ lại trên ghe, gã tài công đã bỏ chạy về đất liền. Mấy bà chị của tôi bật khóc. Thôi, thế là mất hết hình ảnh kỷ niệm, cùng những món đồ quí mang theo. Không ai còn quần áo thay, trừ bộ đồ duy nhất mặc trên người. Tôi rờ túi, tiền mẹ cho vẫn còn. Những tờ giấy bạc làm được gì cho hoàn cảnh gia đình tôi lúc này? Một người đàn ông đầu hói mặc áo vest đen lang thang trên boong, bỗng ông ta ôm mặt khóc thảm thiết. Lúc này, người khóc người cười không còn đánh động sự tò mò chung quanh. Ông ta đi một mình, người ta xì xầm bàn tán. Nghe nói là ông chủ nhà băng, mang được nhiều tiền nhưng không mang được một người thân nào. Người đàn ông cầm cặp táp da, ngồi quị xuống. Ông ta loay hoay mở cặp. Cái nắp bật ra, những tờ giấy bạc văng tung toé, toàn giấy bạc mới tinh. Một cơn gió biển lướt ngang, những mảnh giấy bạc bay như bướm lượn. Ðám trẻ nít nhào tới vồ chộp những tờ giấy. Tiền của Việt Nam Cộng Hòa, giờ vô nghĩa như giấy lộn không mua đổi được gì. Một người thủy thủ Mỹ đi ngang, cúi nhặt một tờ bạc, chăm chú ngắm rồi đút vào túi quần. Ðể làm kỷ niệm. “Một ngàn năm nô lệ giặc tàu, một trăm năm đô hộ giặc tây… Hai mươi năm nội chiến từng ngày, gia tài của mẹ để lại cho con... Gia tài của mẹ, một nước Việt buồn..."


Ðêm 30/4/1975

Biển gầm sóng, chúng tôi nằm lăn lóc trong góc tối của chiến hạm. Tương lai về đâu. Ðất liền ở đâu. Những chòm sao đêm vẫn bình thản ngó. Tôi ứa nước mắt, nằm quay mặt vào trong vách. Cơn đau hành kinh của tuổi 13 đã xảy đến đúng cái ngày oan nghiệt. Không biết gọi điều nào là biến cố lớn trong đời tôi. Rồi cứ đến mỗi tháng, khi cơ thể trở mình theo chu kỳ con gái , tôi sẽ lại đau cái đau ngất ngư này. Cơn đau ngấm ngầm của một đổi thay, ùa vỡ. Tôi ghét tôi, tôi ghét thân phận mình trong một đất nước Việt nam đã sinh ra tôi, để phải tủi cực bỏ nó ra đi trong một ngày kinh hoàng nhất.

Tôi khóc vùi trong lòng mẹ. “Dạy cho con tiếng nói thật thà, dạy cho con chớ quên màu da, ôi nước Việt xưa...”



Viết cho tháng 4 đã 30 năm
Texas, 21 tháng 2, 2005



______________________________________________________________
p h ạ m c h i l a n


Image


12164



Image


c ă n .c ư ớ c .
............t h á n g .t ư
______________________________________________________________


Một

Cho đến ngày hôm nay, trên khắp nước Mỹ này, chỉ mình tôi biết hắn là ai. Dĩ nhiên là không kể các thành viên trong cái gia đình đầy nghi vấn của hắn.

