THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP








b ê n .l ề .đ ờ i
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m



10664



Image


b ò .p ê n h .n h ẳ n g .à
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m


Ngày xưa những buổi tối, khi rảnh rỗi, cha tôi lại mở tủ lôi ra một cái hộp “sắt tây” rất cũ, khá to, có chổ đã rỉ sét, nhưng trên nắp cái hình in còn rất đẹp - một cô đầm đội cái mũ trắng mà ông giảng nghĩa cho tôi là “Tây nó gọi là bô nê”, trên mình là cái áo đầm xanh, phía trước đeo một cái “tạp dề” trắng, tay cô bê một bình sứ mà ông bảo là bình sữa, miệng cô cười xất xinh; hậu cảnh là cánh đồng, trên đó có vài con bò đen có vá trắng đang ngóc cổ nhìn, bên cạnh là dòng suối và một cái cối xay gió có bốn cánh quạt. Mỗi khi mẹ tôi thấy cha và cái hộp thì biết ngay ý nghĩ trong đầu tôi, bà mĩm cười noí: “Đó là cái hộp bánh ‘bích quy’ ổng mua cho mẹ hồi mới đến chơi nhà bà ngoại”. Tôi nghe thế rất nhiều lần nên có khi mẹ tôi chưa kịp noí thì tôi đã nói trước đúng y như cái khả năng làm con vẹt của một đưá trẻ sáu, bảy tuổi. Vậy là bà nhìn tôi nhăn răng cười, chửi: “Tổ cha mày thì đi có!”. Khi tôi hỏi bà là bà cụ Tứ mẹ cuả tụi thằng Hùng con Phương ở hàng xóm chỉ chửi “tổ cha mày” đâu có nói “thì đi có” như bà là tại làm sao? Thoáng ngạc nhiên rồi bà bối rối trả lời rằng hồi ở ngoài quê bà ngoại chửi như vậy nên bà cũng chửi như vậy. Rồi cha tôi để cái hộp lên bàn, kéo ghế ngồi một bên, mở nắp lấy những đồ vật trong đó ra trong khi tôi cũng khệ nệ lôi một cái ghế từ gầm bàn, leo lên, quỳ trên đó, trườn mình đến gần, chống hai tay lên má, theo dõi từng cử động của ông. Tôi biết thuộc lòng những thứ trong đó và thứ tự sắp xếp của chúng. Trên cùng là mãnh giấy dầu phủ lên mọi thứ, ngay dưới đó là vài chục tấm hình, tấm lớn tấm nhỏ, tấm cắt viền răng cưa, tấm rìa trơn tru. Dưới những tấm hình là giấy tờ gia đình mà thêm được vài tuổi tôi biết là một tờ “hôn thú” của cha mẹ tôi, giấy khai sinh của đám con cái chúng tôi, giấy tờ công sở cấp cho cha tôi và những cái “tit đăng ti tê” cũ của cha mẹ để lẫn với thẻ căn cước cuả mọi người lớn trong nhà. Dưới cùng là lớp giấy báo.

Việc chính cuả cha tôi những khi mở cái hộp đó là lấy những tâm hình ra ngắm nghía, rồi trịnh trọng kể lại những chi tiết về từng tấm. Tôi thuộc lòng tất cả. Nhưng một điều lạ là tôi chẳng bao giờ chán, mỗi lần ông mở tủ lôi cái hộp ra là mỗi lần tôi chạy lại bàn kéo cái ghế; có khi tôi còn kéo cái ghế của ông ra trước nữa. Sau naỳ tôi để ý thấy khi đến bên cái tủ thì ông lại khẻ liếc nhìn tôi trước khi thò tay vào cầm cái hộp. Ánh đèn vàng soi hai cái đầu châu vào nhau, một tóc đã lưa thưa bạc, một còn xanh mướt.

Tôi thích ngắm nghía cái hình bán thân chụp bà ngoại, miệng móm mém và ánh mắt cười cười. Hình bà nội mặc áo dài the, bên trong là cái áo cánh trắng, đầu quấn khăn, ngồi trên một cái ghế. Bà nội không cười, mặt rất nghiêm nghị. Tôi nhớ có lúc bắt gặp mẹ tôi nói thì thầm với hai chị tôi ở góc nhà bếp: “Mẹ làm dâu...khổ...” cùng lúc tay bà đưa lên quẹt vài giọt nước mặt ứa ra đang chực rơi xuống. Không có hình ông ngoại, mẹ tôi nói ông “đau bụng bão” rồi “ra đi” khi bà còn trong bụng bà ngoại. Tôi hỏi đau bụng bão là đau như thế nào, bà hỏi lại tôi có biết “đau bụng gió” không, tôi trả lời là đau bụng khi mình trúng gió; bà cười, nói: “Đau bụng bão cũng vậy nhưng đau hơn nhiều”. Tôi gật gù hiểu ngay vì bão là rất nhiều gió gộp lại.

Những tấm hình tôi thích nhứt là chụp cha tôi. Có tấm ông đứng bên chiếc xe hơi mà bánh xe có tăm như xe đạp, có tấm ông đứng chống nạnh, gác chân lên một tảng đá tròn mà lại có miệng rỗng như cái nồi đất khổng lồ. Khung cảnh chung quanh thường là những nhà sàn, đồng ruộng, hay rừng núi và nhiều người trong đó đầu quấn khăn, mình cũng quấn khăn mà cha tôi giảng đó là “xà rông”. Có người đùi trần đóng khố, nhưng thường thì ai cũng có cái gùi trên lưng và trong tay cầm dao dài hay cái mác. Họ nhìn giống như những “đồng bào Thượng” mà tôi vẫn thấy sắp hàng một đi ngang nhà. Trong một cái hình có mấy ông Tây, râu vễnh, và một ông đứng chính giữa, ăn mặc như mấy ông Tây - áo có gù vai, có tua tụi, quần có xà gệch bó dưới chân, mang giày, đeo kiếm; nhưng thấp lùn. Bố tôi nói đó là ông “Su-va-nu-vông” vua cuả những người mặc xà rông, đóng khố.

Dần dần sau những lần nghe cha tôi kể về những tấm hình đó trí óc tôi “may” lại được thành những Cánh- Đồng- Chum, Xiêng- Khoảng, Viên- Chăn, Tha- Khẹt, Luông –Pha- Băng...những địa danh của xứ sở tên là Lào. Cha tôi nói rất nhiều về Cánh-Đồng-Chum nơi ông chụp hình gác chân lên tảng đá to có miệng rỗng như cái nồi đất khổng lồ. Ông chỉ cho tôi lác đác những cái to hơn, nhỏ hơn ở hậu cảnh tấm hình: “Cái này to lắm, người chui vào được”. Rồi ông kể người Lào nói rằng xưa kia nơi đây là xứ của người khổng lồ, họ đẽo những tảng đá thành những cái “chum” như thế này để cất rượu. Tôi chăm chú nhìn và mường tượng ra được những người Lào khổng lồ, tay cầm búa bên những cái chum đá.

Có lần mẹ tôi rỉ rả kể sau những mùa gặt hái người Lào trong những buôn làng mang nông phẩm ra chợ Xiêng Khoảng bán. Họ ở đó hàng tuần lễ và tối nào cũng vào cửa hàng của mẹ tôi mua rượu uống. Ban đêm họ nổi lưả, quây quần trên những bãi đất quanh khu vực đó nướng cơm lam trong những cái ống tre, uống rượu và ca hát. Khi bán được hết nông phẩm họ mua đủ thứ lương thực khô và đồ gia dụng, rồi vào cửa hàng ăn uống no say cho sạch hết tiền mới dẫn nhau về làng. Mẹ tôi thường “đóng” hàng từ Luang-Pha-Băng hay chợ Vinh, và cả Hà-Nội từ trước các vụ mùa để về bán cho họ. Bà nói: “Buôn bán với họ vui lắm, nói bao nhiêu họ mua bấy nhiêu.” Tôi hỏi: "Vậy mẹ có lấy nhiều không?” Bà trả lời: “Lúc đầu thì có, sau thì mẹ lấy vừa đủ thôi...” rồi cười bẻn lẽn.

Những câu chuyện về Lào bao giờ cũng dặm thêm những đoạn tiếng Lào giữa cha mẹ tôi. Tôi chỉ biết quay đầu nhìn qua nhìn lại theo dõi vẻ mặt rạng rỡ vui vẻ của họ và thầm đoán là đong đầy những kỷ niệm thú vị. Có lần cha tôi hứng chí hát: “Nọng ơi nọng, ại mặc nọng. Nọng mặc ại, ại âu pha phe nọng ơ...ơ...hùm.” Thế là mẹ tôi cười ngặt nghẽo; tôi cũng cười phụ hoạ với mẹ. Lúc tôi hỏi nghĩa của câu hát thì mẹ cười, chửi: “Tổ cha mày thì đi có, lớn lên con sẽ biết thôi.” Nhưng tôi cũng học được một ít tiếng Lào khi hai ông bà nói với nhau mà có những đồ vật cụ thể sẳn trước mặt - “mặc kiềng” là trái cam, “mặc cuội” là trái chuối, “kin nậm” là uống nước, “kin khậu” là ăn cơm... Trong những đàm thoại của họ bằng tiếng Lào khi không muốn con cái hiểu về chuyện gì đó thường đệm câu “bò pênh nhẵng à.” Nó xuất hiện khá thường xuyên, và sau khi nó được nói ra thì khuôn mặt của họ diụ lại. Tôi hỏi nghĩa câu đó là gì thì mẹ không chửi “tổ cha mày thì đi có” mà giảng giải ngay là “không sao đâu”, “sẽ tốt thôi”.

Chiến tranh càng ngày càng ác liệt, chúng tôi đã lớn lên, hai chị theo chồng lính đi xa. Sau trung học tôi cũng đi học xa, một năm về thăm nhà vài lần. Cha tôi đã là một ông lão, ông thường bắc ghế ngồi trước sân nhà, mắt xa xăm. Ông không còn liếc nhìn tôi dò hỏi và mở cửa tủ để lấy hộp thiếc cũ ra nữa. Tôi cũng quên đi cái hộp đó. Ngày tôi nhận được điện tín chị tôi gởi bảo về gấp là lúc ông đã nằm trên “đi văng” ở nhà trước, trên phủ một tấm vải trắng. Người ta đang rộn ràng để tẩm liệm. Tôi dở tấm vải trắng phủ mặt, nhìn ông im lặng ngủ, bổng nhiên hiện ra trước mặt tôi rỏ mồn một khuôn mặt hóm hỉnh, rạng rở của ông khi nghêu ngao hát: “Nọng ơi nọng, ại mặc nọng. Nọng mặc ại, ại âu pha phe nọng...ơ...ơ...hùm.” Rồi một nụ cười nở ra trên cặp môi tím thẩm đang mím chặt.

Những ngaỳ sau khi chôn cất ông, bọn tôi thường vây chung quanh mẹ; các chị tôi không muốn để bà ngồi một mình. Khi chỉ có hai mẹ con, tôi hỏi mẹ câu cha tôi thường hát đó có nghĩa là gì. Khuôn mặt u buồn của bà bỗng bừng sáng; bà nhìn sâu vào mắt tôi một lúc như thể độ chừng xem đứa con trai mình đã đủ lớn khôn chưa, rồi miệng cười cười: “Là như thế này nè – Em ơi em, anh yêu em. Em có yêu anh thì anh sẽ mua chiếu cho em nằm...” Rồi bà cười ngặt nghẽo, cùng lúc tay đưa lên quẹt vài giọt nước mắt ứa ra đang chực rơi xuống...



tháng 12 2004, nhớ ngày giỗ mẹ.


Image


10665

Cho người thường ngược giòng quá khứ như htc, những bài văn như vầy đọc thích quá. Cám ơn CDT.


10672


Truyên rất lạ, hiếm có và rất cảm động. Chào mừng các bạn đến vui với eTetet.

Đôn


10673



Image

D A R A,
n g ô i .s a o .b é .n h ỏ
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m




Chiếc ATR hai chong chóng, không đến 40 chổ ngồi, trần thấp đến nỗi người đàn ông da trắng ngồi phía trước lúc bước vào khoang phaỉ cúi lom khom tìm ghế. Cái núm máy lạnh ngay trên đầu như miệng đưá con nít đang chu chu thổi xì xì chút hơi lạnh vô mặt ông ta. Cô chiêu đãi viên hàng không noí trong loa: “Yêu cầu hành khách vui lòng về chổ ngồi, thắt dây an toàn, maý bay sắp chuẩn bị hạ cánh.” Thủ tục vậy thôi, có hành khách nào rời được chổ ngồi trên cái khoang nhỏ xíu, chật ních naỳ đâu. Cuốn “Burmese Days” cuả George Orwell mua ở quầy sách trong phi trừơng Don Muang, Bangkok tối hôm qua còn để trên đuì, chưa đọc hết ba trang vì máy bay cứ dằn lên, xóc xuống chóng mặt, mà cũng chẳng hấp dẫn gì lắm vì tôi đã đọc nó gần ba chục năm trước khi vớ được một bản dưới dạng sách bỏ túi cuả người lính Mỹ naò đó quăng ra sạp sách cũ trên đường Lê Lợi, Saì Gòn. Nó như một chỉ nam về Miến Điện đang trên đường dành độc lập khoỉ Đế Quốc Anh đang tàn lụi. Dù sao thực dân Anh có bao giờ vẽ được một chân dung tốt đẹp về người bản xứ đâu; ngay dưới ngòi bút cuả tác giả "Trại Súc Vật" đầy lương tâm, thì U Po Kyin cũng chỉ là một viên chức bản địa thối nát mà khi chết đi người ta ruả cho đầu thai thành cóc nhái.

