THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP



bên lề đời



Image


h ậ p .h ộ i .c h ư a .p h ả i .l à .c h ệ t
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m


Tôi cầm bức điện tín trên tay, tần ngần một chút rồi quyết định đưa cho Buì, y có cái dáng dấp cuả thằng Vọi trong “Trống Mái” cuả Khái Hưng– to cao, điển trai, vai u thịt bắp. Có một lần y đã biễu diễn sức mạnh dành vác cái máy NRC nặng hơn 80kg dùng bấm fiches sổ tiết kiệm cuả Việt Nam Thương Tín chở từ trụ sở 79 Hàm Nghi xuống bổ sung cho chi nhánh từ dưới nhà xe lên lâù 2. Mấy cô nhân viên chạy theo coi, ré lên tán thưởng bắp thịt tay, chân cuả hắn run run giao động dưới sức nặng cuả cái maý khi hắn cố nhấc từng bước chân lên cầu thang. Bọn đàn ông con trai thì trố mắt nhìn, có người lắc đầu vì vô phúc mà y tuột tay hay cơ bắp bị duỗi ra dưới sức nặng đó thì cái maý trị giá mấy ngàn đô la Mỹ sẽ rơi xuống bể nát và không chừng chân y cũng chẳng còn. Nhưng cuối cùng y cũng đã thành công mang được cái máy lên đến nơi. Ba tên đoàn viên thanh niên đã chực sẳn ghé vai dơ tay bíu cái máy, giúp y đặt nó xuống cái bàn sắt. Thu, cô gái Sóc Trăng nhân viên ngân hàng chế độ cũ được cách mạng ‘lưu dung’, là người chiêm ngưỡng y nhiều nhất; cô vổ tay đôm đốp, xuýt xoa: “Chèng ơn, tui nhớ cái máy naỳ phaỉ bốn người khiêng mà ảnh vác có mình ênh. Anh Buì ơi là anh Buì, anh bộ đội đẹp trai...” Mấy cô nhân viên cũ được ‘lưu dung’ len lén nhìn nhau cười mỉm, lắc đầu. Ai cũng biết chuyện giưả cô Thu và tên Buì dù y đã có vợ ở ngoài Nghệ An. Ngoaì cái khả năng khuân vác đáng nể đó thì ngay cả đám đàn bà con gái “tăng viện” từ ngoaì Bắc vào cũng kháo nhau là trí óc cuả chàng nông dân naỳ tỉ lệ nghịch với sức mạnh cuả y. Nhưng y là “thủ trưởng” cuả tôi, tôi phaỉ trình bức điện tín cho y. Vốn sẳn ác cảm với tôi, Buì đọc xong bức điện tín thì quẳng nó lên bàn trở lại phía tôi rồi la toáng lên ngay giưả phòng làm việc: “Cại ni thì ôn bạo cạo cho anh Cạt, làm răng mà cọ chệ độ cho đi; thiệt giạ làm răng mà biệt!” Moị người quay lại nhìn tôi dò hoỉ, họ không biết có chuyện gì. Ông Cổn, bí thư chi bộ, người khá có cảm tình với tôi ngồi bàn bên cạnh chià tay ra bảo: “Chi rựa? cầu đưa mình xem.” Tôi đưa bức điện tín cho ông ta. Đọc qua, ông ấy có vẻ thông cảm, ôn tồn nói: “Cầu đưa cho anh Cạt, anh ậy lo về chuyên môn, ỵ kiện anh ậy thệ naò thì lên bạo cho mình biệt.” Buì nghểnh mặt ra cưả sổ, không thèm nhìn tôi và Cổn, giọng khinh khỉnh: “Trong nam ni nhân viên khôn biệt chi là chệ độ, tộ chực ra sao cạ, tệ rựa...”

Cát là Phó Gíam Đốc chi nhánh. Hắn cũng là gốc người liên khu tư – Thanh Nghệ Tỉnh. Hắn được ‘bố trí’ cái phòng riêng cuả phó giám đốc ngân hàng Nông Thôn thuộc chế độ cũ. Bổng chốc từ cái trụ sở chi điếm ngân hàng cấp huyện ngoaì Nghệ An - nền đất, mái tôn – chỉ mấy hôm sau đã được bổ nhiệm “tăng viện” cho Miền Nam; chểm chệ trên chiếc ghế xoay bằng da cuả Nhật bên một bàn làm việc lớn bằng gổ đánh vẹc ni nâu, lót kính sáng ngời nên hắn suốt ngaỳ loay hoay với đồ đạc và mấy cái ngăn kéo cùng đồ baì trí trong phòng. Hắn lé một mắt, khi nhìn thì nghiêng nghiêng cái đầu, miệng trể xuống có vẻ vưà mếu, vưà cười. Giao, nhân viên hành chánh của chi nhánh ngân hàng Nông Thôn cũ được lưu dung kể lại với bọn tôi chừng một tuần trước đó rằng Cát rủ Giao leo lên chiếc xe La Dalat tịch thu cuả Ngụy lái xuống Ngã Tư Bảy Hiền mua một tủ hồ sơ: “Tui với ổng đi dạo loanh quanh, tui chỉ cho ổng mấy cái tủ hồ sơ bằng sắt có ngăn kéo, cái to, cái nhỏ, cái màu xám, cái maù xanh, cái naò ổng cũng lắc đầu chê. Ổng cứ bám vô mấy chổ người ta trưng baỳ tủ quần áo bằng gổ, phọc mi ca, có kiếng. Tui noí với ổng là không được, ổng hoỉ: ‘Tại làm răng mà khôn được?’ cực chẳng đã tui phaỉ noí đó là mấy cái tủ đựng quần áo trong phòng ngủ. Ổng rảo tới rảo lui rả cẳng rồi chỉ vô một cái tủ nhỏ có kiếng soi và noí với tui: ‘Cại tụ ni chụng nọ đựng gì tau không biệt, nhưng nọ đẹp và vưà cại phòng cuạ tau, mi cự mua nọ cho tau!’ Tui không dám cười cũng cố gắng lắm để khoỉ khóc, noí với ổng là: ‘Không được đâu anh ơi, cái tủ naỳ là cái bàn phấn cuả đàn bà.’ Ổng cáu quá gắt toáng lên: ‘Phức tạp, phức tạp, tụ chi cụng là tụ, đựng cại chi mà khôn được? Tau thịch nọ, mi cự mua cho tau!’“ Cát vui sướng với cái tủ mới chưa được bao lâu thì mấy ngaỳ sau có vaì “đồng chí” bên quận uỷ qua làm việc, thấy cái bàn phấn sau lưng Cát họ phê bình sao đó mà nó được Cát chuyển lên phòng ngủ cuả chị em phụ nữ. Cô Bích Ngọc, một nhân viên nữ được cách mạng lưu dung kể lại những chị em cán bộ A –tức gốc ngoaì Bắc- được một phen tranh nhau ngồi trước cái “tủ” naỳ ngắm mình trong gương rồi cười ré lên. Thuở đó tôi cũng không biết tại sao cán bộ gốc Bắc hay noí oang oang, và cười ré lên. Mấy năm sau Nguyên, người anh họ bên vợ du học Liên Xô về, bố cuả hắn ta là cựu vụ trưởng vụ nghiên cứu “lịch sử đảng”, giải thích rằng đó là thoí quen cuả cán bộ công nhân ngoaì Bắc họ phaỉ tập noí cho to để ai cũng nghe được một cách công khai minh bạch, noí nhỏ chỉ vưà cho người đối diện nghe sẽ dễ bị nghi ngờ là có tư tưởng mờ ám, có âm mưu phản động chi đó. Còn cười ré lên là một cách baỳ tỏ cho công chúng và “tổ chức” thấy rằng mình đang hạnh phúc, vô tư, không mất lập trường, không buồn phiền, chống đối...Noí chung là để được yên thân.

Tôi đến cưả phòng cuả Cát thì hắn ta đang loay hoay với cái tủ hồ sơ bằng sắt có ngăn kéo. Tôi gỏ cưả nhè nhẹ; hắn không dừng tay, cũng không quay lại mà noí to lên: “Cọ chi rựa?” Tôi noí: “Anh Buì và anh Cổn bảo tôi gặp anh để báo cáo việc naỳ.” Cát quay lại, tôi đưa bức điện tín cho Cát, hắn chià tay cầm lấy, lôi cặp kính trong tuí áo trên ra đeo lên rồi nhướng mắt nhẩm đọc. Đọc xong Cát ngồi xuống ghế, đôi môi trễ xuống không biết đang cười hay mếu, mắt nhướng lên sau cặp kính nhìn tôi: “Cầu nghe choa nọi cho rọ nì vì choa thông cạm đặc điệm tình hình dân trong Nam chưa biệt chệ độ là gì. Thoạt ly cạch mạng là phại bọ chuyện nhà. Choa thoạt ly từ năm 15 tuội, đển 22 tuội cách mạng đồng ý cho cượi vợ cụng làm ợ cơ quan, khôn được về nhà. Điện tịn ni nọi rọ là ‘hập hội’ mà ‘hập hội’ là chưa chệt. Cách mạng chị cọ chệ độ nghị phẹp khi cha mẹ chệt, chứ không có chệ độ nghị phẹp khi cha mẹ ‘hập hội’.” Noí xong hắn quăng bức điện tín lại cho tôi, trong đó mẹ tôi chỉ ghi có có sáu chử “Cha hấp hối, con về gấp”. Tôi noí: “Tôi không biết chế độ ra sao nhưng trong Nam chúng tôi nói HẤP HỐI thì có nghiã là trước sau gì cũng chết. Cha tôi sắp chết cần gặp tôi, đợi khi ổng chết rồi thì tôi về còn ý nghiã gì nưã...” Cát khoát tay bảo tôi lui ra, miệng hắn trể xuống khinh bỉ.

Tôi cầm tờ điện tín trong tay, quay trở lại lầu hai. Buì có ý đợi, vưà thấy tôi y hoỉ to lên: “Răng? Cạt nọi răng?” Tôi chưa vội trả lời, quay về chổ bàn làm -việc ngồi chung với tổ công tác rồi noí vọng với ông Cổn: “Ông Cát bảo với tôi rằng ‘cha hấp hối’ là chưa chết, không có chế độ cho nghỉ phép khi cha mẹ hấp hối, chỉ có chế độ nghỉ phép khi cha mẹ chết.” Buì la to lên: “Thì tau đạ nọi rồi mà mi khôn nghe, làm răng mà cọ chệ độ ‘hập hội’...” Lúc đó tất cả moị người có mặt trong phòng mới biết nội dung bức điện tín tôi nhận được một giờ trước đó, mấy cô gái nhạy cảm nhứt bu lại chổ tôi ngồi, người naò cũng baỳ tỏ sự ngạc nhiên, rồi ái ngai: “Vậy là ba cuả anh bịnh nặng lắm sao?”, “Ôi vậy là bác đang hấp hối ở nhà sao?”, “Sao anh có tính về không?” Ông Cổn nhìn tôi, gật đầu nhè nhẹ rồi rời chổ đi xuống tầng dưới. Tôi biết là ông ta xuống gặp Cát.