Mười năm trước, một buổi chiều tháng tư bão sấm như thế này, tôi bồn chồn chờ đợi một người không phải là hắn. Lộ trình và lai lịch người đến đã được Hội Thiện Nguyện thông báo trước. Phái đoàn đón tiếp không được hùng hậu cho lắm vì hôm đó là ngày thứ hai. Tôi cố ý lảng xa ông Chủ Tịch Cộng Đồng dù rất kính trọng ông. Ông là gia trưởng một tập thể mà hầu hết là những người quen biết hoặc là cấp dưới ông thời chiến tranh. “Trời đất thế này mà Papa chịu khó quá! Không ai trong Ban Chấp Hành thế Papa một bận à? Có lẽ hết nhiệm kỳ này thì Papa cũng nên nghỉ ngơi thôi!” Một người nào đó hỏi. “Ậy, cái nhiệm vụ và nghĩa vụ mình nó buộc vậy. Còn chuyện nghỉ ngơi thì qua chưa tính. Bọn trẻ bên này lập trường còn non nớt lắm, chưa thay thế bọn mình được. Không khéo chúng lại đi chệch đường.”

Chỉ một loáng, mây kéo về đen kịt. Rõ ràng trời đất nước Mỹ đón tiếp hắn không thiện cảm. Mưa đá rơi thưa. Gió giật đung đưa những ngọn đèn cao áp. Trong phòng đợi, khách đi bứt rứt. Nhịn thuốc, tôi bực mình tìm một bar rượu. Bảng điện nhấp nháy những chuyến bay đến muộn, trong có chuyến của hắn . “Không phiền thì anh ngồi với chúng tôi!” “Chào, ... Vâng!” Kể ra thì cũng quen biết: thỉnh thoảng tôi có đến phòng mạch của người đàn ông. Tuy ông ta có vẻ tận tâm nhưng được cái không cần phải gọi lấy hẹn. “Cuối tuần, rảnh, mời anh buổi tôi ra mắt tập thơ đầu tay?” Người vợ, nghe nói là nữ sĩ. “Vâng, tôi không thích gin. Whisky khá hơn.” “Sao không thấy anh tham gia xướng họa?” “Vâng, hễ đầu xuân thì chứng allergy lại hành hạ tôi. Ô, tôi chỉ nghe nói thôi. Roma? Thật không dễ được bệ kiến Đức Giáo Hoàng!”

Cuối cùng thì máy bay cũng xuống. Từ trong hành lang hình ống, người ta tuôn ra, tay xách vai mang, nhão nhừ nhưng hớn hở sau chuyến bay xốc. Hắn khá khắc khổ trong bộ vest nhàu, chắc may hơi vội. Líu ríu theo hắn là người đàn bà mệt mỏi và hai đứa trẻ lơ ngơ. Hắn lúng túng trước cảnh đón tiếp vồ vập. Tôi còn ngóng một đỗi nữa: hắn không phải là người tôi đợi. Nhưng sự thật là vậy, gia đình hắn là những người cuối cùng rời máy bay. Không, sau gia đình hắn là những cô tiếp viên tẩm nước hoa hăng hắc mùi dùng trong nhà quàn. Ông Chủ Tịch Cộng Đồng bắt tay hắn và chúc mừng gia đình hắn “đã đến bến bờ tự do”. Hắn xưng tên, nói rõ cấp bậc và đơn vị phục vụ trong thời chiến. Mấy bận tôi định la toáng lên, hét to lên để mọi người nghe biết. Nhưng hình như có điều gì đó ngăn tôi lại.

Hắn lần lượt nắm tay từng người. Nói đúng ra là nhiều người đến bắt tay hắn. Người đàn bà theo sau hắn gật gật đầu và lí nhí nói cảm ơn. Tôi ngượng ngùng chìa tay cho hắn. Có điều gì đó không ổn khiến tôi ngầm nổi giận. Nhưng chắc mọi người chung quanh chỉ thấy ở tôi sự lạnh nhạt khó hiểu. Mặc, quan trọng nhất là điều thất vọng thảm hại trong tôi.