Xếp tôi, tổng giám đốc toàn cầu ngành bán buôn là người gốc Nicaragua, có bằng tiến sỹ toán Stanford, có khả năng nhớ những con số như cái máy IBM cuả bộ Tổng Tham Mưu quân đội Sài Gòn trước đây. Ông ta mập ú như ông địa, miệng rộng, mắt lồi và khi nói thì cười hăng hắc, rung rinh cái nọng. Có lẽ do văn hoá Latino ông thường nhào đến ôm cấp dưới ngay khi xuống cầu thang máy bay, hay vưà ló đầu vô văn phòng cuả họ. Nữ thuộc viên cuả ông goị ông là “Pop”. Cuối năm naò tôi và những đồng nghiệp phụ trách các khu vực khác đều được ông goị phone đốc thúc về các chỉ tiêu kinh doanh: “Hey, người anh em. Ta baỏ là chín triệu, chín trăm, chín mươi chín ngàn không thiếu một cắc. Sao trước mặt ta là cái gì thế naỳ?” Nghe mãi đến mướt mồ hôi.

Yangon hiện ra phiá dưới kia khi chiếc ATR chao nghiêng cánh bay vòng trên thành phố. Phaỉ nhớ kỹ là Yangon, không phaỉ Rangoon như thực dân Anh đã goị. Dân da trắng ở đâu cũng vậy –“Đất Hộ” họ phát âm thành “Đắc Kô” và dân Annammite phát âm lại thành “Đa Kao”. Có lẽ việc ông tướng độc tài Nê Win, một thứ Burmese Stalin, đã làm được một việc tốt là lấy lại cái tên rất “dân tộc” cho thành phố naỳ. Cái nóc nhọn có cái lọng trên đó có gắn mấy hột kim cương và hồng ngọc to bằng trứng cút cuả Shweedagon hiện ra; phi trường Yangon cách đó không xa, và văn phòng cuả tôi ở số 38... Bogyoke Aung San Road, quận Pabedan cũng loanh quanh gần đó. Hai năm trước, một buổi ngồi tán dóc bên mấy ly bia trong cái nhà hàng làm bằng gổ ở cố đô Mandalay một anh bạn da trắng hỏi: “Tụi maỳ biết mấy tên phi công khi bay qua Miến Điện sợ cái gì không?” – “No” cả bọn trả lời. Y toét miệng còn dính bọt bia ra cười: “Sợ mấy cái chuà, chúng chiả lên trời tua tuả còn nhiều hơn là đại bác flak flak 12.8 ly cuả Đức Quốc Xã thời thế chiến thứ hai ở Châu Âu nữa!” Cả bọn ngớ ra một chút rồi gật đầu cười ha hả. Đúng vậy chuà Miến là những cái tháp nhọn - bell-shape stupas– hình cai chuông lật úp, và từ cả hai ngàn năm nay họ chỉ làm có mỗi một việc là xây chuà, có lẽ cả chục ngàn cái, khắp nơi. Trên lãnh thổ naỳ nhiều dân tộc khác biệt, họ đánh nhau chí chết, đến nỗi dân Karen kiện nay phaỉ chạy qua Thái Lan tị nạn vậy mà họ đều có chung một sở thích xây chuà. Họ làm cái công việc đó hăng hái, vui vẻ như con nít ra biển Vũng -Tàu đắp cát thành nhà cưả, thành quách. Miến Điện mới đúng là xứ Phật chứ không phaỉ là Nepal nơi Thich Ca ra đời. Bởi thế mà tên cố đô Mandalay có lịch sử hơn ngàn năm nay được lấy từ Mandala, hay Mạn Đà La trong sự tích Phật.

Cưả máy bay mở ra, thang được thả xuống. Không có chiếc xe buýt nào đứng chờ, hành khách nối đuôi nhau nghiêng vai xách bị, xách va li, nghẹo đầu tránh nắng, tuần tự đi bộ vaò nhà ga dưới cái nắng nhiệt đới đổ lửa. Nhà ga Yangon là một thứ phế tích cuả xã-hội-chủ-nghiã Liên Xô không khác “một ly ông cụ” naò với Nội Baì vaì năm trước. Nó gợi cho tôi một cảm giác vưà rờn rợn sống lưng, vưà buồn man mác. Qua khỏi quầy cuả công an nhập cảnh, tiến đến chổ lấy hành lý, tôi liếc mắt nhìn ra khu đón khách. Dau Sapai đang lấp ló nhìn vô, hai bên má người đàn bà là hai bệt thanaka vàng lợt, một thứ bột giã ra từ vỏ cây, dùng que quẹt lên mặt vưà để làm dáng, vưà dể chống nắng. Hầu hết đàn bà con gái ở đây đều làm như vậy - vưà giống những người da đỏ Bắc Mỹ vẽ mặt khi xung trận, vưà giống những diễn viên kịch “Noh” cuả Nhựt Bổn.

Khi lên xe, tôi mệt mỏi ngã lưng lên ghế trước. Vientiane – Yangon chỉ một giờ bay nhưng tôi đã khởi hành từ chiều hôm qua từ Saì Gòn vì phaỉ lấy máy bay từ Bangkok mà chỉ có mỗi một chuyến lúc 8 giờ sáng. Có lần tôi hỏi viên đại diện Bangkok Airlines trong một buổi tiếp tân ở khách sạn Sethathirath ở Vientiane: “Sao hãng các ông không xếp chuyến bay Bangkok- Yangon vaò buổi trưa hay buổi chiều để hành khách chúng tôi từ Vientiane, Sài Gòn có thể đến Bangkok vaò buổi sáng cùng ngaỳ, khỏi phaỉ ngủ đêm trong Day Inn ở phi trường Don Muang?” Người đàn ông Thái cười híp mắt: “Làm thế thì sao chúng tôi móc thêm được vài trăm dollars nữa từ túi các ông?” Giao thông ở các cựu thuộc địa cuả Anh thường theo chiều tay trái, Yangon lại bên tay phaỉ như Sài Gòn; điều lạ là hầu hết xe cộ lại có tay lái “ngược chiều” được made-in-Enland, hoặc nhập cảng từ các nghiã địa xe ở Nhựt Bổn qua ngã Thái Lan, Singapore. Chiếc Volvo cuả Thuỵ Điển này cũng thế; tôi nhận ra được sự khó khăn cuả người tài xế khi anh ta phaỉ chồm cả người qua phiá tôi để nhìn kiếng chiếu hậu. Đây là một trong vô vàn hậu quả tai hại cuả Nê Win để lại. Ông tướng naỳ đã không những cố gắng sao chép xã hội chủ nghiã kiểu Xô-Viết ở Nga mà còn cả cách thức cầm buá liềm cuả Stalin. Sau một đêm suy nghĩ về một màn trình diễn “chống tàn dư ảnh hưởng cuả thực dân Anh” sáng ra ông ta đọc cho chính phủ ban hành một quyết định có hiệu lực tức thời, áp dụng trên toàn quốc, lệnh bãi bỏ luật lưu thông trái kiểu Anh, tất cả phương tiện đổi qua chạy bên phaỉ. Dau Sapai nói lúc đó cô còn nhỏ nhưng cha cuả cô thuật lại là đã có vô số người chết trong những ngaỳ sau đó vì tai nạn.

Những người đàn bà Miến làm việc cho các công ty ngoại quốc vẫn mang dép, mặc xà rông, quẹt thanaka, họ không giống các cô gái Việt, gái Thái đổi sang ăn mặc kiểu Tây phương - vaý, bóp đầm, giày cao gót, thoa Shiseido, Nivea, L’Oreal, Avon. Khi đi ra ngoaì với đàn ông họ giử một khoảng cách vưà phaỉ, do vậy mỗi khi lên xe tôi chọn ngồi phía trước với taì xế để Dau Sapai ngồi sau. Tôi quay người lại bắt gặp ánh mắt Dau Saipai cũng đang vui vẻ nhìn, cô dò hỏi: “Ông mệt không?” -“Sao không mệt? Tôi phaỉ khởi hành từ chiều hôm qua...” Tôi trả lời. Người đàn bà bổng nhiên như trẻ phạm tội: “Tôi xin lỗi...” Họ như thế đó, phật tử mà, họ sẳn sàng động lòng về moị khổ ải cuả kẻ khác, thật đúng nghiã “từ bi”. Tôi cười xoà: “Không phaỉ lỗi cuả cô, lỗi là tại mấy người Thái Lan, họ muốn móc thêm vaì trăm đô la trong túi tôi...” Người đàn bà ngơ ngác, nhưng cũng cười bẻn lẽn phụ hoạ. Tôi noí: “Naỳ Dau Sapai, tôi muốn đến gặp U Aung Khin ngay, sau đó là về khách sạn, mai sẽ vô văn phòng...cô có mang hồ sơ theo đây không?” Hỏi thế nhưng tôi biết người đàn bà chu đáo naỳ bao giờ cũng sẳn sàng công việc; cô ta hiểu rằng nhận được đồng lương là phaỉ đổ mồ hôi, nước mắt.

U Aung Khin lẹp xẹp lê đôi dép nhựt tiến đến đón khách từ sau cái bàn giấy bằng gổ lim thật lớn giưã văn phòng. Thường trước khi bắt tay, người Miến chắp chúng trước ngực lạy. Khách cũng vội vã chắp tay lạy người đàn ông Miến. Do phản xạ bất ngờ đó tôi làm rơi cái cặp đựng hồ sơ xuống đất. U Aung Khin cười hệch hạc cúi xống nhặt rồì đưa tay đỡ lưng mời khách ngồi xuống cái ghế cũng bằng gổ lim bóng loáng, bên cái bàn giấy quá khổ cuả ông ta. Học điạ lý thế giới từ trung học nên tôi biết Miên Điến có nguồn lâm sản qúy giá nhất là lim, trắc, cẩm, gõ. Những vật dụng này được đưa ra khỏi biên giới chỉ vài trăm km là có thể trở thành vàng; đất nước naỳ thật là giaù có, rất tiếc từ khi được Anh Quốc trả độc lập năm 1948 nó đã không được quản trị đúng đắn và họ bị bế quan toả cảng. Tôi nhớ lại những năm 1980 ở VN người ta cấm mang ra khoỉ nước những báu vật quốc gia là tranh sơn maì vẻ con chim con cò, chậu bông, cô gái. Thậm chí dấu một mãnh lụa vẽ hoa may áo daì trong hành lý cũng mang tội buôn lậu, phá hoại kinh tế XHCN.

Dau Sapai rón rén bước đến ngồi lên cái ghế bên kia, tôi liếc thấy cô đã bỏ dép, đi chân trần. Tôi liếc mắt ra sau lưng U Aung Khin, một cái ghế bố chân gổ, lợp bằng ni lông; trên đó chăn gối xếp gọn ghẽ. Vị Tổng Giám Đốc ngân hàng ngoại thương naỳ hiểu ý, nhăn răng vàng cáu thuốc lá ra cười: “Chúng tôi đều phaỉ ngủ lại văn phòng, đó là lệnh. "Ông tướng" có thể goị xuống, hay triệu tập lên bất cứ lúc naò, kể cả lúc nưã đêm...” Tôi hiểu ông ta ám chỉ Than Shwee, người có khuôn mặt giống một ông lãnh đạo trong đảng CS VN xuất thân làm cai đồn điền cao su cho thực dân Pháp, nên gật gù, biểu lộ sự thông cảm. U Aung Khin đẩy tách trà đến trước mặt khách: “Ông Cao! nói ngắn gọn là chúng tôi muốn các ông bảo lãnh cho thương vụ quan trọng naỳ, nhưng phaỉ với một laĩ suất thấp hơn bình thường. Nó là thuốc men, dụng cụ y khoa cho bộ y tế, qua ngã Singapore...rất ít 'yếu tố Miến Điện' nên rủi ro cuả các ông cũng không cao, đúng không?” Tôi lật xem mấy trang trong tập hồ sơ Dau Sapai mới trao rồi thong thả trả lời: “Nguồn hàng từ Đức quốc, các ông không có quan hệ gì với ngân hàng Đức hay sao? Deutsche Bank, Comerzbank, Dresdner Bank họ đều có chi nhánh ở Singapore...DZ Bank AG, HSH Nordbank AG cũng có thể làm offshore từ Đức. Hàng hoá Đức, ngân hàng cũng thuộc Đức thì chắc giá phí sẽ rẻ hơn cuả chúng tôi chứ...” U Aung Khin sa sầm nét mặt, nụ cười chua chát: “Ông Cao, ông biết rõ chuyện cấm vận cuả Mỹ và EU mà, ngân hàng Đức họ đâu có hạn mức cho chúng tôi. Các ông đã làm ăn với chúng tôi từ lâu, sao nỡ nói thế... 5 triệu đô la nhưng không đủ nhu cầu cho tất cả bệnh viện trên toàn quốc, trẻ con không những thiếu sữa mà còn thiếu thuốc...”