Một lát sau ông Cổn đi lên, mặt tươi cười tay cầm mảnh giấy đưa cho tôi: “Mình biết là cậu sẽ bỏ về thôi, nhưng không có giấy cơ quan cậu không mua được vé xe đâu. Đây, mình noí với Cát viết giấy phép cho cậu về.” Cầm tờ giấy phép ba ngaỳ lòng lạnh lùng chai đá cuả tôi kể từ cái ngày tháng Tư ấy bổng dưng xúc động. Tôi thấy loáng thoáng trong con người cuả ông Cổn hình bóng người anh cuả tôi đang ở ngoaì Bắc. Anh thuộc những người Bắc đầu tiên vaò Nam thăm gia đình sau gần 25 năm không gặp. Anh và tôi đã nằm noí chuyện suốt một đêm không ngủ trên chiếc giường cuả tôi trong căn phòng ở Đà Lạt. Anh thú thật là trong cái ba lô mang từ ngoaì Bắc vaò có hai chục cái chén sành, khi vaò đến nơi, ăn bưả cơm đầu tiên với gia đình nhìn chén bát, ly tách cuả mẹ tôi trong nhà anh không dám lôi chúng ra; anh cứ tưởng dưới chế độ kềm kẹp bóc lột tàn khốc cuả Mỹ-Ngụy chúng tôi không có bát ăn cơm như những gì người ta noí ra rả trên báo chí, đài phát thanh Hà Nội và các loa phường...Tôi cảm nhận trong tâm tư cuả ông Cổn có sự tử tế pha trộn với sự hổ thẹn như cuả anh. Suốt hơn 15 năm sau đó tôi và ông Cổn vẫn có duyên gặp nhau và giưả hai chúng tôi vẫn giử được mối giao tiếp tử tế cho tới ngaỳ ông ấy mất vì ung thư tuyến tiền liệt cũng giống như anh.

Tôi về đến nhà thì cha tôi đã nửa tỉnh, nửa mê. Mẹ tôi và chị tôi đang toan tính những gì cần phaỉ làm để chôn cất. Chuyện giấy tờ, xin chính quyền mới một chổ trong nghiã đia trên số 4 sẽ không khó khăn gì với ông già gần tám mươi tuổi; nhưng đến bưả cơm thì tôi biết nan giải nhất là cái hòm. Hôm từ trên chiếc xe than cuả HTX vận tải bước xuống bến xe cạnh bờ hồ Xuân Hương để đi bộ về nhà, khi lên dốc chợ Hoà Bình tôi hơi ngạc nhiên vì xa xa trên dốc đi xuống là một đàn con nít mà thoạt trông tôi cứ tưởng là những đồng baò Thượng tôi vẫn gặp cách đó mười mấy năm - một màu đen xám; những cái đầu gối rách bươm nhấp nha, nhấp nháy theo bước chân cuả chúng như những con mắt - nhắm, mở; nhắm, mở. Khi chúng đi xuống đến gần sát tôi mới thấy cách ăn mặc cuả đa số trong bọn chúng lẫn lộn những áo len củ kỹ, chắp vá bởi vải cuả màn cưả, cuả bất cứ thứ gì có thể tưởng tượng được; quần thì vá hoặc may bằng bao cát Mỹ mà trước đây quân đội dùng xây lô cốt. Trên lưng đưá naò cũng có cái guì đựng hạt dẻ, vaì giò lan, hoặc cuỉ khô; có đưá đang kéo lê một nhánh củi lớn, lệt xệch dưới đất. Khi chúng đi ngang qua tôi rồi về cuối dốc, ngoái nhìn lại tôi cũng thấy những con mắt nhấp nha, nhấp nháy nhưng lần naỳ thì ở trên những cái mông cũng rách bươm khi chúng lê lết trong rừng. Chẳng lẽ chỉ hơn một năm mà Đà Lạt đã về đến cội nguồn bộ lạc như vậy sao? Tôi thầm nghĩ người sống đã như thế, người chết hẳn phải tệ hơn.

Sau khi ăn hết một tô su su luộc thì xong bưã tối; tôi móc trong tuí ra cái đồng hồ Seiko “hai cưả sổ, có người lái” đưa cho chị tôi: “Chị bán cái naỳ đi mua cho cậu cái hòm.” Chị tôi noí: “Quý hoá quá, chị sẽ xin mua mấy tấm ván thông hợp tác xã họ tuồn lậu ra bán. Ông Nguyễn Đình Thưà hưá sẽ đóng giùm cái hòm.” Mẹ tôi noí: “Làm sao khiêng mấy tấm ván đó về được?” Chị tôi noí: “Mợ kêu chồng con Khôi, nó có cái xe ngưạ, hôm qua mẹ nó mới đến thăm cậu rồi noí có cần gì thì kêu nó.” Tôi hoỉ: “Không có xe lam hay sao?” Mẹ tôi cười xuỳ một tiếng, chị tôi chậc lưỡi: “Mấy hôm nay em có thấy cái xe lam naò không? Làm gì có xăng? Thằng chồng con Khôi kiếm được khối tiền nhờ nó giử được con ngưạ kéo xe cho cái ‘ba toa’ hồi trước.”

Đêm hôm đó cha tôi tỉnh lại; tôi nắm lấy tay; mẹ tôi khẻ noí sát tai ông: “Con trai về, thằng Tâm, ông có nhận ra không?” Tôi ghé sát mặt ông: “Con đây cậu.” Ông hé mở mắt một chút, môi động đậy. Mẹ tôi gặng hỏi: “Ông có nhận ra con không?” Tôi gật đầu thay ông: “Có đó mợ, cậu có siết nhẹ tay con.” Loáng thoáng tôi thấy bà đưa tay lên quẹt mắt. Hôm sau cha tôi vẫn chưa đi, nhưng đã đến lúc tôi phaỉ ra đi; lời cuả ông Cát văng vẳng bên tai: “Hập hội chưa phại là chệt!” Mẹ tôi noí với tôi: “Thôi con về gặp cậu như vậy là mãn nguyện rồi, khi cậu đi con không cần phaỉ về nưã, mợ sẽ báo tin sau.” Tôi noí: “Mợ viết thơ, đừng đánh điện tín nưã tốn tiền.” Chị tôi noí: “Em đi thì chỉ một vaì hôm là cậu đi thôi, không còn bao lâu đâu.”
Tôi ra bến xe HTX vận taỉ lúc 2 giờ sáng để sắp hàng mua vé. Gần nưã đêm tôi mới đến chi nhánh công tác dù con đường không quá 320km. Sáng hôm đó moi người xúm lại thăm hoỉ. Tôi noí cha tôi đã mất rồi, và biết rằng noí vậy tôi đã tước mất cuả Buì, và nhất là cuả Cát, một chiến thắng: ‘Hập hội chưa phại là chệt.”

Gần một tháng sau tôi nhận được thơ từ nhà. Thơ báo rằng cha tôi mất hai hôm sau ngaỳ tôi đi. Trong thơ có một tấm hình do anh Hải, người thợ hình dạo từng thuê nhà cuả chị tôi, chụp tặng gia đình làm kỷ niệm. Anh bây giờ là hội viên hợp tác xã nhiếp ảnh du lịch Đà Lạt, mua được phim và giấy hình theo giá nhà nước. Tôi vô tình đưa tấm hình cho Bích Ngọc xem trong lúc cô Thu cũng ngồi gần đó. Một lúc sau tên Buì xuất hiện, hắn đứng trước bàn tổ công tác cuả bọn tôi, noí to như ra lệnh: “Nghe nọi cọ hình đạm ma cha cuạ cậu, đưa mình xem chụt được khôn?” Tôi lục ngăn kéo lấy tấm hình đưa cho Buì. Mọi người nhìn chúng tôi có vẻ “khẩn trương”. Buì xem rất kỹ, xong y nhếch miệng cười cười rồi noí to như thể Archimedes rống lên: “Eureka, eureka!” khi nhaỷ ra khoỉ cái bồn tắm: “Hình đạm ma cha cuạ cậu sao không thậy cậu trong đọ¬¬???” Tôi không dự phòng “sự cố” như vậy. Moị con mắt dồn về phiá tôi; bổng một tia sáng thoáng qua trong đầu cùng cảm giác cái xiết tay nhè nhẹ cuả cha tôi tối hôm đó giúp tôi chậm rải trả lời: “Tôi là người cầm cái máy hình, làm sao có tôi ở trong hình được, phaỉ có ai cầm máy hình chớ!” Một lần nưã tôi biết Buì bị tước mất một chiến thắng khác.

Năm đó, khi bình bầu “sơ kết” sáu tháng đầu năm tôi “được” đoàn thanh niên điều đi lao động trồng luá ở Củ Chi nên không tham dự được. Mấy hôm sau về lại “cơ quan” thì được cô Bảnh, người con gái sinh trưởng ở Hốc Môn, nhân viên ‘lưu dung’ từ ngân hàng Nông Thôn thuật lại khi đến lượt “tổ chức” góp ý phê bình tôi thì Buì bảo viết vô biên bản rằng: “Đ/C Tâm là người thâm trầm, khó hiểu.” Noí xong Bảnh cười híp đôi mắt lá răm: “Tuị tui noí dí nhau là anh đâu có gì thâm trầm, anh noí dóc nghe cười muốn chít, anh cũng có gì khó hiểu đâu...” Tôi noí với Bảnh: “Cô Bảnh không biết đó thôi, noí như vậy là Buì cố tình báo cho ‘tổ chức’ theo dõi tư tưởng cuả tui, người thâm trầm khó hiểu là người rất đáng nghi ngờ. Từ đây cô coi chừng chơi với tui sẽ mang họa lây đó.” Bảnh cười, con mắt lá răm càng híp thêm.


Image


17262



Image

l a n.h u ệ .
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m



Lan Huệ sầu ai, Lan Huệ héo,
Lan Huệ sầu đời, trong héo ngoài tươi...