Tôi nghẹn cổ mấy lần mới nói được với hắn rằng đừng lo lắng chi cả, mọi điều cần thiết cho hắn đã được chuẩn bị chu đáo. Rằng chốc nữa đây, với tư cách là người bạn, tôi sẽ đưa hắn và gia đình về căn hộ trong apartment mà tôi đã mướn cho hắn từ tháng trước. Tôi bảo hắn vất bó hoa lúc nãy người thiếu nữ nào đó tặng, ôm mãi lố bịch lắm! Hắn ngoan ngoãn, không tỏ chút ngạc nhiên, lớ xớ ném bó hoa vào thùng xe. Hành lý gia đình hắn nhiều quá! Tôi nghĩ có lẽ hắn mang theo cả cơ nghiệp!


Hai

Và, cũng trên xứ Mỹ này, cho đến tận ngày hôm nay, chỉ mình tôi biết hắn không phải là ai. Ngay cả hắn, cùng lắm thì hắn cũng chỉ tưởng tượng ra được một chút xíu cảnh đời một người có thời là đối phương của hắn.

Tính ra đúng hai mươi năm, kể từ hôm chia tay người bạn thiết ấy trên bến tàu cho đến ngày lóng ngóng ở phi trường tưởng là để đón anh ấy. Thời gian. Nhưng tôi nghĩ anh đã chẳng thay đổi gì nhiều đến đỗi tôi lạ mặt. Và nếu tôi có nhắc đến cái chuyện bên mạn tàu khuya ấy thì, theo thói thường, chắc anh cũng chỉ nhếch môi. Rồi sau đó là một tràng cười u uất. Nhiều năm ở biển, tôi từng thấy biển sôi lạ lùng như thế.

“Chuyện nhanh quá!”
“Gió! Không có rượu!”
“Ừ, câu lạc bộ đóng cửa.”
“Gió! Thường thì giờ này con nhỏ đợi tao gọi. Đường dây bị cắt buổi sáng.”
“Nhảm! Đồ chó đẻ! ”
“Muộn quá! Gió. Lá thư này ra biển tao sẽ gửi.”

Trên kệ sách một căn nhà khu cư xá, chúng tôi tìm được nửa chai whisky. Chủ nhân đã biến đi đâu vội vã. Những cánh cửa tủ mở toang. Từ những tuần trước, khu cư xá thưa dần. Chẳng ai thắc mắc về những người vừa vắng mặt. Ai mà không có thân nhân để thu xếp? Anh đá chiếc nón sắt lăn lông lốc xuống hố nước. Nhiều hố nước do tràng pháo rót vào căn cứ biển đêm qua. Mấy vỏ đạn đồng vương vãi trên đám cỏ khô, hắt lấp lóe ánh đèn từ bến tàu. Người lính gác loe đốm thuốc trên chòi canh.

“Mẹ! Chắc nó không còn chỗ để về.”
“Nhưng mày đi chứ? Đi! Không ở lại được đâu!”
“Nhảm! Chắc ông già tao tối nay lại ngủ ở nhiệm sở. Công chức thâm niên. Gương mẫu. Tao theo ông già xuống tàu di cư lúc năm sáu tuổi gì đó. Nhảm!”
“Gió! Ừ, nhảm thật! Cứ trời trở lạnh là mấy mảnh pháo li ti trên đầu tao lại cục cựa. Nhảm thật chứ!”
“Cũng thời gian ở tàu sông, tao biết thế nào là cảm giác của một con mồi bị rình rập thường xuyên. Mẹ, không gì nhảm cho bằng trên tàu chiến nhung nhúc đàn bà con nít.”
“Ăn tí gì chứ?”
“Ừ, tao khoái đồ hộp với nhạc phản thùng.”
“Gió! Đi chứ?”
“Mẹ, hai đứa có nửa chai! Không đủ để tao bắn vào đầu.”

Một vài tiếng súng lẻ loi từ vòng rào tiền đồn. Lạ, mọi sự đều thầm thì. Cả tiếng súng. Mọi người đều rụt rè. Ai cũng dè chừng. Hình như người ta sợ đánh động cơn mộng du của nhau. Những chiếc tàu nằm bến chỉ thắp đèn mũi và lái. Gió còn từ hướng biển. Chốc chốc một hải đĩnh lại nổ máy rời bến. Không xa, qua một đỗi sông, một con lạch giữa hai bờ cát ngầm thôi. Biển.