Tôi nâng tách trà lên, nuốt một ngụm nước nhỏ để dằn cục nghẹn đang dâng lên trong cổ họng. Hình ảnh đứa con trai sơ sinh cuả tôi nằm trong lồng kiếng trên khu dưỡng nhi ở bệnh viện Từ Dũ mấy chục năm trước sau cái ngaỳ oan nghiệt 1975 đó lại hiện ra trong trí. Trên trán nó là một mãng xanh tím, lồng ngực phập phồng, thoi thóp; hai mắt nhắm nghiền chưa hề mở lần nào. Bà bác sĩ tóc đã lơ thơ bạc, đôi môi mím chặt, noí lí nhí sau tiếng thở dài: “Nếu như trước đây thì có thể giải phẩu cứu cháu được, nhưng hiện nay chúng tôi không có thuốc men và phương tiện đễ làm chuyện đó...” Tình cảnh nước tôi lúc đó còn tệ hơn Miến Điện hiện nay, tôi hơi nao lòng. Nhưng tiếng người xếp gốc Nicaraguan cười hềnh hệch lại vẳng bên tai: “Hey, người anh em, ta noí chín triệu, chín trăm, chín mươi chín ngàn không thiếu một cắc...” Rồi tôi cũng tưởng tượng được lời cuả tướng Than Shwee ra lệnh cho người đàn ông Miến naỳ: “Nhiệm vụ cuả ông là phaỉ làm đủ mọi cách, thương lượng, nhập cho đươc chuyến hàng này vơí cái giá rẻ nhứt...” do đó nhìn U Aung Khin tôi ái ngại khi phải trả lời: "Nể lời ông và mối quan hệ làm ăn giưã hai ngân hàng chúng ta từ lâu, tôi nhận bảo lãnh cho chuyến hàng đó, nhưng là 0.8% không thể thấp hơn. Xin lỗị...” Tôi bắt chước cách xin lỗi cuả Dau Sapai rồi uể oải đứng lên; U Aung Khin cũng đứng lên, đi vòng sau cái bàn gổ lớn bước đến, không có nụ cười trên môi, thay vaò đó là nét đăm chiêu, thất vọng: “Mr. Cao, không thể là 0.5% hay sao? suy nghĩ laị giùm đi, hai hôm nưã tôi phaỉ báo cáo lên cho họ...” Tiếng 'họ' khản đục trong cổ họng ông ta khi đưa khách ra đến cửa. Tôi tần ngần từ giả ông ta, không biết noí gì hơn.

Khách sạn Traders không sang trọng bằng những khách sạn ở Bangkok hay Singapore, ngay cả so với Gài Gòn, nhưng nó có lịch sử thuộc địa. Yangon đã từng là nơi tấp nập con buôn Châu Âu trong thời đó, bên cạnh những vàng, hồng ngọc, gổ teak là sừng tê giác, ngà voi, da cọp v.v... Một ông quản lý già còn cả quyết Rudyard Kipling, và George Orwell đã từng ở đó cũng như người ta kháo Graham Green, Somerset Maugham từng ở Hotel Continental Sài Gòn. Dù sao thì nó cũng đã được sưả chữa thay đổi nhiều lần, chẳng còn dấu tích gì. Khi vào đến phòng, theo thói quen tôi đổ tất cả những thứ trong túi lên bàn, trừ cái passport được nhét vô cặp hồ sơ, khoá lại, để cạnh chân giường, sát bên đầu nằm. Ai biết đâu? nữa đêm có báo động cháy thì trước hết cái cặp là thứ phaỉ xách theo khi chạy ra cầu thang thoát hiểm. Chỉ mươi phút sau là tôi thiếp đi vì mệt mõi.

Sáng hôm sau Dau Saipai và Nye Nye đã có mặt ở văn phòng từ rất sớm. Họ đứng lên chào khi tôi vưà đẩy cánh cưả kiếng bước vaò. Nye Nye mặc cái quần jean xanh tôi tặng trong chuyến công tác trước. Cậu trông vụng về, lúng túng khi không mặc chiếc xà rông. Sapai loanh quanh bên tôi như con mèo, những người Miến Điện nhỏ nhẹ, âm thầm. Trên cái sân chuà Shweedagon bị mặt trời nướng nóng bỏng như mặt bếp lò tôi vẫn gặp họ đi chân không, ngồi xếp bằng im lặng, tay chắp trước ngực hằng tiếng đồng hồ. Tôi vưà ký hồ sơ kế toán, các mẫu biểu báo cáo thuế vụ và các giấy tờ khác, vưà hoỉ han tình hình làm ăn các ngân hàng. Y trang như Việt Nam, Laò, Cambodia vì cùng khuôn mẫu với Nga Xô Viết, Cọng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, hay noí chung là khối Xã Hội Chủ Nghiã, hệ thống ngân hàng chính cuả họ bao gồm bốn ngân hàng quốc doanh: Ngân Hàng Ngoại Thương, Ngân Hàng Công Thương, Ngân Hàng Đầu Tư Xây Dựng, Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp tất cả đều là khách hàng cuả ngân hàng tôi. Đến giờ nghỉ trưa, tôi bảo cả hai ra Bogyoke Aung San Market gần bên cùng ăn trưa. Mắt Nye Nye thì sáng lên trong khi Dau Sapai lộ vẻ bối rối: “Ông không về khách sạn dùng bưã trưa sao?” -“Không, hôm nay tôi đãi Nye Nye, cậu ta mặc cái quần jean, phaỉ có mấy cô gái trong chợ thấy điều đó.” Nye Nye toét miệng cười. Dau Sapai ngập ngừng: “Tôi sợ thức ăn...” Một cách vô ý thức tôi để bàn tay lên vai người đàn bà trẻ như vẫn làm như vậy với mấy đưá cháu gái, miệng cười vui vẻ: “Sapai, để tôi kể cho cô và Nye Nye nghe. Tôi sinh ra trong một mái nhà tranh; ngay sau nhà là cái chuồng heo. Mẹ tôi kể rằng khi tôi cất tiếng khóc oe oe thì mấy con heo trong chuồng vui mừng ghê lắm, chúng kêu la eng éc, náo động cả làng xóm để chào đón tôi...” Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ Nye Nye cười sặc suạ, nó phaỉ gập người xuống ôm lấy bụng...

Dau Sapai goị món toungoo - thịt gà hầm vơí cà chua; samusa - một thứ chả giò quấn thịt ăn với sốt hay cả vơí nước leò đủ mọi dạng; mohinga meiktila - một loại bún gạo trong nước dùng với đủ thứ nhân thịt, có cả trứng luột cắt làm năm, làm sáu. Dù sao trong nhiều món ăn cuả người Miến đều phảng phất hương vị cà ri cuả Ấn Độ. Ngồi trên cái ghế trước quầy hàng, tôi cũng có cảm giác như những lần theo vợ vô chợ Bến Thành, chợ Tân Định chỉ khác một điều là sự yên tĩnh. Chắc người Miến không có thành ngữ “ồn như cái chợ.” Ngay tên ngôi chợ cũng rất “Miến Điện” - Bogyoke Aung San là người anh hùng; Aung San Suu Kyi, con gái ông ta cũng là một nữ anh hùng; người cha thì bị chính đồng đội mình giết chết, chiếm quyền, người con thì đang bị nhốt tù trong ngôi nhà cuả mình; vậy mà kẻ thù vẫn dùng tên cuả ông đặt cho khắp nơi - từ đại lộ cho đến công viên, khu chợ. Không như ở đất nước tôi, kẻ thắng thì vội đào ngay mồ mả cuả người thua cuộc. Cái gốc đạo Phật phần naò ngăn cản được tính sắt máu cuả chủ nghiã chính trị ngoại lai. Bưã trưa xong, khi sờ túi tìm tiền tôi mới biết hơn một ngàn năm trăm đô la Mỹ đã để quên trên bàn trong khách sạn. Ở đất nước naỳ moị chi trả đều bằng tiền mặt như Việt Nam trước ngaỳ "đổi mới" nên tôi phaỉ mang theo nhiều tiền. Dau Sapai phaỉ móc ví trả tiền thế cho tôi. Cô ta lo ngại: “Tôi phaỉ kêu tài xế đưa ông về ngay, giờ này người ta đã dọn phòng rồi...”

Dù đã trấn an người đàn bà Miến bình tỉnh mà một cái ho, hay một cái hắt hơi cuả tôi đều làm cô ta chạy loanh quanh, đến khách sạn tôi vẫn sốt ruột nhảy ba bước một lên câù thang đến lầu bốn vì có một hàng người đang đứng chờ thang máy. Kinh nghiệm ở những nước trong vùng cho tôi biết khoản tiền đó không còn nưã. Một lần ở khách sạn Melia, Hà Nội, tôi chỉ xuống dùng bữa sáng hơn nửa tiếng đồng hồ trở lại phòng thì vaì trăm ngàn đồng để quên trên bàn đã bị lấy mất. Căn phòng cuả tôi hôm nay đã được dọn dẹp sạch sẽ, trên bàn cây viết nằm ngay ngắn bên cạnh những tờ giấy trắng để ở giưã; cái kệ đứng nho nhỏ bằng gổ có nhiều ngăn đặt ngay dưới cái đèn bàn có dắt vaì cái bì thơ trắng cho khách sử dụng vẫn y như hôm qua lúc tôi vaò phòng; tôi lục tìm kỹ, không có mấy tờ giấy bạc, kể cả trong hộc bàn. Tôi đi đến đầu giường, ngồi xuống, dang tay với lấy điện thoại trên bàn đêm để goị cho ban quản lý; bỗng một mảnh giấy dằn bên dưới thò ra, trên đó là những dòng chữ tiếng Anh được viết theo kiểu cuả người Miến với nét tròn tròn như những cái khuyên đeo tai cuả các bé gái:

“Thưa ông, tôi là Dara, người dọn phòng cuả ông. Nếu ông có gì không haì lòng trong công việc cuả tôi xin viết vaò tờ góp ý có mẫu để trong ngăn bàn naỳ. Xin kính chúc ông một chuyến viếng thăm vui vẻ. Ký tên Dara. Tái bút: Đồ vật cuả ông để trên bàn, tôi đã bỏ vaò bì thơ cho gọn ghẽ và nhét nó vaò cái kệ gổ đứng, dưới cái đèn bàn.”

Tôi vội quay lại cái bàn viết, lật vội mấy cái bì thơ trắng; một cái dày cộm, trong đó là món tiền, còn nguyên vẹn. Tôi vội vã ra cưả phòng nhìn ngược, nhìn xuôi; chiêc xe đẩy chất đầy dụng cụ lau chuì, khăn tắm, bàn chải, xà bông đang nằm ở dãy phòng cuối hành lang. Tôi đi vội đến cạnh chiếc xe đẩy trước cưả căn phòng 428 đang mở gọi thật to để át tiếng máy hút bụi đang chạy vo vo vọng ra: “Dara, Dara, có ở đây không?” Tiếng máy hút bụi ngưng bặt: “Vâng tôi là Dara, tôi đang ở đây.” -“Dara tôi là người khách phòng 402, tôi đang đứng trước cưả và muốn gặp cô.” Thoáng chốc Dara xuất hiện ở cuả phòng, cô ta làm tôi giật mình tưởng như nhìn thấy đưá con gái cuả mình ở nhà trong bộ đồng phục khách sạn màu xanh thẩm, chiếc tạp dề trắng thắt ngang lưng. Cô bé, rất bé, khuôn mặt bầu bỉnh, hai cặp má hồng còn có dấu cuả chất bột thanaka, hai tay đang chắp lại trước ngực như những người Miến thường làm khi lạy chào khách. Cô bé ngước lên thoáng nhìn tôi rồi lại cúi mặt, đưa mắt nhìn xuống, chờ đợi: “Thưa ông tôi có thể giúp ông điều gì?” Lặng một chút để tìm tiếng Anh tương đồng với chữ ‘con’ rồi tôi noí: “Dara, my child, con bao nhiêu tuổi?”- “Thưa ông, 18 tuổi” -“Con nhận được bao nhiêu tiền trong công việc naỳ?” -“Thưa ông 30 đô la một tháng.” Tôi cảm thấy lòng mình chùng xuống, nặng trỉu: “Ta đã lấy lại 'đồ vật' cuả ta mà con bỏ vào trong chiếc bì thơ. Ta rất cảm ơn con và muốn con nhận món quà này.” Tôi chià tay đưa chiếc bì thơ trong đó là khoản tiền bằng cả năm lương cuả cô bé đến trước mặt cô ta. Cô bé rụt rè đưa tay nhè nhẹ đẩy trả về phía tôi: “Thưa ông, nếu ông haì lòng về công việc cuả Dara xin ông làm ơn viết nhận xét có mẫu sẳn trong ngăn bàn và gởi cho ông quản lý. Dara chỉ làm bổn phận, xin cảm ơn ông.”