Những năm đầu cuả chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm ở nhà ga xe lưả Đà Lạt cũng như những nơi công cộng người ta thường dán những ‘áp phích’ tuyên truyền cuả bộ Thông Tin trong đó vẽ những cán bộ cọng sản Bắc Việt là những người ốm nhách, mặt xương xẩu, hai gò má nhô cao, răng vẩu, đội nón cối, mang dép râu, quần ống thấp ống cao, vai vác súng daì, tay mang mã tấu. Chú Trần Văn Thiều, chef de train, mà mẹ tôi goị là “xếp ranh”, tức trưởng các đoàn taù Đà Lạt – Nha Trang, một cảm tình viên cuả chế độ miền Bắc, đến nhà chơi với cha tôi khi thấy tôi hý hoáy vẽ lại trên tập vở học sinh hình ảnh những cán bộ đó thì chú mắng: “Mi là đồ con nít, biết gì, chúng nó bôi bác bộ đội mình đó, người như rưá răng thắng được giặc Pháp ở Điện Biên Phủ.” Thằng nhóc sáu, bảy tuổi như tôi thì không thể hiểu ‘bôi bác’ là gì, ‘chúng nó’ là ai và nhất là Điện Biên Phủ ở đâu. Tôi có năng khiếu vẽ bậy, thấy cái gì ghi thì nhớ rồi về vẽ lại trên bất cứ mảnh giấy naò tôi vớ được; chú noí gì thì cứ nói tôi cứ vẽ như thế. Thời gian sau không thấy chú đến chơi tôi hoỉ thì cha tôi trừng mắt xuỵt biểu im, mẹ tôi thì thì thầm: “Chú bị bắt đi tù rồi, con đừng nhắc đến chú nưã, người ta bắt luôn con đó.” Tôi không biết đi tù là gì nhưng bị bắt thì tôi biết, nghe đến là phát run lên rồi. Hai năm sau chú ở tù về, không còn được làm “xếp ranh” nưã mà ở nhà trông coi tiệm cơm cho bà vợ hai cuả chú ở đường Lý Thánh Tôn, Nha Trang. Mãi sau naỳ tôi mới được nghe kể nguyên nhân chú bị bắt. Là trưởng đoàn xe lưả cũng như ông thuyền trưởng trên con taù biển, chú có quyền hành rất lớn, đi lại tự do trên tất cả các toa xe, có thể bắt hoặc tha người nhảy taù không mua vé; có thể bắt hay tha cho các con buôn mang hàng lậu v.v... Những người thường xuôi ngược Đà Lạt – Tour Chàm – Phan Rang – Nha Trang trên các đoàn xe lưả không ai không biết chú. Nhiều người nể trọng và mang ơn chú, trong đó có bà vợ hai cuả chú. Bà đi buôn chuyến, mang hàng nhiều, được chú cưu mang lâu dần tình nguyện theo chú không cưới hoỉ gì dù biết chú đã có vợ và một đàn con. Thật ra ngoaì chuyện mang ơn, mẹ tôi noí bà ta còn mê chú ghê lắm vì chú rất đẹp trai, bởi vậy mà khi bị thím Thiều "lớn” la mắng thế naò ba ta cũng nhịn nhục. Thời ấy người ta thường hay noí về “Thiên Linh Cái” hễ khi nó xuất hiện thì trời đất tối om, thiên tai dịch hoạ, con người phaỉ biết hối cải đọc kinh niệm chú. Ai nhận được tờ báo tin “Thiên Linh Cái” xuất hiện thì phaỉ sao chép ra đưa cho trăm người, ngàn người để được tai qua nạn khoỉ; ai không làm như vậy, hay xé đi thì tai hoạ sẽ giáng xuống cho mình và cho cả gia đình. Dưới trang giấy báo tin đó thường có mấy câu thần chú đầy thần bí mà người ta phaỉ đọc nhiều lần mới thoát tai ách cuả Thiên Linh Cái. Qua sự xếp đặt sao đó mà chú Thiều có trên tay một xấp giấy báo “Thiên Linh Cái” như vậy, và có lẽ để baỏ vệ một gia đình đông đúc gồm hai bà vợ cùng hơn một chục đưá con, chú đã liên tục phân phát cho từng hành khách trên các đoàn taù. Môt thời gian sau mật vụ đã theo dõi rồi bắt chú. Người ta đã điều tra và biết được cảm tình cuả chú với chế độ cuả các ông cán bộ nón cối, dép râu ngoaì Bắc. Chú bị ghép tội chính trị - tuyên truyền tin tức bậy bạ gây hoang mang trong xã hội. Chú ờ tù hai năm thì được về. Dĩ nhiên là không còn là ông “chef de train” cuả sở Hoả Xa Việt Nam nưã.

Nhưng chú Thiều không là nhân vật chính ở đây; chú chỉ là người đầu tiên cố tâm đánh tan cái hình ảnh “nón cối, dép râu, răng vẩu, vác mã tấu” cuả các cán binh Bắc Việt trong đầu óc non nớt cuả tôi. Mãi đến mười bảy, mười tám năm sau tôi mới biết chú noí đúng khi một sáng thức dậy cả thành phố Sài Gòn tràn ngập bích chương hình ảnh những bộ đội giải phóng to lớn, khoẻ mạnh, tay rắn chắc vung nắm đấm thép lên trời, hoặc cầm súng gắn dao lê chiả về phiá trước. Sau naỳ tôi có nghe tin chú ra tiếp thu ga xe lưả Nha Trang khi bộ đội cuả chú từ Bắc vaò chiếm thành phố. Nhưng có lẽ chú già quá rồi, hoặc người ta không còn chức vụ “chef de train” nưã nên một thời gian sau đó chú lại về ngồi trông cái quán cơm cuả thím Thiều Nhỏ, bấy giờ đã hạ bảng hiệu, điù hiu vắng vẻ vì chẳng còn tìm đâu ra cơm gạo, rau quả, thịt cá ngoaì chợ, moị ngành nghề lại phaỉ vô tổ hợp kinh doanh, sản xuất. Thật ra thì sau bao nhiêu năm không gặp và lại bị quay mòng mòng với cuộc đời lên dốc, xuống đồi quá gắt cuả mình, hình ảnh chú không còn vương lại chút naò trong đầu tôi cho đến hôm tôi gặp tên Tính ở xã Trung Mỹ Tây.

Vưà thoạt thấy Tính thì tôi sững sờ vì có cảm giác quen biết y từ thưở naò, bổng nhiên chú Thiều lại xuất hiện trong tâm trí tôi cùng với Tính. Tôi phaỉ lặng đi một chốc để định thần nhớ lại. Tính là hiện thân hoàn hảo cuả người cán bộ cọng sản được vẽ trong những tấm hý hoạ cuả bộ Thông Tin chế độ Ngô Đình Diệm, hình ảnh mà chú Thiều tố cáo là giả dối và tìm cách xoá bỏ trong đầu óc con trẻ cuả tôi gần hai chục năm trước. Tính đội nón cối, chân mang dép râu, quần ống thấp ống cao, người ốm tong teo, mặt xương xẩu, hai gò má nhô cao, môi trề, răng vẩu cáu thuốc lá. Chỉ khác là tay Tính không cầm mã tấu, vai không đeo súng daì mà đang ghì trên cái ghi đông, dắt chiếc xe đạp băng qua cái sân lót gạch taù cuả căn nhà gạch ba gian goị là “bàn tiết kiệm Trung Mỹ Tây” để đi ra cổng. Thấy tôi Tính chỉ liếc mắt rồi noí vọng: “Mợi xuổng đọ hạ? Làm việc vợi Lan kệ toán đị nhạ. Mềnh lên chi nhạnh đây!” Tôi ừ một tiếng rồi bước lên thềm đi vaò “bàn tiết kiệm”. Hệ thống chi nhánh ngân hàng nhà nước đã được thành lập ở các huyện nông thôn miền Nam sau gần một năm “giải phóng”. Tiết Kiệm là chính sách hàng đầu ‘ích nước lợi nhà’ xây dựng xã hội, xã hội chủ nghiã. Mỗi xã đều có một “bàn” tiết kiệm gồm có một “trưởng bàn” mà hầu hết là cán bộ A từ ngoaì Bắc vào ‘tăng viện’ cho miền Nam phụ trách lãnh đạo, một kế toán, một thù quỹ và ở nhiều xã lớn có thêm một ‘phong traò’ là người làm công việc tuyên truyền, ‘hợp đồng’ với các uỷ ban và đoàn thể thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nông hội v.v...cuả xã để ‘vận động’ nông dân ‘đóng’ tìên tiết kiệm. Xã Trung Mỹ Tây không có phong trào, tôi được chi nhánh phaí xuống ‘hợp đồng’ với ‘bàn tiết kiệm’ để lên kế hoạch tuyên truyền vận động trong vaì ngaỳ. Do chế độ ‘Ngụy’ không có kiểu ‘ngân hàng’ xã như vậy nên khi giải phóng vaò họ không ‘tiếp thu’ được cơ sở vật chất naò, chính quyền điạ phương phải chọn một gia đình nông dân khá giả naò đó có nhà cưả khang trang rộng rải vận động gia chủ cho ‘bàn’ tiết kiệm ‘đóng’ trong nhà. Gia chủ phaỉ nhường nguyên gian nhà trước thường là phòng khách, có bàn thờ tổ tiên cho ‘bàn’ làm việc, và ‘bố trí’ chổ cho cán bộ tiết kiệm, thường là ba người, ăn ở ngay trong nhà mình.