“Cứ đi, tất phải tới một nơi nào đó!”
“Để cây đàn lại! Không thể mang theo một thanh âm.”
“Nhưng phải mang theo một cái gì chứ?”
“Mày không được đàn anh huấn nhục cẩn thận! Đừng giở trò hốt theo nắm đất. Không ai rõ mày bằng tao. Nước biển thì múc ở đâu cũng vậy.”
“Thôi, không thể muộn!”
“Nhảm! Thằng chó nào bắn hỏa châu thế hả!”

Thỉnh thoảng cánh cửa sắt nặng nề mạn tàu hé ra một loáng ánh sáng bệnh viện rồi đóng sập lại. Một người thủy thủ xớ rớ sau cầu tàu. Ai cũng bận nhìn bản thân mình. Tôi nắm tay để kéo bạn lên. Người anh nặng chình chịch. Anh cũng nắm tay tôi. Lắc lắc, rồi buông ra. Tôi hốt hoảng.
“Lên! Khùng!”
“Chỉ cần mày nghĩ rằng sẽ không ai gắn cho mày Hải dũng Bội tinh!”
“Lên! Đừng có mà điên! Tụi nó sẽ bắn vỡ đầu mày!”
“Xem chừng bay cái áo gió! Tao không thể giúp gì cho mày nữa rồi.”
“Điên! Tụi nó sẽ cắt cổ lột da mày!’
“Đàng nào thì cũng xong. Sòng phẳng. Tao chơi sòng phẳng. Còn mày, biết mày có công bằng với đứa em gái tao?”

Anh cúi xuống tháo sợi dây thừng cột phía mũi. Đầu sợi dây rơi xuống mặt nước đen. Không một âm vọng.


Ba

“Tôi biết anh không phải là người trong hồ sơ. Ngoại trừ hình và dấu tay!”
“Tôi không hiểu. “

Mặt hắn trắng bệch. Người đàn bà líu quíu đánh rơi ly nước ngọt. Hai đứa trẻ lấm lét. Phản ứng của người đàn bà và hai đứa bé khiến tôi nhận ra mình thô bỉ. Điều đó khiến tôi căm ghét hắn thậm tệ.

“Anh phải hiểu! Anh ấy bây giờ thế nào?”
“Anh hỏi ai? Không nên làm vợ con tôi sợ.”
“Đừng lo, tôi không làm việc cho FBI, không là nhân viên Sở Di Trú. Hãy cho tôi biết người anh mạo danh ấy bây giờ ra sao.”

Cặp mắt hắn cho tôi biết tôi là một thứ Thần Chết và cũng có thể là một Thiên thần Hộ mạng. Người đàn bà và hai đứa bé đã lui vội vào trong. Buổi chiều chui qua cửa kính, rót xuống gương mặt khốn nạn của hắn những đốm vàng.
“Nhưng tại sao. “
“Anh ấy là bạn chiến đấu của tôi. Bạn thiết! Anh tưởng tôi chuẩn bị mọi chuyện chu đáo để đón tiếp bản mặt anh đấy à? Anh ấy bây giờ ra sao?”
‘Tôi không biết chi cả. Người ta bảo tôi yên tâm vì người đàn ông đó đã chết trong trại.”

Bất chợt hắn ôm mặt khóc rưng rức. Hình như phía phòng trong, mấy đứa bé xô ngã vật gì đó. Hoặc người đàn bà lại vừa đánh vỡ vật gì đó. Tôi đóng sầm cánh cửa sau lưng. Tôi cảm thấy tức ngực, khó thở. Công ty bảo hiểm đã trả không ít tiền cho các bác sĩ để tôi có được những lời khuyên giống hệt nhau.