Trước mắt tôi đứa bé đang đứng chắp tay bỗng tỏa sáng như một vì sao, lung linh như bức ảnh cô công chúa người nước Lương bên Tàu hơn ngàn năm trước khi hoá thân thành Quan Âm. Tôi đứng lặng nhìn hồi lâu, rồi nhẹ nhàng để phong bì lên trên chiếc xe đẩy: “Dara, ta để nó đây nhé, bây giờ ta phải về phòng để viết nhận xét trên cái mẫu in sẵn cuả con.”

Sáng hôm sau Dau Sapai đưa tôi ra phi trường, đến nơi, khi cô đang luí húi phụ người tài xế bỏ hành lý cuả tôi xuống, tôi hỏi: “Sapai, Dara trong tiếng Miến có nghiã là gì?” -“Thưa ông, là ngôi sao.” Thoáng sững sờ, tôi lẩm bẩm: “Ôi Dara, ngôi sao bé nhỏ cuả ta!” rồi mở cặp, lôi tập hồ sơ ra, đưa cho người đàn bà Miến: “Sapai, tôi đã ký vào phiếu đề nghị bảo lãnh chuyến hàng cuả ngân hàng ngoại thương. Nhưng tôi muốn cô goị điện thoaị ngay cho U Aung Khin, noí với ông ấy là phí bảo lãnh chỉ 0.4%”

Tháng Tư năm 2003, tặng Dara bé nhỏ, Sapai và Nye Nye.

10685



Image


m ộ t .c o n .đ ư ờ n g .
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m


Vasna Mangkhaseum lắc đầu quầy quậy: “Ông không thể đi đường đó về Việt Nam được. Có cả vợ con ông theo, rất nhiều rủi ro. Sao ông không đi máy bay cho yên chuyện!” Tôi cười: “Nếu đi máy bay thì tôi đâu cần hỏi cô làm gì? Lý do tôi muốn đi đường đó cô không thể hiểu đâu. Chỉ nhờ cô dò hỏi dùm tôi xem gần đây đã có ai đi đường đó về Việt Nam chưa, có hoạt động gì của người H’mong trong khu vực đó hay không.” Cô gái Lào có bằng kỹ sư hóa học từ Belarus mà không biết xà bông được làm bằng chất liệu gì, nói buông xuôi: “Cũng có người Việt Nam qua khai thác gỗ đi đường đó, rất xấu, cả trăm năm nay không sửa chữa tu bổ gì, chưa kể hố bom và đạn phaó tàn phá gần ba mươi năm trước. Người H’mong không ở vùng đó, họ ở tuốt trên Xiêng Khoảng. Thôi, ông để Khambou đưa gia đình ông đi vậy.” Tôi thấy vui trong lòng, ít ra là không có người H’mong. Tuần trước một du khách bạo gan người Anh đã bị bắn chết trên đường lên Luang-Pha-Bang. “Này Vasna, cô vừa nói gần ba mươi năm trước bom và đạn pháo tàn phá con đường đó, đấy là lý do tôi muốn đi. Tôi về Saì Gòn ba tuần lễ, Khambou không thể xa mấy bà vợ của ông ta lâu như thế.” Cô gái Lào lôi ra từ trong cái giỏ xách một bó nhang đưa cho tôi; mắt tròn xoe nhìn, cố gắng tìm kiếm một câu chuyện lờ mờ nào đó trong trí não người đàn ông Việt Nam về cái thưở cô mới chỉ là một đứa trẻ mới chập chững biết đi.

Con đường quốc lộ 13 từ Vietiane xuống Savanakhet, được các công ty cầu đường Việt Nam thầu xây dựng laị với tiền viện trợ cuả chính phủ Nhựt Bổn, khá bằng phẳng, êm ái nhờ những chiếc xe “ben” khai thác gổ của Việt Nam chưa kịp cày nát. Cách cả trăm kilô mét mới có một xóm làng thưa thớt, chiếc Land Rover Discovery động cơ turbine chạy bằng diesel chưa đầy ba tuổi, có lúc phóng trên 140km/giờ trên đường hoang vắng không một bóng người, một bóng xe. Đứa con gái bảy tuổi bỏ chỗ phiá sau leo lên ngồi ngay trên cái glove compartment bên cạnh ghế tài xế; nghiêng đầu ôm cổ cha, hát nghêu ngao: “Please find me a home, where the buffaloes roam, where the deer and the antelopes play...” Hai mẹ con theo cha khắp nơi không một lần thắc mắc; tấm lưng và bờ vai của người đàn ông là chỗ tựa an toàn cho gia đình từ xưa nay, nếu có phải vì thế mà gặp trắc trở hoạn nạn họ cũng chỉ đổ lỗi cho số phận. Ý nghĩ đó làm tôi chột dạ, chuyến hành trình xa xôi, trắc trở naỳ có phải là một sự ích kỷ, liều mạng hay không? Trưa đến chúng tôi dừng xe lại bên một cánh đồng luá nếp đã gặt, trơ gốc rạ, bên một chòi tranh cách đường vaì mươi mét, dựng trên mấy cây cột khẳng khiu, có chiếc thang nhỏ bắc lên cái sàn bằng tre nứa. Bốn bề trống lốc, chỉ có một gian buồng nhỏ vách bằng phênh tre đan vưà đủ chỗ cho một người nằm, bên cạnh một cái bếp phủ tro nguội lạnh. Đứa con gái lôi được từ trên vách xuống một cây cung nhỏ với mấy mủi tên bằng tre vót nhọn mang khoe với mẹ đang loay hoay trải tấm nylon lót chỗ ngồi và bày biện bữa trưa: bánh mì thịt mua ở một tiệm người Việt trên đường Setthathilath, mấy ống nứa cơm nếp ở chợ bản Thông Cảng, ít trái vú sữa hái trong vườn trước nhà và vài trái dừa tươi nướng. Đất nước Việt phủ bóng dừa từ bắc miền Trung vào đến Cà Mau nhưng không đâu trái dừa tươi được nướng chín như ở Lào và Thái. Dưới sức nóng cuả lửa than chất dầu và đường từ trong vỏ, trong cơm dừa non ứa ra hoà tan vào nước bên trong tạo một mùi thơm nhè nhẹ của đường cháy và vị béo của dầu trong vị nước thanh thanh. Sau bữa trưa, gió đồng hiu hiu thổi con buồn ngủ rơi vô mắt đứa trẻ; nó nằm dài trên sàn nứa, ngoẹo đầu lên đùi mẹ; khuôn mặt ngây thơ, thanh thản; tay còn nắm chặt lấy chiếc cung tre. Những lúc như thế người mẹ ngồi yên bất động, lâu lâu nhăn mặt xúyt xoa vì mỏi, rồi liếc mắt nhìn người cha trách móc. Nhưng làm thế naò được nếu cái đùi mềm mại cuả người đàn bà là chỗ chọn lựa để tựa đầu của đứa con? Cách tốt nhất để chia sẻ là người cha rón rén đến ngồi ngay sau người đàn bà của mình, đưa tấm lưng cho bà ấy tựa vào. Và đến lượt ông ta phải ngồi yên không nhúc nhích khi nghe được tiếng thở đều đều của vợ; lâu lâu nhăn mặt xuýt xoa cho đỡ mỏi, trong đầu ngân nga “Nắng chia nữa bãi, chiều rồi. Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá sầu...” trong làn gió đồng ngai ngái mùi rạ khô thoang thoảng thổi qua.

Sau hơn ba giờ trên quốc lộ 13 dọc theo con sông Mekong, và hơn hai giờ nghỉ trưa trong cái chòi canh luá gần bản Na Hine chúng tôi đến Savanakhet. Tối đến, trong một nhà hàng ăn nhỏ sát bờ sông Mekong chúng tôi vừa nhấm nháp món gỏi “lạp”, và mấy con chim mía kẹp que tre nướng than vưà ngắm ánh đèn lấp loáng cuả thành phố Mukdahan bên kia sông thuộc đất Thái. Người Thái nắm gần 70% thương mại cuả Lào nên họ đã bỏ tiền xây hai cây cầu “hữu nghị”, một ở đây, một ở Vientiane để dễ chuyên chở hàng hoá. Trước đây cũng đã có những người Lào liều mạng chèo những chiếc thuyền nhỏ vượt biên qua bờ bên kia. Nhiều người đã bị bắn chết, xác nổi trên sông, nhưng con số ra đi không nhiều có lẽ vì đã không có cải cách ruộng đất và đánh tư sản như ở Việt Nam. Cũng chẳng có nhiều công sở, trường học để phân biệt đối xử ba đời. Trong mười người Lào thì bảy, tám người đã tự trồng trọt, săn bắt kiếm ăn không đợi chính phủ cất công đày ải lên khu kinh tế rừng thiêng nước độc. Địa chủ cuả Lào là những người đi chân trần, tay cầm bó lửa tay cầm nắm lúa. Họ chọn những bãi đất hoang đốt sạch cỏ, đợi mùa mưa đến rải những nắm lúa nếp xuống nền đất sũng nước mà tro than đã hòa thành phân bón. Đến mùa lúa chín họ làm những cái chòi canh thú rừng ra phá hại, nhân tiện “cải thiện” bữa ăn với những cái cung tên bằng tre. Khi đất trở nên khô cằn họ di chuyển qua những khu vực khác. Một đất nước hơn hai trăm ngàn ki lô mét vuông cho năm triệu dân không có ai là tá điền hay kẻ làm thuê nên không có đối tượng để phát động đấu tranh giai cấp. Tư sản của Lào đa số là những người Việt định cư từ bao đời, họ làm chủ hầu hết các cửa hàng trong chợ và ngoài phố. Rất nhiều người đàn bà trong chợ Savanakhet đều mặc váy, ăn nói nhỏ nhẹ chậm rãi như những người Lào khác nhưng hàng hoá của họ bày bán lại là bánh dày, bánh đúc, bánh cuốn, bánh tét, bánh chưng, chả luạ, chả quế, bún, phở...quê quán của họ là Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh.