Tôi vưà được ‘điều’ đến chi nhánh vaì tuần, lần đầu tiên xuống ‘bàn Trung Mỹ Tây’, cũng là lần đầu tiên gặp Tính, người vưà gây cho tôi một chấn động hổn loạn giưả quá khứ xa xôi và hiện tại mông lung. Trên cái bàn trong gian chính cuả ngôi ‘nhà lai’(*) mái ngói, trường xây, nền gạch taù có hai cô gái đang cắm cuí ngồi viết. Nghe tôi vaò họ ngước lên nhìn. Cả hai trạc tuổi hai mươi mốt, hai mươi hai. Một cô làm tôi ngạc nhiên đến sững sờ vì moị thứ trong gian nhà đó trở nên tối tăm, hèn mọn trước cái nhan sắc lộng lẫy nổi bật dù y phục cuả cô cũng như tất cả đàn bà con gái trong Nam lúc đó rất đơn giản - chiếc áo bà ba màu lợt và quần sa teng đen mờ, chân mang đôi dép nhưạ. Cô đứng lên, tay còn cầm cây viết chấm mực cuả học sinh tiểu học; mắt sáng, to, đen lánh; miệng xinh, cười tươi lộ đồng tiền bên má; tay chỉ vô cái ghế bên cạnh mời tôi ngồi: “Anh Tâm mới xuống hé, mời anh ngồi đây, tui là Thuý Lan, còn đây là cô Phương...” Tôi vội quay đầu qua chào Phương, giật mình vì nãy giờ chỉ chăm chăm nhìn Thuý Lan. Chợt nhớ đến cách nhà văn Hồ Biểu Chánh mô tả con gái đẹp rải rác trong tác phẩm cuả ông: “Mặt maỳ sáng trưng, tay chưn dịu nhiễu, trông dáng vẻ con nhà giaù...” đúng là Thuý Lan nhưng không đầy đủ. Tôi không biết ông sẽ phaỉ mô tả như thế naò để người đọc thấy được nhan sắc, hình dáng thật cuả Lâm Thúy Lan. Tôi không có khả năng đó. Thuý Lan không những xinh đẹp, mà còn sang trọng, quý phái; hơn thế, cô còn toát ra một tính cách đơn giản, thẳng thắn, và cương quyết. Làn da mịn, trắng ngần; bàn tay, bàn chân mũm mỉm; cử chỉ dịu dàng nhưng mạnh dạn rõ ràng thuộc loại ‘trâm anh thế phiệt’ được chăm sóc, giáo dục bởi một gia đình rất truyền thống.

Sau buổi làm việc, tôi ra về, đạp xe cọc cạnh trên bờ ruộng vang tiếng uềnh oang, ộp oạp của cóc nhái, ểnh ương dưới sình lầy tôi không nghĩ về thân phân của mình, một sáng mai mở mắt chân lấm tay bùn, mà đầu óc tôi chỉ là hình ảnh Lâm Thuý Lan nơi ruộng đồng tối tăm mù mịt đó.

Ăn vội vàng vaì chén cơm tập thể cuả cô Láng ‘chị nuôi’; tôí hôm đó tôi nhập bọn với đám thanh niên thiếu nữ Sàigòn bị đày lên vùng ruộng đồng hiu hắt đang túm tụm tán dóc trên cái sân đất, dưới hàng cau sau trụ sở chi nhánh. Tôi gợi chuyện với Chúc, và Bình. Moị người ai cùng tầm trồ khi noí đến Lâm Thúy Lan nhưng không ai biết vì sao một cô gái như vậy lại lưu lạc lên chốn naỳ. Những ngaỳ tháng sau thỉnh thoảng tôi gặp Thuý Lan lên chi nhánh vội vã làm các thủ tục với phòng kế toán rồi lại tất tả đi nhanh ra bến xe đò trở về lại Trung Mỹ Tây. Mỗi lần thấy tôi thì Thuý Lan cười cả mắt lẫn môi, khẻ gật đầu như hai người bạn cũ mà sự thông cảm không cần phaỉ noí lên lời.

Nhân một ngaỳ lễ, đoàn thanh niên tổ chức hội nghị có văn nghệ, tất cả thanh niên, nhân viên ở các xã đều tập trung về chi nhánh. Tôi và Chúc đang đứng trên lầu hai nhìn xuống cổng thì một chiếc xe LaDaLat trờ tới, đậu lại. Lâm Thuý Lan bước xuống, khác hơn ngaỳ thường một chút, cô mặc một chiếc áo bà ba bông tím bằng soie, vậy mà trông cô lộng lẫy như Liz Taylor mặc áo dạ hội đi trên thảm đỏ bước vaò lễ trao giải Oscar cuả Hollywood mà tôi thấy hình trên tạp chí Newsweek trước đây. Người Lái xe bước xuống, anh ta mặc bộ đồ kaki xanh bốn tuí cuả cán bộ trong các xưởng máy, không đẹp trai nhưng cũng bảnh bao. Họ noí với nhau điều gì đó rồi Thuý Lan thoăn thoắt bước vô cổng chi nhánh. Anh ta đứng nhìn theo một lúc rồi lái xe đi. Chúc noí đó là chồng Thuý Lan. Những ngaỳ sau “giải phóng” người ta có thể biết được sự quan trọng và điạ vị cuả một người khi nhìn vaò phương tiện di chuyển. Những người được đi trên những chiếc ‘xe con’ nhứt là tự lái lấy nếu không là cán bộ rất cao cấp thì cũng con cháu cuả họ. Tôi hoỉ Chúc sao chồng Thuý Lan như vậy mà cô ta phaỉ về làm kế toán ở một bàn tiết kiệm ở cái xứ ruộng đồng quê muà như Trung Mỹ Tây. Chúc lắc đầu: “Chắc chắn là có uẩn khúc gì đó nhưng đôi khi con cái các chủ điền, tư sản phaỉ làm như vậy một thời gian để tránh né lưởi lê, mã tấu cuả ‘tổ chức’...”

Một hôm đi ngang qua khu tập thể cuả phụ nữ tôi bắt gặp Thuý Lan đang ngồi giưả đám các cô gái, có cả Mỹ Ngọc, cử nhân luật, trước là nhân viên tập sự ngành xuất nhập khẩu ở Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín. Họ đang noí gì đó mà thỉnh thoảng Thuý Lan đưa tay lên quẹt mắt. Thoáng thấy tôi các cô ngưng bặt, Thuý Lan ngước nhìn tôi thì cả mắt lẫn môi đều cười, nhưng cái cười gượng gạo không dấu được ngấn nước mắt đang quanh tròng và nổi buồn vời vợi. Mấy hôm sau Mỹ Ngọc và tôi được phái xuống xã Tân Hiệp để ‘vận động’ nông dân đóng tiết kiệm ăn mừng một ngaỳ lễ lớn. Khi tôi nhắc lại những giọt nước mắt cuả Thuý Lan thì Mỹ Ngọc cười chua chát: “Anh ơi, người đẹp naò cũng có một trăm, một ngàn nổi khổ, xấu xí như tui thì dễ yên thân. Anh đọc chuyện Kiều rồi chứ, đời nay đâu phaỉ là hết những thằng bán tơ, hay sở khanh, Thúc Sinh, Hồ Tôn Hiến...” Tôi không tiện gặng hoỉ thêm, nhưng tiếng ngân nga cuả Mỹ Ngọc noí lên nhiều lắm: “Thằng bán tơ kia dở doí ra; làm cho lụy đến cụ Vương già...”

Tôi cũng vẫn thường gặp Tính. Hắn hay đạp xe lên chi nhánh, noí oang oang chọc ghẹo các cô với giọng Đô Lương đặc sệt cuả xứ Nghệ An, xứ cuả đám kiêu binh thời Lê mạt mà khi người ta ruả nhau thì thường lôi chúng ra làm đối tượng như: “Mả cha mi, trăm thằng ‘chân vàng’, ngàn thằng ‘chân vàng’ vô nhà mi!” Người bị ruả hiểu rằng “chân vàng’ là chỉ đám kiêu binh Nghệ Tỉnh đi chân đất quấn xà ghệch bằng vải vàng, và vàng cũng là màu cuả củ ‘nghệ’ tức ám chỉ xứ Nghệ An, nơi phát tích cuả chuá Trịnh Tùng. Một tên kiêu binh vô nhà đã khốn đốn rôì huống gì trăm thằng, ngàn thằng; thật là câu ruả độc địa. Những từ ngữ địa phương cuả liên-khu-tư như ‘con mọi’, ‘cái đọi’, ‘cái trốc’- con muỗi, cái chén, cái đầu - đã là một thứ ngoại ngữ với các cô mà lại được phát âm bởi giọng Đô Lương cuả Tính thì hắn có noí tục tiủ các cô cũng tưởng là lời khen tặng nên nhiều cô cười khúc khích khiến hắn tưởng được đồng tình khích lệ. Thường thì trạm ngừng chân lâu nhứt cuả hắn là phòng cuả Cát, phó giám đốc chi nhánh, trong đó dưới chân ghế cuả Cát có một cái bô cho con nit đàn bà đi tiểu mà các cán bộ từ Bắc vaò lại dùng để đổ cặn nước trà, hay xộc nước thaỉ trong những cái điếu cày làm bằng tre. Hầu như tất cả các phòng làm việc và ngay tại bàn xa lông trong phòng tiếp khách đều có cái bô trưng ra công khai như vậy. Thậm chí có cán bộ không những đổ nước trà dư vaò bô mà còn súc súc miệng rồi nhổ toẹt vaò đó. Tính và Cát lại bi bô noí chuyện, rúc điếu cày ren rét, o, o, rồi nhả khói mù trời đất. Thỉnh thoảng Tính cắp lên ít trái cây ‘vận động’ được cuả bà con nông dân trong xã như đu đủ, bưởi, mãng cầu, vú sưả, và rất nhiều khi là một chai ‘đế Bà Điểm’. Đó là dịp cán bộ A xúm lại trong phòng Cát sau giờ ‘tan tầm’ để vui vẻ, cười đuà hể hả.

Một sáng thứ Hai khi moị người phaỉ tập hợp, xúm xít ở trước quầy kế toán nghe đọc báo theo thủ tục bổng Tính xuất hiện, hắn quăng cái xe đạp ở bậc thềm rồi xồng xộc đi vô, mặt nghiêm trọng nếu không noí là đằng đằng sát khí. Hắn noí gì với Cát xong thì chúng tôi được baỏ về chổ làm việc. Suốt hôm đó chúng tôi cảm nhận được một ‘sự cố’ gì đó ghê gớm đang xảy ra. Đến chiều thì nghe các cô truyền tai là Lâm Thuý Lan đã bị công an bắt. Tin tiết lộ thêm từ Dũng, một sinh viên năm thứ nhứt trường đại học Minh Đức cũ, tình nguyện làm kẻ thưà phái thân tín cho Mẫn, cán bộ A, bí thư đoàn thanh niên, với nguyện vọng được Mẫn giới thiệu kết nạp vaò đảng; theo đó thì Tính đã tố cáo lên đảng uỷ và ban giám đốc Thuý Lan là mỹ nhân kế cuả CIA cài lại. Cô ta đã lợi dụng sự gần guỉ chung một mái nhà với Tính, một đảng viên cán bộ cách mạng tăng phaí từ A vaò, để khiêu gợi Tính vaò một mối ‘quan hệ trai gái bất chính’ nhằm triệt hạ uy tín cuả đảng và cán bộ đảng. Nhiều đêm Lâm Thuỷ Lan đã chui vô mùng cuả Tính và bị cự tuyệt. Cao trào cuả âm mưu là thường tắm truồng không đóng cưả như tối hôm qua, lợi dụng đêm khuya vắng vẽ để khiêu gợi, kéo Tính vaò phòng tắm. Nhờ ‘cảnh giác cách mạng cao độ’ Tính đã chống lại âm mưu naỳ và tố cáo cô ta trước tổ chức.