Bốn

Có những tối tôi nằm ngủ lơ mơ trên bãi cát. Con chim đêm nào kêu hãi hùng trong một hốc đá. Sao lấm chấm trên những nhánh cây xương xẩu nhô trên ghềnh. Người thủy thủ và cánh buồm trắng băng qua Ngân hà. Giấc mơ chinh phục những điều không thể. Triều lên. Giấc mơ sụp đổ với tiếng nước xô lạnh gan bàn chân.

“Con bé, tao tưởng chỉ khá ngu. Đến lúc phải lòng mày thì tao biết nó ngu đậm!”
“Tao chỉ muốn đi xa. Tao không cần đi đến. Tao là một tên hải tặc hiền lành.”
“Con bé hay ngồi thờ thẫn trên gác riêng. Nó bảo với mẹ tao là nó nhìn gió. Nó muốn là gió.”
“Con gái đứa nào mà chẳng muốn làm gió.”
“Nó muốn là gió.”
“Con gái đứa nào mà chẳng là gió.”

Đôi khi tôi cố sắp đặt lớp lang những giấc mơ. Tôi cắt biển thành những mảnh nhỏ, xáo trộn chúng lộn xộn rồi cố gắng xếp chúng lại vị trí cũ. Thuở nhỏ tôi từng tham dự những trò chơi ráp hình như thế. Và lần nào cũng chịu thua. Tôi không biết đặt những đứa con gái tử tế vào chỗ nào cho khớp. Tôi hoài nghi về sự có mặt của những đứa con gái tử tế.

“Nhảm! Con bé ngu thật. Chỉ có mẹ tao là hiểu nó. Trước, bà là một cô đầu nổi tiếng. Một trong những cô đầu của thế hệ lụi tàn. Có lẽ vì thế mà bà ở lại với bố tao.”
“Chịu! Tao không chơi được trò ráp hình.”


Năm

“Nhưng các anh tìm, không, anh mua hồ sơ này từ đâu? Ít ra anh cũng gặp ai đó trong gia đình anh ta phải không? Giả như em gái anh ta chẳng hạn!”
“Chính vợ chồng cô ấy thỏa thuận giá cả với chúng tôi. Cô ấy cần qua cơn ngặt và tôi thì cần thoát khỏi nước.”

Hắn ngồi bất động, cam chịu. Hắn không thể già hơn được nữa. Người đàn bà ngồi xuống bên hắn, đúng là một thây trôi vừa được vớt lên từ biển. Tôi bất nhẫn và thoáng bực bội vì lòng thương hại đó.

“Tại sao anh lại cần ra đi?”
“Tôi vượt Trường Sơn trong chiến tranh. Phục viên, tôi ngớ ngẩn dính vào một vụ lem nhem công quỹ. Tôi là con vật tế thần trong cái bộ lạc sơ khai đó. Họ đồng ý dàn xếp cho tôi mất tích. Rồi trút hết mọi chuyện lên đầu tôi. Thế là xong. Tôi không muốn biến mất cách khác!”
“Vì sao họ không xài cách khác đó? Nhân đạo chăng?”
“Không thể được. Một cái chết sẽ nói được nhiều điều. Người chết còn có thể nói. Kẻ phản bội thì không.”
“Lạ lùng là tôi và anh lại gặp nhau nơi này. Trong một tình huống như thế này. Hồi ấy. Bên này. Bên kia. Không cách nào khác.”
“Thật, không khác được. Anh có riêng một lý do nào không?”
“Tôi đi theo những ngọn sóng. Tôi đi theo những nhánh rong trôi. Tôi đi theo gió.”

Tôi ngạc nhiên vì thái độ từ bỏ ưu thế của mình.


Sáu

Tháng tư ngột ngạt gió lào. Những thành phố tháng tư trũng nét âu lo thì cũng phơi phới buông thả. Phía sau những phòng tuyến mới là những người tử thủ và những kẻ đào ngũ. Người ta có thể lang chạ thân xác mà vẫn đoan chính trong những bài thơ. Đó là điều kỳ diệu của tư tưởng. Chúng tôi uống rượu với phần lương khô đi biển.