Rất sớm sáng hôm sau, khi mặt trời chưa ló dạng chúng tôi đã lên đường. Con gái nằm dài trên băng sau, mẹ đắp cái mền mỏng cho nó tiếp tục lơ mơ ngủ. Con đường 9 nổi tiếng cắt ngang Nam Lào từ đông sang Tây đi thẳng vào thành phố Savanakhet sát bên bờ sông Mê Kông. Từ giao lộ với đường 13 về hướng đông không đến 10km nó bắt đầu phơi bày dấu tích thời gian, và biến cố lịch sử, chứng minh lời Vasna Mangkhaseum đã nói: “Ông không thể đi đường đó về Việt Nam được.” Đứa con gái bảy tuổi mở choàng mắt, bật cười khanh khách khi nó bắt đầu được quăng lên, quăng xuống như đang nhảy trên một cái trampoline. Khi ba bốn tuổi nó cũng đã thích được nhồi tưng tưng như thế trong xe lam trên đường về thăm quê ngoại. Trước mắt tôi là con đường chi sáu mét bề ngang dày đặc miệng núi lửa tí hon, lỗ chỗ như trên những tấm hình chụp mặt trăng đăng trong tạp chí Thế Giới Tự Do, hay trưng bày trong các phòng thông tin Hoa Kỳ mấy chục năm về trước. Chiếc xe liên tục văng lên cao rồi vục đầu xuống như con bọ hung trên con đường gồ ghề. Vợ tôi bám chặt vào cái tay nắm trên trần xe, đầy vẻ ngạc nhiên: “Đường như thế này cở bao xa?” Tôi trả lời: “Gần ba trăm cây số!” Bà ta thảng thốt: “Uả, vậy sao?” Trời bắt đầu đổ mưa, không gian mù mịt nước; đồng cỏ, rừng nuí chung quanh bắt đầu nhạt nhoà, phiá trước mắt những ổ trâu, ổ voi bắt đầu ngập nước, một màu đất sét đỏ ối như son môi, chờ khi chiếc xe vục đầu xuống thì bắn tung lên như cảnh tạp chí National Geographic chụp được lúc con cá voi sát thủ tung mình lên trời rồi rơi xuống biển. Chiếc Land Rover giảm tốc độ xuống không quá 15km/giờ, gầm gừ. Tôi chợt nhớ đến câu chuyện giữa Randy Manson với John Briston trong bữa cơm tối bảy, tám năm trước lúc tôi và Randy trở về Sài Gòn sau chuyến đi trên đường 14 bên Việt Nam lên Đồng Xoaì, Bù Đăng, Bù Đốp thăm mấy cánh rừng đồn điền cây khuynh diệp được trồng làm nguyên liệu sản xuất bột giấy - con đường 14 nổi tiếng trong cuộc rút lui thảm khốc từ cao nguyên về đồng bằng của dân và quân đội Miền Nam gần 25 năm trước đó. Chiếc Toyota Land Cruiser chạy dầu diesel lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam sau ngày “mở cưả” cũng đã ngóc đầu đầu lên rồi vục đầu xuống trên con đương bị chiến tranh cày nát, đầy uất khí. Randy mô tả bốn giờ đồng hồ cho chuyến hành trình trên dưới 100km bằng một câu ngắn gọn: “We had to negotiate with the road quite hard.” – Chúng tôi đã phải ‘thương lượng’ khá khó khăn với con đường. Cũng như thế, con đường 9 Nam Laò đang im lìm trải ra tước mắt với thử thách và đe doạ gấp chục lần; nó không vô tri mà là một thực thể thách thức một cách kiêu mạn, hiên ngang, và dữ dội. Chỉ một khoảng cách vài mét chạy trên đó đã là một cuộc ‘thương lượng’ căng thẳng. Tiếng cười khanh khách của đưá con gái không còn vang lên từ phía sau, trên kính chiếu hậu là đứa bé gái ngồi thẳng lưng, tay bấu chặt vào thành ghế, khuôn mặt căng thẳng, ngạc nhiên. Tôi cố gắng đưa xe lên một khoảnh đất khá bằng phằng ở một khúc quanh, rồi dừng lại.

Mưa hè vẫn lớn hạt, trời đất còn mù mịt nước nhưng cây cối hai bên đường đã lộ rõ, ướt lướt thướt như những bộ hành đang giàng hàng ngang nhìn chằm những kẻ xa lạ. Không một bóng nhà, bóng người; một tiếng chó sủa, gà kêu; gần một tiếng đồng hồ không một chiếc xe chạy cùng chiều, ngược chiều. Tôi hỏi: “Đường khó đi như thế này thôi mình quay về, sau này đi máy bay hay tìm đường khác...” Người đàn bà ngần ngừ giây lát, quay lại nhìn con dò hỏi: “Sao con có sợ hay mệt gì không?” Đưá bé nhoẻn miệng cười, lộ bên má phính cái đồng tiền: “Không sao mẹ ơi, nhảy tưng tưng còn hơn đi xe lam, vui lắm.” bà ta trả lời: “Chỉ còn hơn hai trăm cây số, nếu anh chắc xe không bị gì thì vừa đi, vừa nghỉ; chiều tối cũng đến nơi.” Chiếc Discovery chưa đầy ba tuổi, được chế tạo cho những chuyến safari trên điạ hình thiên nhiên Châu Phi, có lẽ trong việc “thương lượng” với bề mặt chị Hằng thì nó chỉ thua kém những chiếc xe “ben” chở gỗ. Điều lo lắng nhất cuả tôi là những người Mèo bất mãn, ly khai với chế độ. Họ thường phục kích bắn chết lữ hành trên những nơi hoang địa, nhất là nhắm vào người ngoại quốc, một phần để phá hoại ngành du lịch xâm nhập lãnh thổ của họ, phần khác để gây tiếng vang với quốc tế về sự hiện diện và đối kháng của mình. Nhưng những người Mèo đó không ở Nam Lào, xứ sở cuả họ là rừng núi phương Bắc như Vasna đã khẳng định. Một thoáng áy náy trong lòng khi đưa vợ con vào chuyến đi có thể mang lại bất trắc, hiểm nguy; nhưng họ không bao giờ rời tôi nửa bước từ khi đưá bé chào đời. Người đàn bà cứ nhắm mắt theo chồng, miệng không ngừng xác định: “Sống cùng sống, chết cùng chết.”

Mưa bớt hạt, lất phất, rả rích. Trời đã sáng rõ dù không gian vẫn xám xịt. Hơn một giờ “đấu tranh” với con đường tôi đã thành thạo cách lùa những ổ trâu lọt thẳng vào gầm xe, và nghiêng nghiêng bánh trên, bánh dưới ở những ổ voi lớn hơn hai thước. Chiếc xe bớt ngóc đầu lên, vục đầu xuống mà nghiêng qua nghiêng lại, lắc lư như con taù “say sóng” trên biển. Đứa con gái lâu lâu lại bật cười khanh khách, gần một năm nay nó đã quen với những con đường Lào lúc la, lúc lắc như thế này ngay từ ngỏ nhà đến trường Vientiane hơn một cây số mỗi ngaỳ hai bận, sáng đi chiều về.

Sau hơn một giờ nữa, ngoằng ngoèo, chao qua, đảo lại, chúng tôi dừng bên một chòi tranh; noí đúng ra chỉ là một cái sạp nhỏ có lợp mái. Trên sàn bày naò dừa, thơm, đu đủ, ổi, xoài rừng còn xanh; trên cái thanh tre ngang sát mái chòi treo lũng lẳng vài nải chuối đã chín. Nhìn mông ra xa, sát bên bìa rừng, cách khoảng một cây số thấp thoáng những nhà sàn, bụi tre, bụi chuối. Tịch nhiên không một bóng người. Con gái tôi khệ nê ôm một trái đu đủ lên, nhìn tôi toét miệng cười, món giải khát ưa chuộng của nó mỗi trưa Lào nắng cháy. Vợ tôi chọn một trái thơm, một nải chuối cau rồi bỏ mấy chục ngàn “kíp” vaò trong một cái lon rỉ sét để bên mấy thứ trái cây. Người “nhà quê” xứ Lào buôn bán như vậy đó, họ không bao giờ ngồi canh ở những cái sập hàng dựng bên đường, ai trả bao nhiêu tùy ý. Chúng tôi có thể lấy đi những trái cây đó mà không trả tiền; không phải vì sợ những con “ma xó” của người Lào như nhiều lần Vasna, cô thư ký, từng khẳng định là bà ngoại của cô ta vẫn “nuôi” khi cô chưa sinh ra đời, nhưng vì sự kính trọng con người và đất nước hiền hoà này; họ mang cho chúng tôi sự bình yên, tình người mà nơi quê nhà chúng tôi đã bị đánh mất.

Mưa đã ngừng hẳn, bầu trời quang đãng và sáng bừng lên dù ánh nắng vẫn chưa xuyên thủng màng mây mù vần vũ. Chiếc Discovery như một con trâu rừng gầm gừ, chồm lên, chồm xuống, nghiêng qua, nghiêng lại dằn xóc những người hành khách trong lòng nó như những que xăm tre trong cái ống được thiện nam, tín nữ xóc lên xóc xuống trước bàn thờ Lăng Ông bên cạnh chợ Bà Chiểu mỗi dịp năm mới. Vợ tôi phải bọc những thứ trái cây mới mua từ cái chòi lá trong mấy cái áo len của hai mẹ con, đặt trong cái xách du lịch đựng quần áo, dằn dưới chân. Con gái tôi tay cầm quả chuối lột vỏ, miêng nhai nhóp nhép, cười thích thú với tài làm xiếc vừa mới học được như thể vừa nhảy trampoline vừa ăn xúc xích.

Giữa khua ngày mùng một Tết chúng tôi choàng thức dậy bởi những tiếng súng nổ ầm ỉ từ đâu vọng về. Sáng ra, cả thành phố im lắng, không tiếng xe chạy. Radio cho biết Sài Gòn đang ngập tràn khóí lửa. Đài phát thanh thành phố đưa lời các chỉ huy quân đội kêu goị những quân nhân đang nghỉ Tết phải vào trình diện đơn vị tức thì. Thiên hạ đổ ra đường trước sân nhà nghe ngóng. Hàng xóm kháo nhau ‘phía bên kia’ đã về đến Hội Trường Hoà Bình, đã bắn chết một sĩ quan cấp tá và tuỳ tùng trên đường từ trường Võ Bị ra phố ăn phở đầu năm. Nhà tôi cách Hoà Bình chỉ một con dốc Duy Tân không quá hai trăm mét chim bay. Như kiểm chứng cho lời đồn đó, từ dưới ngã ba trường Việt Anh chiếc Peugeot 405 màu da trời cuả ông bà bác sĩ Vincent chạy khá nhanh ngang chỗ chúng tôi đang đứng, lên dốc Duy Tân, hướng về phía Hoà Bình. Chỉ vài mươi giây sau có tiếng súng nổ chát chúa rồi tiếng xe gầm rú, chiếc Peugeot phóng ào ào xuống trở lại, vút qua mặt chúng tôi, thấp thoáng sau cửa kính bể nát bà Vincent đang hai tay ôm lấy mặt. Mọi người vội chạy vào nhà. “Liêụ họ có tràn xuống đây không?” vợ anh Hải, một chốc sau thò đầu ra cửa, hỏi vu vơ. “Chắc là không, nhưng phải chờ xem bên ‘mình’ phản ứng ra sao đã.” Tôi trả lời. Khoảng hai giờ chiều, một chiếc Phamtom F4C xuất hiện từ phiá Nam, gầm rú đinh tai nhức óc rồi lao vun vút xuống khu rừng núi hướng Cam Ly. Những cột khói đen bốc lên, sau đó là những tiếng nổ rung rinh mặt đất. Chiếc F4C đảo lại, rồi tiếng đại bác kéo hàng tràng cùng vệt khói bốc ra rung rung dưới cánh máy bay. Khi chiếc Phantom khuất bóng sau cơn quần thảo, thì tiếng động cơ trực thăng xoành xoạch vút qua mái nhà, bay sát trên đường Phan Đình Phùng rồi nghiêng nghiêng nhả những quả rốc-két vun vút xuống phía Hoà Bình. Lúc bay đảo lại, họng đại liên cuả chiếc UH1 gầm lên như bò rống, vỏ đạn đổ xuống mái nhà, xuống mặt đường kêu loảng xoảng. Sau đó phố xá lại rơi vào im lặng. Moị người lại tụ tập trước sân nhà mặt ai cũng đăm chiêu. Bỗng từ phiá nhà đèn, hướng Cam Ly, xuất hiện hàng người tay bồng, tay bế, tay mang, tay xách; mặt mày hơ hãi, thất sắc; kẻ băng bó trên đầu, kẻ dưới chân. Người trong xóm tuá ra hỏi han. Đúng lúc đó nó xuất hiện trước mặt tôi từ trong đám chạy loạn. Nhà nó ở trên triền đồi ấp Du Sinh. Tôi đỡ lấy cái cặp sách nặng chĩu trên tay nó, kéo ngồi xuông thềm trước sân nhà. Trên áo quần nó loang lỗ những vết máu. Nó lắc đầu: “Không phaỉ máu cuả tao, máu cuả ông già bà già...chết cả, nhà tao chết cả...” Không giọt nước mắt hay nét bi thương trên khuôn mặt cuả nó. “Tao đang tính chạy tạm lên trại tiếp cư ở chuà Linh Sơn; mai hai mốt, yên yên sẽ quay về lại nhà lấy xác họ.” Tôi lôi nó vaò nhà, đưa lên gác, bỏ cái cặp sách lên bàn và cái ba lô quần áo xuống giường. Mẹ tôi kéo nó ngôì trên “đi văng”, dúi vaò tay nó ly nước trà nóng. Chúng tôi vây chung quanh, im lặng nghe những câu noí ngắt quãng, thẩn thờ cuả nó: “Chúng nó về lúc đêm khuya; quần aó đen, chân mang dép làm bằng vỏ xe, tay cầm súng. Chúng lôi ông già ra sân, tụ tập gia đình chung quanh, đọc bản án. Một tên cầm súng ngắn bắn ngay màng tang. Ông cụ ngã xuống, bà cụ và bọn tao nhào đến. Thằng Khang ăn một báng súng vaò đầu, tao ăn một báng vaò vai. Bà cụ ôm ông già gào khóc, chúng lôi dậy mang nhốt cả vào trong nhà. Suốt đêm chúng nấu ăn, uống trà, cà phê trong bếp và bàn định những gì nghe không rõ. Tất cả đều nói tiếng Quảng Nam, Quảng Ngãi chỉ có một tên noí giọng Bắc nhưng không theo kiểu bọn di cư chúng tao. Sáng ra có tiếng quát, tiếng khóc vang từ những nhà phiá bên kia con rạch, tiếng súng nổ trên Nhà Thờ Du Sinh. Mày biết chỉ có vaì gia đình như bọn tao là Phật Giáo, còn lại là Công Giáo. Gần nhà thờ là khu ký túc xá cuả mấy tay học sinh trong chủng viện hay Don Bosco. Rồi chúng lôi bọn tao ra, xác ông già còn nằm ngay chổ ngã xuống, máu đông cứng trên sân đất. Có mấy người nhà ở dưới con rạch cũng bị lôi lên đó. Bọn chúng giải thích chánh sách và chủ trương cuả giải phóng, tuyên bố đã nổi dậy cả nước và chiếm được toàn bộ Saì Gòn. Những người bị tuyên án, xử bắn là thành phần ác ôn, hợp tác với Mỹ Ngụy. Maỳ biết ông già tao chỉ là taì xế lái xe đổ đất cho hãng thầu RMK làm laị con đường Quốc Lộ 1. Trưa đến chúng tập hợp lại khá đông, trong đó có thằng Thạch vẫn làm thuê cho bà cụ tao trên mấy sào vườn bên bờ con rạch. Nó ăn mặc giống như bọn kia nhưng tay đeo cái băng đỏ. Bây giờ thì tao hiểu tại sao bọn người lạ mặt này có thể lôi từng người chúng không hề biết ra tuyên án, rồì xử bắn. Bọn chúng loanh quanh ở trong khu vực như chờ đơị gì đó. Rồi mấy chiếc phản lực đến, bom nổ, đạn cày khắp nơi. Bọn chúng chạy tán loạn vaò nhà dân, nấp dưới những cái mương nước. Một số chết ngay loạt đạn đầu. Thằng Khang em tao cũng gục ngay trước thềm nhà. Tao lôi bà già chạy được lên “ta luy” đất sau nhà, chui vô đám rừng thông trên đỉnh đồi, bà già yếu chạy không nổi, phaỉ chậm lại. Một số bọn chúng cũng chạy ngược lên, giơ súng bắn loạn xạ. Bà già ngã xuống, mất nửa mãng đầu. Tao lăn vô một hốc cây đổ. Hơn tiếng đồng hồ sau không còn nghe động tĩnh, tao vác bà già quay ngược lại nhà. Bọn nó rút đi đâu mất hết. Tao lôi ông già vaò đặt lên giường, bên cạnh bà già, thằng Khang ngay trên cái sập trước nhà, vớ vội cái balô và cặp sách vở chạy theo bià rừng, ra đường, mò đến đây...”