Tin đó thật là chấn động, chúng tôi đều bàng hoàng. Dù Cát đã cấm anh em tụ tập bàn tán, gây hoang mang, không để bọn xấu lợi dụng tuyên truyền, chúng tôi vẫn lén gặp những chị em nhân viên cũ thân cận với Thuý Lan để tìm hiểu. Mỹ Ngọc khóc đỏ mắt, miã mai noí với tôi: “Anh biết hôm Thuý Lan lên khóc với tuị tôi là tại sao không? Nó than bị thằng Tính mò vô mùng, thường xuyên rình rập mỗi lần nó vaò phòng thay đồ, cầu tiêu, buồng tắm. Anh biết rồi, nhà quê đâu có phòng ốc gì kín đáo, thằng¬ Tính luôn luôn nhìn trộm được nó, có khi lên cơn nắm tay nắm chưn...Nhiều lần nó la lên nhờ con Phương giải cứu nhưng con Phương sợ thằng Tính không dám tố cáo. Khi Thuý Lan báo cáo cho tổ phụ nữ thì bị mấy bà cán bộ A mắng nó lẳng lơ. Tối hôm qua, sau mấy ngaỳ không tắm, nó đơị gần 12 giờ đêm người ta ngủ hết rồi mới dám đi tắm; đâu ngờ thằng Tính cũng thức canh. Lần naỳ vì chiụ không nổi sao đó thằng Tính kéo bung cưả xông vô ôm nó, Thuý Lan la làng cầu cứu; con Phương và ông bà chủ nhà thắp đèn ra coi. Thằng Tính biết bị lộ nên tri hô lên là Thuý Lan khiêu dâm nó. Sáng ra đi báo công an và ban giám đốc chi nhánh. Đơn tố cáo cuả Tính được ông Cát chuyển lên thành phố cho ban Tổ Chức Cán Bộ để xử lý Thuý Lan rồi.”

Thời đó bị ghép tội tàn dư CIA caì lại là nghiêm trọng, chẳng ai có thể chứng minh mình không phaỉ là CIA. Chúng tôi chỉ biết nhìn nhau buồn bả, ngơ ngác. Nhớ đến người đàn ông lái chiếc xe LaDaLạt chở Thuý Lan đến buổi văn nghệ tôi không hiểu hắn sẽ phản ứng như thế naò. Sao lại có chuyện vu cáo đơn giản như vậy, chẳng lẽ Thuý Lan sẽ bị kết án tù cải tạo và tên Tính vẫn tiếp tục là một đảng viên cách mạng “trung kiên đạo đức” hay sao?

Suốt ngaỳ hôm đó chúng tôi thấy tên Tính lăng quăng, qua lại, chuyện trò với đám cán bộ đồng chí cuả hắn ở chi nhánh mà không về lại Trung Mỹ Tây, thái độ có vẻ đắc thắng. Nhìn con người Tính nhất là đôi mắt ti hí thường đảo qua, đảo lại liên hồi, gò má xương xẩu nhô cao và nhất là hàm răng vẩu ngập nguạ nhựa thuốc laò không ai có thể tưởng tượng nỗi đó là một cán bộ cách mạng, đảng viên đạo đức, vưà hiên ngang chống lại được sự quyến rủ cuả một giai nhân tuyệt thế như Lâm Thuý Lan.

Bổng hôm sau tên Tính biến đâu mất, rồi Thuý Lan xuất hiện đột ngột ở phòng kế toán. Moị người tuá đến tìm cách hoỉ han nhưng Thuý Lan tránh né, khuôn mặt cô tái xanh, lạnh ngắt, cặp mắt long lanh pha lẫn giận dữ và kiêu hãnh. Cô không nhìn ai, chỉ làm thủ tục gì đó với những người trong phòng rồi, nhanh chóng rời khoỉ chi nhánh. Cát ra khoỉ phòng khoát tay baỏ chúng tôi giải tán về ngay chổ làm việc cuả mình. Đó là lần cuối cùng tôi gặp Tính và Lâm Thuý Lan.

Sự việc sau đó được biết rất ngắn gọn. Đơn tố cáo cuả Tính và lời ‘đề xuất’ bắt giam Thuý Lan cuả đảng uỷ, cùng ban giám đốc chi nhánh được chuyển lên các ‘cơ quan chức năng’ trong đó có văn phòng cuả ông Năm Hợp, trưởng ban tổ chức cán bộ cuả toàn ngành trong thành phố ở trụ sở đường Hàm Nghi. Chỉ một vaì giây sau khi đọc xong những thứ đó Năm Hợp đã giận tím mặt, và goị vaì cuộc điện thoại là giải quyết dứt khoát sự việc. Chi nhánh công tác cuả Tính bị bắt buộc khẩp cấp kiểm điểm Tính và tự kiểm điểm chi bộ cùng ban giám đốc về sự cáo gian đó. Đích thân Năm Hợp đề xuất lên Tư Châu, giám đốc ngành cuả thành phố ký quyết định ‘trả’ cán bộ Tính về Nghệ An là đia phương gốc trong vòng 24 giờ đồng hồ. Sao Năm Hợp có thể kết luận tức thời đó là sự vu cáo? Đơn giản Lâm Thuý Lan là cháu dâu cuả Năm Hợp, chính ông ta là người ‘bố trí’ Thuý Lan lên Trung Mỹ Tây công tác cách mạng, một phần để ‘giáo dục cách mạng’, một phần để ‘cải taọ tư tưởng’ và ‘cải tạo thành phần’ cho Thuý Lan.

Tập thể ban lãnh đạo cuả chi nhánh và các cán bộ A ngay sau đó rất im ắng. Chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra sau những cánh cưả cuả phòng làm việc và phòng họp cuả họ, nhưng họ làm như thể không có chuyện gì xảy ra, như thể chưa từng có tên Tính hay cô Thuý Lan trên đời này. Lâm Thuý Lan sau khi lên bàn giao hồ sơ kế toán không còn làm việc ở Trung Mỹ Tây nưã, cô bỏ đi không từ giả chúng tôi. Tên Tính cũng không gặp lại ai, hắn cầm quyết định ra thẳng nhà ga Hoà Hưng khẩn cấp trở về miền Bắc.

Những thắc mắc cuả tôi về Thuý Lan dần dần được giải toả qua lời kể cuả Mỹ Ngọc, Phương, Yến những người bạn thân cận cuả Thuý Lan và Hoa vợ cuả Bình cùng làm chung với tôi.

Đức Hoà là một quận lỵ nằm giưả Đức Huệ và Hốc Môn, là trái độn cuả một quận sát biên giới Cao Miên, nơi ẩn naú cuả Trung Ương Cục Miền Nam và một quận cưả ngỏ vaò Sài Gòn sát cạnh phi trườngTân Sơn Nhứt. Nó là hậu cần cho những trận tấn kích vaò Củ Chi, Hốc Môn và Sài Gòn cuả quân ‘Giải Phóng’ gồm cả du kích cuả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và bộ đội Bắc Việt, từ đó họ có thể vượt qua sông Vàm Cỏ về căn cứ trung chuyển ở Đức Huệ rồi vượt biên giới qua đất Cao Miên. Những khi quân đội Việt Nam Cọng Hoà hành quân ‘taỏ thanh’ Đức Huệ thì họ cũng dùng Đức Hoà làm bàn đạp để vượt qua con sông Vàm Cỏ. Do đó noí đến Đức Huệ thì phaỉ noí đến Đức Hoà. Đức Hoà trở thành vùng ‘xôi đậu’ – ‘Quốc Gia’ và ‘Cọng Sản’ lẫn lộn. Trước cuộc chiến tranh tương tàn khốc hại đó trong vùng naỳ đã có nhiều gia đình khai khẩn hàng ba bốn đời, họ trở thành chủ điền giàu có trong đó có ông Hội Đồng Lâm. Lâm Đắc Thắng người con trai đầu lòng cuả ông thưà hưởng gia sản rất lớn, nhà cưả ruộng vườn đình huỳnh, trù phú; lại thêm nhà máy xay luá, nhà máy ép miá đường. Thoí đời thì nhà giaù thường kén vợ đẹp, nên sinh con cái đẹp. Đến đời Hai Thắng ông ta cưới bà vợ lai Triều Châu sinh được hai cô con cái mĩ miều là Lâm Thuý Huệ và Lâm Thuý Lan. Trong bà con dòng tộc hai bên có nhiều người theo kháng chiến chống Pháp, rồi từ đó người theo Quốc Gia, người theo Cọng Sản. Dù bên naò đi nưã họ cũng trong vòng bà con hay bạn bè chòm xóm thâm niên. Đó là lý do tại sao quân đội Miền Nam không thể ‘bình định’ hoàn toàn được vùng naỳ vì quân ‘Mặt Trận’ lẩn lộn và được che dấu kỹ bởi người theo ‘Quốc Gia’.