“Tao không chịu được thành phố. Mẹ, cứ như một trại giam.”
“Thuở nhỏ có nhiều ngày tao đuổi theo những con còng trên bãi. Buổi chiều lựa cá trên những thuyền về. Tao tự hỏi tại sao những chiếc thuyền kia lại phải trở về. Tao không thích thế. Lúc nào tao cũng muốn đi xa. Thật xa. Không trở lại. Không cần biết đi đâu.”
“Tao vẫn nghĩ mày còn có thể làm một việc gì đó khá hơn là làm thơ. Tao, tao chỉ muốn rời thành phố ấy. Nhưng tao không đi xa được. Tao muốn thỉnh thoảng trở về. Đôi khi, vừa quay lưng đi tao lại muốn quay về.”
“Gió. Tao nhớ mùi biển.”

Thỉnh thoảng vài viên đạn pháo từ miệt rừng ngập mặn rót vào căn cứ biển. Những con tàu xuôi nam, ghé đôi ngày, nhổ neo và không thấy quay lại. Từ rất xa xưa, những câu chuyện truyền kỳ sống động trước hết được loan truyền từ những người thủy thủ trầm tư trong tửu quán.

“Người ta sống với điều quái đản này và chết vì một điều kỳ cục khác. Mọi việc hình như chẳng có gì liên hệ nhau.”
“Tao không chơi trọn được trò ráp hình.”
“Nhưng mày, trước hết, phải tự xếp mình ở vị trí nào đó chứ?”
“Tao luôn luôn nằm trong số những mảnh thừa còn lại.”


Bảy

Tháng tư cỏ cây vỡ bùng nhựa sống và tôi bắt đầu lao đao vì chứng dị ứng phấn hoa. Hắn thì vô sự. Phải vài năm nữa kia, hắn mới thấm đòn. Thường thì bao giờ đất cũng dành cho người mới một thời gian yên ả.

“Tôi đi theo chủ nghĩa. Chúng tôi được chỉ ra một mục tiêu, một hướng đến. Chúng tôi không có sự chọn lựa. Và không có nhu cầu chọn lựa. Anh cần đi xa, tôi cần đi đến. Mục tiêu anh là chân trời. Mục tiêu tôi là hải đảo. Anh cần đi xa, tôi cần đi đến.”
“Tôi vốn ngây thơ với những điều anh vừa nói.”
“Chúng tôi thèm được như các anh. Bây giờ chúng tôi khao khát được ngây thơ. Chúng tôi không có gì đáng giá để đổi lại sự trong trắng mà các anh đã có. Vả, không thể được. Chúng tôi bị cưỡng hiếp lúc còn thơ.”
“Vậy là. các anh đã đến?”
“Các anh là thi sĩ. Chúng tôi là chiến sĩ. Các anh đổ máu để làm thơ. Để cho. Chúng tôi đổ máu để giành giật. Để chiếm. Dân tộc ta phải là một dân tộc vĩ đại, nếu. Nếu các anh chỉ làm thơ. Và chúng tôi chỉ cầm súng. Thật quái quỷ, tôi không hiểu nổi các anh!”
‘Tôi không thể nói thay người khác. Tôi không muốn bị mắng. Nhiều đêm tôi vẫn mơ thấy những cánh buồm và bờ đảo xa. Tôi đi hoài không bao giờ tới. Tôi đi về phía chân trời.”
“Vậy mà các anh bị buộc phải cầm súng, trong khi chúng tôi bị buộc phải làm thơ. Chúng tôi sở hữu thân xác đàn bà. Nhưng các anh cầm giữ trái tim họ.”

Thật kinh hãi nếu đây là lời tự thú nghiêm chỉnh của hắn.