Mờ tối hôm đó anh Hải bên hàng xóm, con ông bà Hợp Lợi, từ trong Võ Bị lái xe Jeep về. Anh cho biết tiệm ảnh Hồng Châu bên cầu dẫn vô lầu hai chợ bị cháy. Trong đó có hai người bên kia bị bắn chết. Mấy người giải phóng chiếm rạp Hoà Bình đứng trên nóc bắn xuống xe ông bà BS Vincent và ông thiếu tá Th. cũng bị trực thăng bắn nát. Họ chỉ gồm năm, sáu người lọt được vô khu đó. Không có ai sống sót. Suốt đêm vẫn còn nghe thấy tiếng súng ầm ỉ từ phía cây số 4 và khu Du Sinh. Ngaỳ mùng ba Tết moị sinh hoạt đã trở lại bình thường trong thành phố, có tin quân đội đã chiếm lại những nơi bên kia xâm nhập. Toán thanh niên gia đình phật tử đã đến khu số 4 cứu trợ đồng baò chiến nạn, có cả gia đình chín người đều chết khi một quả bom rơi đúng giữa nhà cùng với vaì người bên kia về giải phóng. Nó sốt ruột muốn quay trở lại Du Sinh nhưng mẹ tôi cản lại, dù gì mọi người cũng đã chết, còn mình nó duy nhứt cần phaỉ bảo trọng chờ đến khi biết chắc chiến sự không còn ở nơi đó nữa hãy về. Nhưng chỉ đến khi nghe đài phát thanh loan tin Lê Tự, một gia đình phật tử đi cứu trợ trên cây số 4, chết banh xác vì dẫm phaỉ mìn bên kia gài lại thì nó mới nén lòng chờ. Mùng bốn Tết, khi những người bên kia đã rút hết, tôi chở nó trên chiếc honda dame trở về Du Sinh. Chúng tôi leo lên cái dốc cao, đứng trên triền núi sau nhà nó nhìn xuống, căn nhà đã đổ sập, cháy đen. Những vị sư trong chuà Linh Sơn làm tang lễ cho gia đình nó theo nghi thức Phật Giáo. Nó lưu lại trong nhà tôi vaì tuần lễ sau đó tạm trú với một người bà con ở ấp Thánh Mẫu. Bọn tôi vẫn gặp nhau thường xuyên trên sân trường Trần Hưng Đạo. Tôi chưa bao giờ thấy một giọt nước mắt cuả nó, chỉ một khuôn mặt trầm buồn, ít nói, cặp mắt xa xăm. Tháng bảy năm đó nó đến nhà chơi, cùng nhau ra ngồi trên cà phê Thuỷ Tạ, nhìn xuống mặt nước hồ Xuân Hương phẳng lặng. Nó vưà xong Tú Tài một, tôi chià tay bắt nhè nhẹ, chúc mừng. Nó nói: “Chắc khá lâu mơí gặp lại. Cuối tuần tao xuống Sài Gòn, vô Thủ Đức.” Tôi hỏi: “Maỳ không thể đợi cho xong tú tài hai hay sao?” Nó nhìn trừng vào tôi, trong ánh mắt loé lên những tia lưả trắng sáng: “ĐỂ LÀM GÌ?”

Giửa năm 1969 tôi nhận được thư nó báo tin đã về Lữ Đoàn 2 nhảy dù, đang đóng ở miền Trung. Thư từ lác đác không giúp tôi theo được dấu chân chiến binh cuả nó. Thỉnh thoảng gặp Hạnh, cô nữ sinh Buì Thị Xuân, hỏi tin tức cuả nó thì biết họ vẫn thư từ đều đặn cho nhau, tôi cảm thấy vui vẻ trong lòng. Cuối năm sau, nó xuất hiện trước cưả nhà tôi; cao lớn, rắn chắc hơn trước; da đen đủi nhưng mặt rạng rỡ; vẫn trầm ngâm nhưng ánh mắt không còn xa xôi. Hạnh e thẹn, khép nép sau lưng. Bọn tôi ngồi trong quán cà phê Tùng, sát bên cưả sổ, chỗ trước đây nó vẫn thích để được nhìn chiều xuống trên khu Hoà Bình loang loáng ánh đèn, in bóng gót chân rón rén cuả những nữ sinh trong đồng phục lụa trắng khi mặt đường sủng nước sau cơn mưa. Uống hết tách cà phê, nhìn bàn tay Hạnh âm thầm bấu chặt vào bàn tay nó tôi đứng lên, nói lời chia tay, hẹn ngaỳ gặp lại.

Lá thư cuối cùng cuả nó gởi cho tôi khi trận Hạ Laò đã mở màn. “Tao viết cho maỳ lần naỳ có thể là lần cuối. Lữ Đoàn 1 đã đổ xuống Hạ Laò, đụng độ lớn với cộng quân đã đồn trú ở đó từ bao năm nay; chiến trận ác liệt và đẫm máu. Lữ đoàn cuả tao vưà mới được lệnh vượt biên giới. Mục tiêu có lẽ là đánh chiếm và lục soát con đường 9, tao vội viết cho maỳ vaì hàng trong khi chờ trực thăng chuyển quân. Chiến chinh naò không có lúc dứt cơn máu lưả? khi yên bình có dịp đi trên con đường naỳ maỳ hãy nhớ đến tao. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi? Hãy an ủi Hạnh nếu tao không về. Một lời chia tay bạn cũ.”

Nó đã không trở lại, kể cả cái xác tan nát cuả nó. Trên báo chí sau đó là những tin tức khốc liệt cho cả hai bên, rồi dần dần cũng luị tàn. Chiến thắng hay chiến bại đối với Hạnh là vô nghiã; một lần sau ngaỳ đất nước sụp đổ người con gái đã buông tiếng thở daì: “Cho tôi sống lại một ngày, chỉ một ngaỳ thôi cái thưở xưa đó, rồi chết cũng mãn nguyện...” Cuối năm đó trên một ghế đá vườn Bích Câu bên bờ hồ Xuân Hương vắng vẻ, người ta tìm thấy một cô gái đắp một tấm chăn mỏng, nằm im lìm trong giấc ngủ triền miên, tay nắm chặt ống thuốc đã rỗng không.

Trời lại mưa lất phất, những nỏm nuí đã xuất hiện nhấp nhô từ phiá xa, một màu đen thăm thẳm kỳ bí - rặng Trường Sơn, với những đèo dốc ngặt nghèo. Bỗng xa xa có bóng người lố nhố bên cạnh một chiếc xe đang đỗ trên đường. Tôi cố dương mắt nhìn kỹ. Người Mèo ư, hay bọn cướp đường? Một dòng điện lạnh toát chạy trong sống lưng. Tay tôi mò xuống bên dưới ghế, cái monopod cuả máy chụp hình bằng nhôm cứng, có đầu nhọn, đã thủ sẵn còn nằm đó. Tôi trả xe về số nhỏ, cái máy diesel turbo vưà gằn vưà hú lớn lên như xe tăng; nó vưà nghiêng ngã trờ tới tôi vừa chồm lên dán mắt vaò những con người đang đứng chắn ngang mặt đường rồi noí nhỏ cho vợ vưà đủ nghe: “Em và con thắt dây cho chặt, cúi đầu thấp xuống khi nghe anh la lên; anh không ngừng lại và sẽ tông thẳng vaò bất cứ ai chận đường.” Vợ tôi đưa mắt nhìn tôi gật đầu, rồi liếc nhìn ra phiá sau. Con bé bảy tuổi đang toét miệng cười: “Có mấy chú đàng trước kià bố ơi!” -“Ừ, con nhớ cúi đầu xuống cho thấp, vịn tay cho chặt nếu mấy chú chặn xe mình lại...” Con bé ngạc nhiên: “Sao vậy bố?” -“Vì mấy chú đuà kiểu này nguy hiểm lắm, bố mà ngừng xe lại là nó trợt lăn xuống hố...” Con bé gục gặc đầu ra vẻ hiểu, cái răng sún và đồng tiền bên má làm tim cha nó thắt lại.

Bóng dáng ba người lộ dần trên mặt đường - một đàn ông tóc bạc đang dạng chân, dang tay ra vẫy; một đàn bà trong y phục màu trắng đứng sát cạnh chiếc Toyota Landcruise màu kem còn rất mới, bê bết bùn đỏ; một đàn ông trẻ đứng sau xe, tay cầm một thanh sắt. Không thấy ai cầm súng, cầm dao; y phục khá trang trọng, chẳng lẽ là một kiểu Ma Baker cướp đường? Không gian như đọng lại trong một khúc phim quay chậm. Nhận thức cuả bộ não đang mở hết công suất qua cặp mắt trừng trừng nhìn người đàn bà có vẻ mặt lo âu, mệt mõi; đến người đàn ông tóc bạc, bơ phờ, quần áo ướt sủng; rồi quét xuống mặt đường loang lỗ những mãng dầu nhớt đen thẩm loang trên mặt nước mưa loang những vệt cầu vồng – đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm tím...Ôi, thì ra đám người bị hỏng xe giưã rừng núi hoang vắng, mênh mông...