Do chiến tranh không thể khai khẩn ruộng vườn hiệt liệt như trước, cha cuả Huệ và Lan đã di chuyển một phần taì sản về Saì Gòn, Chợ Lớn xoay ra đầu tư kinh doanh trong ngành thương mãi. Trong thân tộc có gia đình cuả người dòng họ xa nhiều đơì mà con cái đa số theo ‘Giải Phóng.’ Vì có thân thế lớn trong vùng nên ‘Tổ Chức’ bố trí họ về hoạt động cả quân sự lẫn ‘kinh taì’ cho ‘Mặt Trận’ ngay tại đia phương. Những người naỳ dần dần là những cán bộ rất cao cấp, trong đó có Năm Hợp và anh là Tư Hội. Tư Hội bị bắn chết trong một trận ‘càn’ cuả quân đội Quốc Gia, để lại một người con trai tên Tòng dưới sự bảo trợ cuả Năm Hợp. Lẽ ra ‘tổ chức’ đưa Tòng vaò khu để bồi dưỡng nhằm nối gót người cha nhưng vì Tòng là con một, gia đình Năm Hợp cũng muốn bảo toàn cho Tòng để lo bề hương hoả. Do đó Tòng không vô khu mà ở lại nhà ăn học theo sinh hoạt cuả phe ‘Quốc Gia’ nhưng luôn dưới sự giám sát, che chở cuả ‘Tổ Chức’. Vì mất cha khi mới mười ba, mười bốn tuổi, người chú bảo trợ lại thường ở trong ‘khu’ nên Tòng tự tung, tự tác, lêu bêu hư hỏng, y chơi nhiều hơn học. Khi đã trưởng thành không làm ăn gì nhưng tiền bạc ‘kinh taì’ cuả Năm Hợp thu được từ chủ vườn, chủ tiệm cho đến nông dân, hay người bán quán, bán rong cũng rơi rớt xuống, chu cấp cho Tòng đầy đủ. Đến tuổi đi lính cho phe Quốc Gia, gia đình lo lót tiền bạc cho Tòng được miễn dịch vì lý do gia cảnh. Bù khú với mấy cô gái quê hoaì cũng chán Tòng có lần gặp chị em Huệ Lan và xiêu lòng. Từ đó rắp tâm tán tỉnh, tìm cớ đến tận nhà thăm. Cha mẹ Thuý Huệ biết rỏ Tòng nhưng ngại thân thế lớn cuả gia đình Tòng bên ‘Giải Phóng’ nên cũng đối đải qua loa. Thuý Huệ, Thuý Lan là những cô gái được chăm nom, giáo dục tốt trong gia đình truyền thống nên cũng có ý coi khinh Tòng. Có lần đêm tối Tòng đến nhà chơi, mang cây súng K54 cuả ‘giải phóng’ lận trong lưng ra khoe. Cha mẹ Thuý Huệ, Thuý Lan lo ngại và từ đó đưa hẳn hai chị em xuống Sài Gòn ăn học, chỉ lâu lâu cúng giổ, tết nhứt mới về thăm quê. Tòng dò hoỉ và lần xuống tận Sài Gòn tìm đến nhà, dù biết gia đình Huệ Lan không thuận ý, chấp nhận mình.

Cơ ngơi taì sản cuả cha mẹ Huệ Lan ở Đức Hoà còn nhiều nên cũng phaỉ tham gia ủng hộ cho ‘Giải Phóng’ để được yên thân làm ăn, giử nhà, giử vườn, hương hoả bao đời cuả ông cha đến khai khẩn khu naỳ hơn một trăm năm trước. Khi Năm Hợp biết được ý muốn cuả Tòng thì nghĩ ngay đến cơ hội siết chặt thêm quan hệ giưả cha cuả Huệ Lan với ‘Giải Phóng’. Ông ta tìm đến, đề nghị cha Huệ cho Tòng cưới Huệ, khi đã là con dâu cuả ‘Giải Phóng’ thì Huệ sẽ có lợi cho ‘tổ chức’ rất nhiều không những về ủng hộ taì chánh mà còn các công tác khác với nhan sắc mỹ miều cuả nàng. Cha Huệ sinh sống cùng với ‘Mặt Trận’ bao nhiêu năm tháng rồi, sở dĩ được yên thân là do tiền bạc, cuả cải đóng góp nên hiểu rõ những ‘chính trị’ bên sau những mối quan hệ với ‘Giải Phóng’. Ông rất lo âu tiết lộ tin naỳ cho Thuý Huệ. Thuý Huệ thưa với cha nhờ noí thẳng với Năm Hợp và ‘Tổ Chức’ là nàng đã có người yêu và hưá hôn với người ở Sài Gòn. Những gì nàng noí cũng có thật. Hai chị em Huệ và Lan từ khi ở hẳn Saì Gòn đi học đều quen biết rồi có người yêu nhưng không dám thưa với cha mẹ. Bạn cuả Huệ là một sinh viên trường Y Khoa Saì Gòn, nhà nghèo, cha là một sỹ quan cấp nhỏ trong quân đội ‘Quốc Gia’, mẹ buôn bán nhỏ ngoaì chợ. Do thân thế cuả người yêu như vậy Thuý Huệ chưa dám noí cho cha mẹ biết. Bạn cuả Thuý Lan là sinh viên trường Bách Khoa Phú Thọ, cha là sỹ quan không quân cấp tá. Trước sự đề nghị có tính ép buộc cuả Năm Hợp mà thật ra là cuả tổ chức trong ‘ý đồ’ ‘tô hồng’(**) cả gia đình mình, cha Huệ Lan phần thì thương con, phần thì không muốn đi theo con đường cuả Năm Hợp vì ông đã từng chứng kiến những người bị ‘tổ chức’ chặt đầu, bỏ bao bố trấn nước trong những năm Nam Kỳ Khởi Nghiã chì vì tội có đất, có vườn, có làm ăn với Tây, hay quan hệ với phong kiến, ông đã cáo lui với Năm Hợp là Huệ và Lan đã có ‘mối’ ở Saì Gòn chỉ chờ khi hai chàng rể tương lai học hành xong thì gả.

Sự từ khước cuả cha con Huệ Lan như nước lạnh xối vô mặt Tòng và Năm Hợp. Tòng phản ứng bằng cách công khai đe doạ sẽ bắt cả hai chị em Huệ Lan mang vaò ‘bưng’ một khi hai cô về Đức Hoà. Năm Hợp từ đó không trực tiếp đứng ra thu ‘thuế’ gia đình cha mẹ Mỹ Lan mà sai cấp dưới từ đia phương khác đến. Đang đêm họ mang cả tiểu đội võ trang tận răng đến đập cưả gia đình Huệ Lan. Họ nêu ra những danh mục tài sản cuả ông tận Sài Gòn và đưa ra một thuế biểu cao gấp đôi những gì ông phaỉ ‘nộp’ cho ‘Giải Phóng’ trước đây. Cha mẹ Huệ Lan phaỉ làm theo ý họ trong phập phồng lo sợ vì chẳng biết họ có ngừng lại ở giới hạn naò không; đã có người bị kết án chống đối, rồi mang đi bắn bỏ giưả đêm khuya. Cuả nổi họ có thể chuyển về Sài Gòn nhưng nhà máy xay luá, nhà máy ép đường miá, ruộng lúa, vườn cây ăn trái, nhà cưả không thể bứng lên mà mang đi được. Ông bà tìm cách đóng cưả hai nhà máy nhưng không qua khỏi mắt cuả ‘tổ chức’ - Năm Hợp, và các đồng chí cuả ông ta. Họ gơỉ cho ông một ‘cáo trạng’ kết án hành động đóng cưả xưởng máy là phá hoại nguồn tiếp tế cho ‘giải phóng’, taì sản đó là cuả nhân dân và nhân dân sẽ lấy lại. Cha Thuý Lan chỉ có bổn phận phaỉ tiếp tục điều hành nhà máy nếu không sẽ chiụ hậu quả tàn khốc.

Chuyện xảy ra chỉ vaì tháng mà cha mẹ Thuý Lan đã bạc đầu. Mẹ Thuý Lan bỏ xuống Sài Gòn với hai con để tỉnh dưỡng, nhưng rồi thương chồng bà lại quay về Đức Hoà. Có lần bà bàn với ông bỏ hết tất cả gia sản ở Đức Hoà cho ‘Giải Phóng’ về sống cùng hai con ở Sài Gòn. Cha Thuý Lan đăm chiêu suy nghĩ rất lâu rồi noí ông cha cuả gia tộc đến đất Đức Hoà một trăm mấy chục năm trước với hai bàn tay trắng, đổ mồ hôi nước mắt, thậm chí xương máu mới gây dựng nên được cơ nghiệp ngaỳ hôm nay. Gia đình ông được thưà hưởng cuả hương hoả naỳ phaỉ có bổn phận gìn giử, gây dựng cho đời con cháu mai sau. Bỏ hết ra đi là ông có tội với tổ tiên. Thà để cho ‘Giải Phóng’ ‘ăn’ phần lớn mà ông giử được cơ nhiệp còn hơn là mang tội với tổ tiên. Chiến tranh rồi có lúc tàn, thanh bình sẽ trở lại và mọi chuyện đâu sẽ vaò đó.

Ông đã nghĩ đúng, chỉ vaì năm sau chiến tranh đã đến lúc tàn, và thanh bình đã trở lại không những ở Đức Huệ và trên toàn cõi Bắc Nam; nhưng moị chuyện lại không đâu vaò đó.

Vaì ngaỳ trước khi quân Bắc Việt tông sập cửa Dinh Độc Lập bạn trai cuả Thuý Lan tìm gặp nàng đề nghị cùng di tản với gia đình cuả anh. Anh là con trưởng, mấy em còn nhỏ phaỉ đưa mẹ theo cha anh ra đi vì ông là sỹ quan cấp tá trong không quân chắc chắn sẽ bị cộng quân trả thù. Thuý Lan không thể bỏ nhà đi theo anh một mình, cha mẹ cô ở tận Đức Hoà mang trong người sứ mạng baỏ vệ hương hoả, mồ hôi nước mắt cuả tổ tiên, ho sẽ không chiụ ra đi. Hai người chia tay trong nước mắt. Cha cuả bạn trai cuả Thuý Huệ, người lính già đã chết trong trận đánh cuả tướng Lê Minh Đảo chặn quân Bắc Việt ở Xuân Lộc, mẹ anh đi tìm chồng cũng lạc đạn chết đâu đó ở rừng cao su Trảng Bom, Biên Hoà; những ngaỳ đầu ‘giải phóng’ anh được điều đi phục vụ thương binh trong các bịnh viện cuả bộ đội, họ không gặp được nhau. Đúng như cáo trạng cuả Năm Hợp nhà xưởng cuả cha mẹ Lâm Thuý Lan là cuả nhân dân và nhân dân lấy lại, tất cả tài sản ruộng vườn cuả gia đình ông được cách mạng ‘tiếp thu’. Ngay hôm sau ngaỳ ‘giải phóng’ một toán du kích đến nhà mời ông bà ra trụ sở Ủy Ban Nhân Dân xã làm việc. Họ nhốt cả hai ông bà trong căn phòng nhỏ tại trụ sở ấp cuả Nguỵ quyền trước đây; hai ngaỳ không cơm nước. Hai chị em Huệ Lan không nghe tin tức cha mẹ đã chở nhau trên chiếc xe LaĐalạt cuả gia đình về đến Đức Hoà. Ngaỳ thứ ba Tòng xuất hiện, tay đeo băng đỏ, lưng lủng lẳng cây súng K54 quát tháo du kích mở khoá đưa ông bà lên phòng làm việc. Huệ Lan ôm cha mẹ khóc như mưa. Tòng cho xe chở cả gia đình về căn nhà gạch to lớn cuả ông bà mà du kích đã chiếm đóng, chàng ta ra lệnh cho họ ra hết rôì mời ông bà cùng Huệ Lan cơm nước cẩn thận. Sau đó trang nghiêm noí rằng Năm Hợp đã rời Đức Hoà xuống tiếp thu Sài Gòn trong Uỷ Ban Quân Quản cuả Cao Đăng Chiếm, nhưng trước đó có dặn Tòng tìm gặp ông bà để truyền đạt mấy việc. ‘Mặt Trận’ quy kết gia đình ông bà vaò giai cấp đia chủ, cường hào tại Long An. ‘Cách Mạng’ cũng ‘nắm’ được hoạt động thương mãi và taì sản cuả ông bà ở Sài Gòn Chợ Lớn nên ông bà còn bị quy kết thành phần ‘tư sản mại bản’. Hai thành phần naỳ đều bị triệt hạ trước tiên. Ông bà sẽ bị toà án nhân dân truy tố; nợ máu nặng có thể tử hình, Cách Mạng khoan hồng thì được đi cải tạo lao động. Tất cả moị taì sản sẽ bị tịch thu. Huệ Lan là thành phần tiếp tay cho ông bà gây nợ máu, nhưng xét tuổi còn trẻ, còn giáo dục giác ngộ được nên sẽ được điều đi kinh tế mới hay thanh niên xung phong. Tòng ngừng lại để cho những gì y noí ngấm vaò mạch máu, vaò trí não cuả gia đình điền chủ họ Lâm. Y thích thú trong lòng khi thấy những đôi mắt mở to kinh ngạc cuả Huệ Lan, sự kinh hãi trên nét mặt người mẹ đang không ngớt nhìn chông rồi nhìn hai con, sự đau đớn tuỉ nhục hằn trên mặt người cha. Mẹ Thuý Lan thảng thốt kêu lên: “Nhưng chúng tôi có làm gì đâu...?” bà không thể hiểu nổi những từ ngữ mới mẽ từ miệng cuả tên thanh niên hư hỏng, ít học đi một chân bên naỳ, một chân bên kia mà có lần đã đe doạ ép uổng con bà.