“Tôi đi theo gió.”
“Cái lãng mạn quả nhiên không giúp các anh chiến thắng. Nhưng chúng làm các anh khuây khỏa.”


Tám

Tôi ghét tháng tư. Ở đó mùa này mặt biển chỉ gợn nhăn nhưng ở đây một trận mưa đá tình cờ hủy diệt tất cả những bông hoa đang độ mãn khai. Tôi chán bản mặt của hắn và quyết định gọi hắn một lần.

“Anh có thể giúp tôi việc này không?” Tôi hỏi và biết chắc chắn rằng mình sẽ được thỏa mãn.
“Sẵn sàng! Anh thừa biết điều ấy!” Suốt tuần, chưa bao giờ tôi nghe giọng hắn sôi nổi như thế.
“Không có gì khó khăn đâu. Anh hãy đi đến một nơi nào khác mà sống!”
“Thực ra thì tôi đã có nghĩ đến điều đó và đã có chuẩn bị.”
“Một nơi nào đó không ai biết. Và đừng cho tôi biết.”
“Tôi sẽ không làm phiền anh.”
” Xóa hẳn trong đầu cái lý lịch của anh ấy đi. Cái lý lịch mà có lẽ anh đã đọc làu làu trước nhân viên phỏng vấn Sở Di trú. Trả lại cho anh ấy cái của anh ấy. Dù bây giờ anh ấy không còn cần đến nó. Dù người thủy thủ ấy đã đi xa, đến một nơi không ai cần lý lịch. Một ngày nào đó anh sẽ thay tên đổi họ. Vậy là xong.”

Tôi cảm thấy bằng lòng với tôi. Hắn đã ăn cắp của tôi một tuần lễ. Tôi không có đức tính của một người làm việc thiện nguyện. Tôi đã chạy trốn cái buồn chán sướt mướt này để ôm đồm cái bực bội dấm dẳng khác. Đã đủ!
“Anh thật sự bỏ qua cho tôi chứ?”
“Những nhân vật của tôi không bao giờ có tên. Tôi không chơi được trò ráp hình. Lúc nào tôi cũng có thừa hoặc thiếu vài mảnh.”
“Cám ơn. Anh còn nói gì với tôi nữa không?”
“Hãy nghĩ như tôi và anh chưa hề gặp mặt. Tôi không nhớ những gì anh nói đâu. Còn anh, hãy quên lời tôi đi. Chuyện nhảm ấy mà!”



______________________________________________________________
n g u y ê n n h i


12165 top -
N G Ư Ợ C / X U Ô I / N G À Y T H Á N G C Ó N H A U
1, 2, 3, 4
_______________________________________________
Lệ Đá - thơ - Nguyễn Tư Phương _______________________________________________

Image

trong hơi thở
đá nằm
nghe lạnh quá
hồn phong linh
quạnh quẽ
tiếng rung buồn.

xem tiếp...

_______________________________________________
Cũng Cùng Là Mẹ - văn - Hoài Yên _______________________________________________

Image

Con người sinh ra ai cũng muốn có cái quyền nói lên tiếng nói của chính mình. Tại sao một đứa bé vừa rời lòng mẹ lại khóc oe oe? Tại sao không cần chỉ hít vào lồng ngực một luồng không khí là buồng phổi tự động nở ra mà phải khóc thét lên một tiếng? Phải chăng tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh ấy cũng như một tiếng nói của riêng nó hầu nhấn mạnh sự có mặt của nó trên cuộc đời này.

xem tiếp...

_______________________________________________
Lời Cầm Sương Tôi - nhạc - Nguyễn Tiến Dũng _______________________________________________

Image

buông tay
ngây ngất dịu dàng
buông hồ cầm bặt âm vang
buông thanh âm
thơ ngát không gian
khép mặt giã từ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Hsinbyume - tranh - Đỗ Danh Đôn _______________________________________________

Image



xem tiếp...