Tiếng máy chiếc Discovery dữ dội khiến người đàn ông bị trấn áp, có lúc định luì vaò tránh, rôì lại lưỡng lự tiếp tục đứng giữa đường vẫy tay lia liạ. Tôi vẫn để xe chạy chầm chậm, quay kiếng xuống gọi lớn bằng tiếng Anh: “Who are you? What’s happened?” Họ ngơ ngác nhìn nhau rồi noí vaì câu tiếng Laò, một ngôn ngữ mà tôi chỉ đếm được từ một đến mười. Vợ tôi quay kiếng xe, thò đầu ra: “No English?” -“Bò đạy à!” người đàn bà trả lời. Vợ tôi quay lại nói với tôi: “Họ không biết tiếng Anh.” Bổng nhiên người đàn bà nhảy cẩng, quên cả nước sình văng tung toé lên cái quần tây trắng cuả mình, vổ tay: “Người Việt, người Việt! Họ là người Việt.” Người đàn ông thôi vẫy, tay chỉ vaò ngực, la lớn: “Việt Nam đây, Việt Nam đây!” Tôi ngừng xe bên cạnh họ - người đàn ông trên năm mươi tuổi, tóc bạc, dáng dấp đẩy đà, bệ vệ bước đến phân trần bằng giọng cuả người miền Trung pha âm sắc miền Bắc như hầu hết cán bộ đã từng làm việc, hay trú ngụ ở Hà Nội: “Chúng tôi về Đông Hà nhưng hôm qua xe bị sập lổ trên đường, bể ‘cốp ben”, dâù máy chảy ra hết không thể đi được nưã, xin đồng chí làm ơn cho đi nhờ về Đông Hà.” Người đàn bà nhìn tôi, ánh mắt lộ vẻ lo lắng, chờ đợi. Họ nằm ở đây từ hôm qua, Trường Sơn tối tăm, mưa gió lạnh lẽo hằn trên mặt, trên môi. Tôi trả lời: “Tôi sẽ chở mấy vị về Đông Hà, không khó khăn gì, nhưng chỉ còn hai chỗ trong xe, vị kia chắc phaỉ trùm áo mưa, ngồi bám trên nóc xe.” Cả hai người cười xoà, rạng rỡ : “Không, chúng tôi chỉ xin đi hai người thôi, anh kia là tài xế, sẽ ở lại với xe; tôi về đến Đông Hà sẽ goị xe ngày mai qua kéo về.” Tôi nhìn người đàn ông trẻ tay cầm ‘mỏ lếch’ mặt mày nhếch nhác, đứng tiu ngỉu sau xe; trong lòng cảm thấy ái ngại. Đúng là cảnh: “Hoàng hôn nhật dĩ tà, kim dạ đáo thùy gia?”

Con gái ngồi thu lu giữa hai người lạ, tạm thời mất đi caí không gian mênh mông cố hửu cuả nó ở băng sau trong mọi chuyến hành trình. Hai vị khách cũng cố tình nép sát vaò hông xe cho đưá bé được rộng rãi. Chiếc xe nghiêng qua, lắc lại, chúi lên, chúi xuống một lúc thì khoảng cách chủ khách không thể nào kềm giử được nưả. Qua kiếng chiếu hậu tay người đàn bà đã choàng qua vai đưá trẻ và đầu nó cũng đã ngã vào ngực cuả bà ta, dương mắt nhìn tôi bẻn lẽn cười. Người đàn bà buông một câu bình phẩm. “Anh thấy người ta lái xe như thế đấy, có đâu như cậu lái xe cuả anh...” Người đàn ông chậc lưỡi phân bua: “Ừ, cái xe mới mua mấy tháng, mấy tỉ bạc. Thằng đó đã cầm lái năm sáu năm nay đâu phaỉ mới mẽ gì. Không ngờ con đường 9 này tệ đến như vậy.” Tôi giải thích: “Bà trách tài xế cũng oan. Chiếc Landcruiser có khoảng cách giưả bánh trước - bánh sau dài; mấy cái hố bom, hố pháo trên đường naỳ lớn quá, khi xe sụp xuống thì gầm xe dễ cấn vaò miệng hố dập bể ‘cốp ben’. Xe cuả tôi nhỏ hơn, gầm xe lại cao dễ luồn lách tránh miệng hố...”

Hơn một giờ sau xe đã vô lòng dãy Trường Sơn, trận mưa bất ngờ hai hôm nay gây hậu quả khá rõ ràng, nước đổ trên các sườn nuí xuống thành những dòng thác. Tại nhiều khúc quanh, nhìn ra thung lũng xa xa đã thấy những khoảnh sườn nuí cây đổ ngổn ngang. Khi mưa lâu chân đất bị sủng nước, tụt vỡ hàng mãng làm cây tróc gốc đổ chồng chất lên nhau, cứ thế cuốn xuống chân nuí long trời lỡ đất; người hay thú vật nào không may ở trong khu vưc đó nếu chẳng nát thây đưới các thân cây thì cũng bị vuì sâu dưới bùn. Dân Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh, Nghệ, Tỉnh gọi là ‘sập rừng’.

Bổng chiếc Discovery vục đầu xuống, trước mắt tôi là một hố bom rộng toác, ngập đầy nước được mở banh thêm bởi những bánh xe kéo gỗ khổng lồ cuả những kẻ “đả sơn lâm, đâm hà bá” từ bên bia rặng Trường Sơn qua quậy nát. Một bên hố bị lở, nước tràn ra chảy xuống cái mương bên đường như từ chậu nước bị nghiêng. Tôi ngừng xe lại, mắt quan sát, đo lường. Phiá bên dưới mặt nước đó sâu, cạn thế naò không thể biết rõ; lướt càn xuống có thể va đập gầm xe vô những tảng đá ngầm nổi lên dưới đáy hố ‘cốp ben’ sẽ bể, nhớt máy thoát ra hết như số phận chiếc landcruiser đang nằm lại phía sau. Tôi tắt máy xe, hơn năm tiếng đồng hồ trên con đường đau khổ naỳ rồi, vợ con tôi và moị người cần nghỉ ngơi, dãn gân, dãn cốt. Mưa dứt hẳn, trời đã quang đãng, những tia nắng vàng xuyên thủng những đám mây dọi lấp lánh trên các tàng lá. Rãnh mương thoát nước hai bên đường vừa hẹp vưà sâu không thể cho xe đi vòng tránh cái hố nước. Tôi trải tấm bạt nylon lên bãi cỏ bên kia mương thoát nước, vợ tôi mang thức ăn mua từ chợ Savanaket và trái cây mua trong cái chòi lá ban sáng bày lên trên, mời moị người cùng tham dự. Hai người khách vui vẻ sà xuống ngồi, có lẽ họ không được ăn gì từ tối hôm qua. Tiếng ve kêu râm ran trong tàng lá, hoà tiếng gió rì raò chung quanh chổ ngồi tạo cảm giác yên bình được thiên nhiên ban tặng. Ông khách đầu bạc phóng tầm mắt nhìn chung quanh rồi buộc miệng: “Không quá một trăm kilô mét nữa là chúng ta đến cảng Lao Bảo. Tôi đã từng ở khu naỳ gần ba mươi năm trước...” Tôi nhìn vào cặp mắt xa xôi cuả ông và bổng trong đầu vang tiếng gầm thét cuả đạn pháo và bom nổ. Tiếng rú cuả phản lực, tiếng cánh quạt trực thăng rầm rập cùng đủ moị thứ súng máy, trung liên, đaị liên dầm dập liên hồi. “Trận Nam Laò tháng 2 năm 71 rất ác liệt ở nơi đây.” Ông ta noí. Tôi hỏi: “Thế ông có tham gia trận đánh lúc đó sao?” Người đàn bà cướp lời: “Lúc đó ông ấy là C trưởng trong sư đoàn 304 có nhiệm vụ baỏ vệ con đường 9. Hiện ông ấy là tổng giám đốc một công ty xây dựng công trình giao thông Miền Trung qua đấu thầu với chính phủ chúng tôi trong dự án làm lại đường 9 từ tiền viện trợ cuả chính phủ Nhật. Đó là lý do tại sao ông ta và tôi hôm nay đi trên con đường naỳ.” Tôi ngạc nhiên: “Vậy bà không phaỉ là người Việt sao?” Bà ta cười vui vẻ: “Tôi là người Việt chứ, nhưng chồng tôi là người Laò...” Người đàn ông tiếp lời: “Chồng chị ấy là Khamsay Souvanouvong...” Tôi hơi sững sờ. Hoá ra bà ta là một công nương đỏ cuả Laò kia đấy. Khamsay là con trai cuả ông hoàng đỏ - Souphanouvong, một trong ba hoàng tử, con vua Lào chủ trương thân cộng sản, được phương Tây bạn tặng cho biệt danh “The Red Prince”. Souphanouvong từng học ở Sai Gòn và Pháp. Quân đội Bắc Việt với quân phục và phù hiệu cuả quân giải phóng Laò đã giúp đảng Phathet chiếm được Vientiane, đưa ông ta lên làm chủ tịch nước Cộng Hoà, Dân Chủ, Nhân Dân Laò. Năm 1975. Khamsay được cử đi du học ở Liên Xô, về nước “trúng” Ủy Viên Trung Ương Đảng Nhân Dân Cách Mạng Laò, giử chức vụ Bộ Trưởng Taì Chánh, phụ trách khối kinh tế quốc doanh cuả chính phủ cộng sản Lào. Tôi hiểu được lý do tại sao người đàn bà naỳ cùng về Việt Nam với ông TGĐ công ty cầu đường đang tham gia đấu thầu làm lại con đường 9 Nam Laò, họ đang trong một vụ làm ăn lớn. Định mệnh naò đun đẩy cho họ lên chiếc xe cuả gia đình tôi đang tìm về một giai đoạn quá khứ đối nghịch với họ? Người đàn ông đăm chiêu nói bâng quơ: “Tại khu vực này chúng tôi đã mất cả trung đoàn, hàng ngàn đồng chí cuả tôi đã ngã xuống tại đây. Ngụy quân, cả Dù và Thiết Giáp ,cũng chết hàng ngàn người...mỗi một tấc đất là một tấc máu...” Ông ta vén ống quần lộ ra một vết theọ dài chạy dọc trên bắp chân. “Một mãnh cối cuả Lữ Đoàn 2 Nhaỷ Dù Ngụy đã taọ ra nó”

Tôi nhảy qua cái mương nước, trở lại con đường, đứng quan sát cái hố bom. Người đàn ông chỉ tay vô phía bên phaỉ vũng nước: “Ta nên đi xuống lối naỳ, phiá bên kia là lối nước chảy thoát ra chắc sâu hơn và đất mềm, có thể lún.” Tôi xắn quần định lội xuống khảo sát, bổng ngước mắt nhìn lên thấy nó đứng đó, phiá bên kia hố bom trong bộ quân phục nhảy dù, đầu đội nón sắt bọc vải rằn ri. Gần ba mươi năm nó vẫn vậy, da sạm nắng bê bết thuốc súng, mắt đăm chiêu. Nó chỉ tay xuống cái hố bom ngập nước ngay bên trái, gần chổ bị lở đất, nước đang tràn ra róc rách. Tôi dụi mắt nhìn kỷ, nó vẫn đứng đó, cười cười nhìn tôi, bộ quân phục tiệp lẫn với bóng cây lá bên đường. Tôi buộc miệng thốt lên: “Maỳ đó sao?” Người đàn ông đáp lại: “Hả, đồng chí noí gì?” Tôi khoác tay: “Không có gì!”. Tiếng cánh quạt trực thăng lại rầm rập vút ngang đầu rồi xa dần, dư âm lắng đọng trong không gian, hoà lẫn tiếng lá rì raò và tiếng nước chảy róc rách; rồi không còn thấy nó đứng đó nữa. Tôi lội xuống chổ nó chỉ, nền đất phủ cát đọng lại khá vững chắc, lội qua bên phaỉ chổ người đàn ông chỉ, mực nước lên quá đầu gối. Tôi kiên nhẫn bước ngăn ngắn dò đẫm khắp đáy hố, rồi chân chạm vào những tảng đá lớn như những caí lu nước, sắc cạnh.... Tôi im lặng quay lại xe, nổ máy, chầm chậm đi xuống phiá bên trái gần chổ bị lở đất, nước ngập lên gần quá bánh xe nhưng nền đất chắc, chiếc Discovery vượt khỏi miệng hố bom, ngóc đầu leo lên mặt đường. Có tiếng vổ tay cuả con gái tôi đang đứng trên bãi cỏ bên kia mương nước. Người đàn ông cõng đứa bé lên, dang chân nhảy qua mương bước lên đường. Moị người lục tục thu dọn và leo lên xe. Tôi mở ‘cốp xe’ lấy bó nhang Vasna mua cho tôi hôm nọ trong tiệm một người Việt bên hông Morning Market ở Vientiane, bật quẹt lưả, đốt ba cây nhang, cắm xuống cạnh một tảng đá bên đường. Chắc chắn cả hai đang đứng ở đâu đây. Hạnh đang khoèo tay, khép nép bên nó miệng cười e lệ như khi hai người xuất hiện trước cưả nhà tôi.