Khi đã thỏa mãn với những chấn động gây ra cho gia đình Thuý Lan, Tòng chậm rải buông chử “NHƯNG...” Nó như cái phao quăng cho người chết đuối hay lời phán goị cuả Thương Đế khi con người vưà bước đến ngưỡng cưả cuả địa ngục. Họ ngước mắt nhìn Tòng. Y đổi sang thái độ vui vẻ: “Nhưng chú Năm Hợp noí đó là chủ trương, chính sách cuả ‘Cách Mạng’ cuả ‘Tổ Chức’ không phaỉ cuả chú...vì tình gia đình và những giao hảo từ bao nhiêu đời nay. Để cải đổi ‘thành phần’ Cách Mạng quy kết cho gia đình, tránh tù tội cho chú thím và khổ cực cho hai em cách duy nhứt là chú thím gả em Huệ cho con, với tư cách đó chú thím sẽ là gia đình cách mạng, có con rể là cán bộ cách mạng, và với vị trí sui gia với chú Năm mà chức vụ cao trong tổ chức chú Năm có thể ảnh hưởng, bao che cho gia đình; chính quyền điạ phương sẽ không dám đụng chạm đến. Tất cả ruộng đất, taì sản ở Đức Huệ và nhà cửa, kho hàng ở Sài Gòn sẽ không bị tịch thu, chú thím chỉ làm giấy “hiến tặng” cho Cách Mạng. Cách Mạng sẽ khoan hồng cho giử lại căn nhà và khu vườn này ở Đức Huệ để chú thím sống, dưỡng già, và căn biệt thự ở đường Hồng Bàng Chợ Lớn cho hai em ở. Thành phần cuả chú thím và lý lịch cuả hai em từ đó sẽ là ‘tư sản yêu nước’, ‘gia đình cách mạng’...”

Sau lần gặp gở đó, Tòng đã chỉ đạo đội du kích xã sinh hoạt trong khu vườn cuả gia đình, để ông bà họ Lâm được tự do trong căn nhà lai cuả họ, phần thì để canh không cho họ trốn đi, phần thì để trấn áp tinh thần cả gia đình. Huệ Lan không kiếm mua được xăng cho chiếc xe LaDaLat trong vùng quê lúc nhúc du kích đó. Trên các ngã đường đâu đâu người ta cũng đang làm cổng chào để mừng ‘Cách Mạng’; Tòng thì xuất hiện khắp nơi trên chiếc xe Jeep cuả Nguỵ quân, ‘kiểm tra’, ‘đôn đốc’ việc naỳ, việc nọ. Tuy vậy y vẫn e ngại chị em Huệ Lan tìm cách trốn về Sài Gòn, nên đề nghị ‘mượn’ chiếc xe LaDalạt cuả họ. Hôm naò y cũng ghé qua nhà thăm hoỉ gia đình. Ông bà chủ điền họ Lâm chỉ mấy tuần mà xơ xác, già xọm đi. Ông đăm chiêu không noí, nằm liệt trong phòng; Huệ Lan loanh quanh trong vườn tìm rau quả, nấu ăn vì kẻ ăn người ở trong nhà đã đi hết không còn ai; mẹ Huệ Lan lâu lâu liếc nhìn hai con, rồi đưa khăn quẹt nước mắt. Một hôm Tòng đến nhà buổi chiều, đưa cho ông Lâm một bức thư cuả Năm Hợp từ Sài Gòn:

“Gởi Hai Thắng, lóng raỳ tui quá bận công tác trong Uỷ Ban Quân Quản. Chính quyền còn non trẻ mà âm mưu ngóc dậy cuả phản động, tàn dư Mỹ Ngụy là không nhỏ, do đó không về Đức Hoà noí chiện với anh và thím Hai cùng sắp nhỏ được. Tui đã dặn Tòng noí lại những sắp xếp cuả tui cho moị chiện được dẹn toàn. Anh kịp thời cho tui biết quyết định ngay, đợi quá trể, tổ chức mà sắp xíp xong thì tui không còn can thịp được. Chaò đoàn kết. Năm Hợp”

Cha Thuý Lan đọc xong buông thư xuống, ông thở daì. Mẹ Thuý Lan hoỉ: “Ông tính sao?” Ông trả lời: “Nước naỳ còn tính sao, moị chuyện đều do con Huệ thôi.” Cuối tuần đó ở hội trường Uỷ Ban Xã người ta trang hoàng hoa hoè, khẩu hiệu cho một lễ “tuyên bố” giưả đồng chí Dư văn Tòng và cô Lâm Thuý Huệ. Nhiều đoàn thể được mời đến tham dự, nhiều diễn văn đã được đọc, đó là một đám cưới cách mạng đầu tiên được tổ chức ở Đức Hoà. Du kích đã được điều đi khoỉ khu vườn trái cây cuả gia đình chủ điền họ Lâm, ông đã làm đơn hiến tặng hầu hết tất cả cuả cải ruộng đất và nhà xưởng ở Đức Hoà và Sài Gòn cho Cách Mạng. Mấy tháng sau Dư văn Tòng được điều về làm bí thư đoàn thanh niên Hồ Chí Minh ở xưởng Bason. Y dọn vô ở cùng với vợ trong căn biệt thự cuả chi em Huệ đường Hồng Bàng. Dù được cơ quan bố trí xe con đi công tác nhưng y vẫn sử dụng chiếc LaĐaLạt màu xám xanh cuả Huệ. Thuý Lan được Năm Hợp bố trí công tác ở Trung Mỹ Tây, giưả đường từ Sài Gòn lên Đức Huệ. Mỗi cuối tuần cô thường về nhà ở Saì Gòn hủ hỉ với chị, hoặc theo xe đò hợp tác xã về Đức Huệ thăm cha mẹ. Như cái nhìn sắc sảo cuả Năm Hợp cô có tính cách mạnh mẽ nên đã thích hợp được với việc giáo dục tư tưởng để giác ngộ cách mạng, thay đổi thành phần gia đình. Cô tập quen với không khí đồng ruộng, lội sình cầm đuốc đi họp hàng đêm với nông dân để thu tiền tiết kiệm xây dựng xã- hội xã- hội-chủ-nghiã. Những tâm sự và những giọt nước mắt cuả cô chỉ âm thầm bùng vỡ khi có dịp quấn quýt với những chị em cùng cảnh ngộ trên chi nhánh.

Chỉ vaì tháng sau, một đêm khua về nhà sau khi dự liên hoan tại một hội nghị cuả Thành Đòan, Dư Văn Tòng thấy Thuý Huệ nằm chết trên giường, trong tay cô nắm chặt một ống thuốc seducen một trăm viên. Y đã chở xác cô gái trẻ có nhan sắc tuyệt trần đó trên chiếc xe LaĐàlạt, trả cô về cho cha mẹ ở Đức Hoà. Họ chôn cô trong vườn, dưới bóng những cây xoaì, cây vú sưã mà cô hay bắc võng nằm chơi mỗi khi từ Sài Gòn về thăm nhà. Căn biệt thự ở Sài gòn mặc nhiên trở thành taì sản cuả Dư Văn Tòng nhưng hắn không bao giờ thể hiện điều đó. Cả gia đình ông điền chủ, tư sản mại bản họ Lâm ngã bịnh lê lết sau cái chết cuả Thuý Huệ, rồi dần dần họ cũng phục hồi. Bà Lâm thường ôm Thuý Lan khóc sướt mướt mỗi khi cô về. Nhìn cảnh cha mẹ tiều tụy Thuý Lan cương quyết căn răng, gạt nước mắt mà sống. Cô thường theo những chuyến xe cuối cùng từ Trung Mỹ Tây về Đức Huệ thăm cha mẹ và đeo những chuyến xe sớm nhứt từ Đức Huệ về Sài Gòn chay ngang Trung Mỹ Tây để kịp giờ làm buổi sáng.

Sau cái chết cuả Thuý Huệ, một hôm Thuý Lan về lại căn biệt thự đường Hồng Bàng nơi cô từng sống hơn mười năm để thu góp quần áo đồ đạc cũ cuả chị mình và cuả mình mang ra chợ trời Bình Tây bán lấy tiền. 30 đồng tiền lương hàng tháng, 14 kg gạo, 400 gram đường, 400 gram thịt giúp cô không chết đoí nhưng cô còn cần ít tiền để đeo xe đò thường xuyên về Đức Huệ. Cô khóc trước những đồ vật vô tri giác nhưng chất chưá biết bao nhiêu kỷ niệm sống động cuả cuộc đời tươi trẻ sung sướng cuả cô cách đây chỉ hơn một năm. Nước mắt và tiếng nấc ru cô vaò giấc ngủ trên chiếc giường gọng đồng trong căn phòng cuả mình để rồi choàng thức dậy với sức nặng cuả người đàn ông sặc suạ muì rượu bia. Hai bàn tay rắn chắc cuả hắn ghì chặt tay cô xuống giường, hai bắp đuì lực lưỡng đè cứng thân mình cô. Thuý Lan la hét vùng vẫy đến lúc kiệt sức, bất lực. Căn biệt thự cuả cô biệt lập trong khu vườn chung quanh trồng những cây nhản xum xuê. Cái thưở mà ngoaì đường người ta vẫn thản nhiên qua lại trước mặt một người kiệt sức ngã gục xuống vì bệnh hay đói lã thì dù có ai nghe tiếng cô la họ cũng chẳng bận tâm. Tòng biết như vậy, và dù có ai dám xông vaò nhà y thì y cũng cho một phát K54 là xong. Cái thuở mà bọn tàn dư Mỹ Ngụy trốn chui trốn nhủi, một phát đạn cuả cán bộ đảng không cho ngóc đầu dậy là một ân huệ, chẳng ai điều tra hạch hoỉ.

Xong việc, Tòng ngồi dậy, y vuốt ve khuôn mặt vỡ vụn vì đau đớn và mái tóc rối bù cuả Thuý Lan đang nằm sấp trên giường. “Anh sẽ cưới em, căn nhà naỳ là cuả Huệ và Lan, anh không thể lấy vợ khác rồi đem về đây để em sẽ phaỉ ra đi. Em công tác cải tạo thành phần trong một thời gian rồi cũng xong, rồi sẽ về với gia đình, em sẽ ở đâu? ở Trung Mỹ Tây luôn hay về Đức Hoà? Sao em có thể sống nổi với bọn địa phương đó? Mình ở đó quá lâu, biết hết tuị nó rồi mà. Tương lai ba má em ai sẽ chăm lo? anh phaỉ cùng em chăm sóc cho họ. Em còn đẹp hơn Huệ nưã, anh yêu em, anh muốn em ngay từ khi thấy em về Đức Hoà hồi tháng Tư năm ngoái...”

Chính sách và chế độ cuả cách mạng không quy định thời gian cư tang, Tổ chức chấp thuận cho Dư Văn Tòng đăng ký kết hôn với cô Lâm Thuý Lan khi trình giấy khai tử cuả Lâm Thuý Huệ là xong thủ tục và đã không có đám cưới hay đám tuyên bố gì. Dư Văn Tòng không phaỉ là người noí dối, Thuý Lan được chăm sóc chu đáo; y vẫn đón rước nàng bằng chiếc xe LaĐaLạt; với ‘chế độ’ đãi ngộ cuả vị trí bí thư Đoàn Thanh Niên một công xưởng lớn nhất miền Nam và quan hệ rộng, bổng lộc nhiều, y đủ sức chu cấp cho cả cha mẹ Huệ Lan, nhứt là thuốc men khi sức khoẻ cuả hai ông bà suy sụp sau cái chết cuả cô con gái lớn. Họ luỉ thuỉ đi ra đi vào căn nhà và khu vườn được xây dựng, bồi đắp hơn một trăm năm như những bóng ma cuả tổ tiên họ trước đó.

Lời kể về Lâm Thuý Lan, cuộc đời và hoàn cảnh cuả cô, làm cảnh sống cuả tôi ở vùng quê đó nặng nề hơn trước. So với Thuý Lan chúng tôi có vẻ may mắn hơn nhiều. Từ khi có sự cố tên Tính gây ra rồi Thuý Lan bỏ việc, hình ảnh cuả cô vẫn lảng vảng trong đầu và trong những câu chuyện cuả chúng tôi. Moị người thầm mong rằng ông Năm Hợp ‘bố trí’ được cho cô một công việc khác nhẹ nhàng, dễ thở ở Sài Gòn; mong cô đã về ở lại trong căn biệt thự ở đường Hông Bàng; Dư văn Tòng giử lời hưá chăm sóc và thương yêu cô; hàng tuần y sẽ chở cô trên chiếc xe LaDaLạt về Đức Hoà thăm cha mẹ với những giỏ đầy ắp thức ăn và thuốc men cho hai con người bất hạnh đó.

Thơì gian ngăn sau đó, môt cuối tuần tôi về thăm gia đình ở Sài Gòn rồi trở lại chi nhánh vaò buổi sáng thứ Hai. Khi vưà bước vô cổng tôi thấy Mỹ Ngọc và vaì cô gái đang đứng bên chiếc xe cuả cơ quan, bác Còn taì xế đang loay hoay châm xăng từ mấy can sắt 20 lít cuả quân đội Saì Gòn vào xe. Thấy tôi Mỹ Ngọc quay lại nhìn, miệng mếu máo, cặp mắt đỏ hoe. Biết có chuyện chẳng lành tôi đi vội đến hoỉ: “Chuyện gì vậy?” Mỹ Ngọc nén tiếng nấc: “Thuý Lan chết rồi!!!” Tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy suốt xương sống lên đến đầu làm cả người như đông đặc, bất động: “Uí Trời? Sao vậy?” Mỹ Ngọc thì thào: “Tự tử!”

Tôi cứ đứng thừ người ra như thế. Bác Còn từ từ lái chiếc xe ra cổng với Mỹ Ngọc và hai ba cô đã ngồi trên đó. Sáng đó tôi đã được phân công xuống Tân Hiệp ‘hợp đồng’ với Ủy Ban xã để mở một bàn tiết kiệm ở Xã; tên Buì, thủ trưởng cuả tôi chắc sẽ không tha thứ nếu tôi bỏ lỡ việc đó. Nhưng đôi chân cuả tôi tự nhiên vùng chạy theo chiếc xe đang lấy trớn; tôi la to lên với bác Còn: “Cho tui đi theo với!” Người taì xế chậm lại, tôi bám vaò thành xe, các cô nhích vaò nhường chổ cho tôi. Gần một tiếng rưởi đồng hồ sau khi băng qua những ổ gà, ổ trâu và đường đất buị mù chúng tôi ngừng trước căn nhà lai to lớn nhưng âm u trong khu vườn rợp bóng cây ăn trái. Ngay gian giưả, trước bệ bàn thờ mà trên đó bày biện đủ thứ baì vị hình ảnh cuả những người đã chết, người ta đặt chiếc hòm cuả Lâm Thuý Lan trên hai con ngưạ gổ. Một cái bàn thờ nhỏ, có chén cơm cắm đôi đuả, bát nhang, hai cây nến leo lét, và bức chân dung. Cô rất xinh đẹp, nhìn tôi, đôi mắt to trong suốt, cái má lúm đồng tiền và nụ cười bằng mắt lẫn bằng môi. Khu nhà lặng trang, không tiếng động, chỉ có tiếng tích tắc cuả cái đồng hồ quả lắc bằng đồng lớn treo bên tường. Trên chiếc phản gổ kê ở gian bên cạnh, có một người đàn bà đang ngồi têm trầu baỳ trên cái mâm gổ sơn son thếp vàng. Chúng tôi chắp tay chào. Một cô hoỉ: “Thưa bác, tuị cháu ở ‘cơ quan’ cuả Thuý Lan xuống chia buồn với gia đình. Bác có phaỉ là mẹ cuả Thuý Lan không?” Người đàn bà lắc đầu: “Không, tui là bà con hàng xóm, ba má nó ở nhà trong, đâu có dậy nỗi...”

Khoảng một năm sau tôi xin đổi đi nơi khác, trước khi rời khỏi chi nhánh, nhân ngày giổ đầu cuả Thuý Lan tôi lại theo xe chở mấy cô gái trở lại khu nhà đó trên Đức Huệ. Ngôi mộ cuả Thuý Lan sát ngay bên mộ Thuý Huệ, nằm đối diện là mộ cuả người mẹ. Vài tháng sau ngày Thuý Lan ra đi, bà đã nằm xuống và không bao giờ trở dậy được nưã. Tôi mơ hồ nghe thấy tiếng cười rúc rích cuả hai bé gái chạy đuổi nhau quanh mấy gốc xoài, gôc vú sưả, tiếng võng kẻo kẹt lẫn trong gió rì raò qua kẻ lá rồi tiếng gọi cuả người đàn bà: “Huệ à, Lan à, lại mẹ biểu coi...”




Chú thích:

Câu chuyện và tất cả các nhân vật đều có thật, một số được đổi tên vì lý do tế nhị. Người viết không chứng kiến những gì xảy ra trên Đức Hoà, chỉ cố găng tường thuật lại chi tiết theo lời kể cuả cac bạn Thuý Lan.

(*) Loai nhà ở vùng quê Nam bộ lai giưả kiến trúc Pháp và nhà ba gian Việt Nam - lợp ngoí, xây tường, có "hàng ba" tức hang hiên phiá trước. Thường là cuả những nhà trung lưu hay giaù có.

(**) Tô hồng: nghiã đen là sơn đỏ lên, là cách thức dân vận, địch vận cuả "cách mạng" để biến người dân hay quân lính "Ngụy" - đen- trở thành maù “đỏ” cuả cách mạng, người sẽ ủng hộ, hay hoạt động cho cách mạng


25986 top -
_______________________________________________
Giật Mình - thơ - Hoa Cỏ _______________________________________________

Image

Tôi, say ly rượu đỏ
Em, lạc bước u mê
Đêm bỏ quên từ khước
Lỡ đánh mất lối về

Ở chỗ hương yêu đang bừng cháy
Tiếng thở bỗng nhiên rơi
Giật mình !

xem tiếp...

_______________________________________________
Nửa Đêm - văn - Nguyễn Quang Tấn _______________________________________________

Image

nửa đêm thắp đèn soi đôi mắt người tình, thấy trong mắt phải, một dòng nước lang thang tìm mãi cội nguồn, trong mắt trái, một bầy người ngơ ngác mất quê hương.

xem tiếp...

_______________________________________________
Anh Còn Yêu Em - nhạc - Thúc Sinh _______________________________________________

Image

Anh còn yêu em ngời trong giọt máu,
Anh còn yêu em bờ vai mười sáu,
Cánh môi thơm mềm,
nồng nàn hương ấm,
anh còn yêu em...

xem tiếp...

_______________________________________________
Like A Painting - ảnh - Đỗ Danh Đôn _______________________________________________

Image


xem tiếp...