Hơn ba tiếng đồng hồ sau chúng tôi đến được cảng Lao Baỏ, chếch chếch xuống phiá Nam là căn cứ Khe Sanh, rồi A Sao, A Lưới. Sau thủ tục nhập cảnh vaò nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam con đường Lao Bảo – Đông Hà êm ái; con gái tôi không còn bị thẩy tưng tưng trên ghế. Nó ngoẹo đầu, dưạ vào ngực người đàn bà, mắt lim dim - gió lại thổi con buồn ngủ vào mắt đứa bé. Trời đã tối mò khi tôi dừng xe lại trước cổng khách sạn Hữu Nghị trên đường Trần Hưng Đạo, nối dài cuả con đường 9. Chúng tôi bắt tay từ giả, người đàn bà ngập ngừng: “ Ông không ở cùng khách sạn này vơí chúng tôi cho vui? Nhân tiện mời ông bưã cơm tối để tạ ơn.” Tôi trả lời: “Xin hẹn lần khác khi về lại bên Laò. Tôi đã giử phòng khách sạn ở Huế, từ đây vô đó chỉ hơn một tiếng đồng hồ.” Bà ta đưa cho tôi tấm thiệp: “Khi naò làm ăn có chuyện gì rắc rối về thuế má hay thủ tục taì chính, ông cứ goị vaò số naỳ cho Khamsay, tôi sẽ kể cho anh ấy nghe chuyến đi ngaỳ hôm nay.” Tôi cảm ơn. Người đàn ông nắm chặt tay tôi: “Đồng chí thật chu đáo, đi đường còn mang theo nhang để đốt cho người khuất mặt...” Tôi trả lời lặng lẽ: “Tôi đã chuẩn bị từ Vientiane để viếng người bạn thân tử trận trong trận đánh đường 9 Nam Laò năm đó, anh ta là một trung úy thuộc Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù.”

Tôi chưa hề có dịp goị điện thoại cho Khamsay Souphanouvong lần naò khi trở lại Vientiane. Một năm sau truyền thông quốc tế loan baó ông ta đã đưa toàn bộ gia đình đào thoát qua Tân Tây Lan. Chính phủ Công Hoà, Dân Chủ, Nhân Dân Laò ra thông báo ông ta chỉ qua đó chữa bịnh và học thêm về quản trị. Hơn mười năm sau Vasna viết cho tôi ông ta và bà vợ người Việt chưa trở về Lào lần naò, dư luận là ông ta sợ Việt Nam ám sát vì chủ trương thân Nga Xô Viết, chống lại ảnh hưởng cuả Việt Nam thân Trung Hoa đang áp chế đất nước Lào
.



Tặng Vasna Mangkhaseum.
Viếng linh hồn người chiến binh có cuộc đời bi tráng cùng cô bạn gái đoản mệnh.

tháng 6 năm 2006, hiệu chỉnh lại tháng 11 năm 2012.


11218



Image

c h u y ệ n. Đ à .L ạ t
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m



Đà Lạt thì có quá nhiều chuyện để mà kể – sương mù, hoa anh-đào, hoa quỳ, hoa mimosa, hồ Than Thở, hồ Xuân Hương, núi Bà, đồi Cù, cà phê Tùng, cà phê Thủy Tạ… hay những cô gái xinh xinh trên đường đến trường trong áo dài trắng, áo len xanh nước biển, và cả tiếng hát của Hà Thanh “Ai Lên Xứ Hoa Đào” văng vẳng từ radio trong các cửa hiệu quanh khu Hoà Bình. Nhưng những điều đó thì nhiều người kể rồi; chuyện tôi muốn kể ra đây là về những nhân vật Đà Lạt, có người không còn trên thế gian này nữa nhưng vẫn ở trong tâm trí tôi, trong một góc tối của dòng đời. Nhiều người biết họ, nhưng chắc chưa có ai ghi lai.

Người gây ấn tượng sớm nhứt trong tri não một đứa trẻ con năm, sáu tuổi như tôi lúc đó là anh Đức. Anh cũng chỉ chừng mười một, mười hai tuổi, học chung với tôi ở trường Ga. Ngôi trường đó đúng ra chỉ là một cái phòng lớn phía cánh trái của nhà ga xe lửa Đà Lạt được thiết kế làm khu ký gởi hành lý, trần cao đến bảy, tám thước lắp đầy kính không những trên cửa ra vào ở mặt trước và mặt bên hông mà còn ở ô trang trí trên cao đủ màu vàng, đỏ, xanh... nên bên trong nhà ga luôn ngập tràn ánh sáng. Cụ Trần Trung Hiền, trưởng hạt của “Hạt Hoả Xa Đà Lạt”, đã cho ngăn khu đó lại bằng một bức tường gổ cao ít ra cũng bốn mét, đánh verni maù nâu đen bóng lưỡng, bên trong lại có một bức tường cũng bằng gổ ngăn thành hai phòng lớn để chừng hai chục cái bàn học daì. Học sinh là con em của nhân viên sở Hoả Xa và một vài thân hữu cuả sở Hoả Xa bên nha Địa Dư hay sở Hiến Binh gần đó. Tất cả từ lớp năm đến lớp nhứt đều ngồi chung dưới sự “chăm sóc” của mỗi một mình ông thầy Sang. Ông là người gốc Sài-Gòn lưu lạc lên Đà-Lạt, khá điển trai. Đặc biệt là nước da ông tái mét và xương cuốn họng ở cổ ông khá to, chạy lên, chạy xuống mỗi khi ông đằng hắng rồi nuốt nước miếng. Tôi chưa bao giờ thấy ông cười, nét mặt lúc nào cũng lạnh lùng, nhất là hàm răng trắng nghiến lại sau đôi môi mỏng mím chặt mỗi khi ông lấy sức vung tay quất cái roi mây nhỏ nhưng bén ngót lên mông, lên đầu, lên cổ một học sinh nào đó.

Cả ba chị em tôi học chung, chị lớn lớp nhứt ngồi ở bàn cuối lớp, chị kế lớp ba ngồi ở bàn giữa lớp, và tôi lớp năm ngồi ở bàn trên cùng, sát ngay bàn thầy giáo. Do đó những buổi học đầu tiên trong đời tôi là những giờ khắc của một con chuột nhắt co rúm, đôi mắt lúc nào cũng lấm lét nhìn con mèo là ông thầy Sang đang vờn qua vờn lại trước mặt. Trong cái nhà ga trần cao vút như thế mọi tiếng động đều vang vang. Tiếng bánh xe đẩy hành lý, tiếng chân đi, tiếng nói lao xao cuả nhân viên từ xa vọng lại phụ hoạ cho tiếng sang sảng của ông thầy Sang thường theo tôi về đến tận nhà sau giờ tan học, vào cả trong giấc ngủ cùng với hình ảnh tay ông luôn luôn lăm lăm cây thước kẻ bằng nhôm, hoặc nhịp nhịp cây roi mây ông rút từ trên đầu cái bảng đen xuống. Rất nhiều lần tôi muốn nói với mẹ: “Mợ ơi, con không muốn đi học...” vậy mà chẳng bao giờ thốt thành lời. Đầu óc của tôi lúc đó dù non nớt nhưng vẫn hiểu rằng chuyện đi học rất là quan trọng và không có chỗ cho con cái mè nheo trong một gia đình mà cả cha lẫn mẹ phải quần quật tối ngày mới kiếm được bát cơm, manh áo cho lũ con.

Có lẽ sự khiếp hãi về những ngọn roi vun vút lên người các anh chị lớn khi họ phạm lỗi gì đó khiến đầu óc của tôi luôn tỉnh táo sẳn sàng làm bất cứ gì để không phải bị chúng quất lên chính mình nên chỉ ba tháng sau từ chẳng biết gì tôi đã đọc, viết và làm toán cọng, toán trừ được. Ba đứa ngồi lớp năm với tôi cũng thế. Vậy là ông thầy Sang có đủ lý do dồn chúng tôi lên lớp Tư để bỏ luôn lớp Năm cho nhẹ bớt việc “chăm sóc”. Do vậy mà trong vở học của tôi ngay ngày đầu được lên lớp tư đã có những bài “học thuộc lòng” và “ngữ vựng” thay vì "tập đồ", "tập viết". Những bài học thuộc lòng ông thầy Sang viết lên bảng tôi vừa chép lại vaò vở xong thì đã thuộc ngay. Nhưng để viết cho đúng chính tả lại là chuyện khác đối với một đứa trẻ chưa tròn sáu tuổi sau ba tháng đến trường. Có lần tôi đã viết “giải nghiã những chữ khó” của bài “ngữ vựng” với chữ "nghĩa” không có chữ “h”. Có lẽ hôm đó ông thầy Sang chưa đánh ai, hoặc giả ông đang buồn bực chuyện tình duyên, gia đạo gì nên chử nghĩa” không có “h” phải chịu trọng tội. Ông nghiến răng quát bảo tôi leo lên nằm trên bàn. Như con chuột nhắt bị thôi miên, tôi không kêu lên nỗi một tiếng để van xin, riu ríu tuột dép, lục cục leo lên nằm trên bàn; hai tay nắm chặt, mông gồng cứng khiến cả người cong lên như con giun bị xéo. Tai tôi ù đi nhưng vẫn nghe tiếng chiếc roi được rút soạt từ trên đầu bảng và tiếng con bé Việt Phương ngồi cùng bàn lí nhí an uỉ: “ Tâm ơi đừng sợ, Tâm ơi đừng sợ!” rồi tiếng roi vun vút quật xuống. Tôi có cảm giác mông đít như bị dao cắt, hai tay tự nhiên ngoặt ra sau che đỡ rồi lại rụt về vì bị quất rát bỏng. Cứ thế chúng ngoặc ra rồi rụt lại liên hồi; hai chân xoắn tít lại với nhau, dập lên dập xuống mặt bàn theo nhịp ngọn roi. Chẳng biết bao lâu như thế thì tôi quằn lên rồi rơi phịch xuống đất. Nhưng những nhát roi bén như dao, rát bỏng rẫy vẫn chưa dứt, chúng chỉ thay đổi vị trí từ mông, từ tay, lên cổ, lên tai, lên lưng, lên đầu. Tôi không nhớ là mình đã được về lại chỗ ngồi vào lúc nào, chỉ biết là phải nhón nhón hai chân để ngồi mà mông không phải chạm vào mặt ghế và lúc đó cảm giác nong nóng rồi ướt lạnh trong quần bỗng choáng lấy đầu óc tôi, nó làm tôi sợ hải hơn là những nốt bỏng rát trên thân thể. Tôi khẻ liếc mắt nhìn qua phiá đám con gái, con bé Việt Phương và con bé Thắm hai tay để trên bàn, mắt mở lớn nhìn thẳng lên bảng như hai con búp bê bằng gổ làm tôi yên tâm là chúng không biết tôi đã đái ra quần.

Chiều hôm đó trên đường về nhà, hai chị tôi lặng lẽ đi nhưng tôi thoáng thấy nước mắt loanh quanh nơi khoé mắt của cả hai người.

Buổi học hôm sau, như thường lệ, bọn tôi đến trường sớm để chơi đùa. Các chị tôi xúm nhau đánh đủa; nhưng tôi thì ngồi thu lu bên một bồn hoa trong góc sân. Tôi không muốn gần ai. Hai bàn tay tôi vẫn rát bỏng những lằn roi hôm trước được thu lại trong túi. Bỗng anh Đức từ đâu đến ngồi xuống bên tôi; đầu lắc lắc, miệng cười cười, tay để trên vai tôi vui vẻ noí: “Tội nghiệp mày, lần đầu phải không cưng?” rồi anh lôi trong túi ra một hòn bi thuỷ tinh đưa cho tôi. Tôi sung sướng cầm lấy, lí nhí cảm ơn. Từ ngày ấy tôi thường lẽo đẻo đi theo anh. Không hiểu do anh cảm thương tôi vì trận đòn hay vì anh có cảm tình với chị kế tôi học dưới anh một lớp mà từ đó anh có vẻ chăm sóc tôi.

Nhà Ga Đà Lạt thuở ấy chỉ rộn ràng vào lúc xe lửa đi vào buổi sáng sớm và về vào buổi chiều. Những giờ trưa trước khi chúng tôi vào học sân ga thường vắng vẻ; lâu lâu chỉ có những chú nhân viên lác đác đẩy những chiếc “trô lây” chất hàng lên những toa hàng hoá chuẩn bị cho chuyến xe chiều hay sáng hôm sau. Hầu hết những người trong bọn họ có con cái học chung với chúng tôi, họ biết chúng tôi và chúng tôi đều biết họ. Thỉnh thoảng lại có người hỏi han, cười đùa với chúng tôi, thậm chí còn cho chúng tôi leo lên các toa xe lượm những bịch thuốc lá Cotable, Ruby, Camel, Bastos xanh, Basto đỏ... và những cái nắp chai bia hay chai nước ngọt hành khách quăng vương vãi mà chúng tôi goị là “nắp keng” để chơi. Anh Đức là đầu đảng chỉ cho chúng tôi cách xếp bịch thuốc lá để dùng dép hay các phiến gạch tạt chơi, hoặc sắp những cái nắp keng lên đường rầy, chỗ những đầu máy xe lửa chạy qua khi ra vào sân ga. Những bánh sắt của chiếc đầu máy nặng cả chục tấn cán lên, nghiến dẹp những cái nắp keng làm chúng phẳng ra như những mảnh giấy mỏng hình tròn, sau đó chúng tôi gom lại và chia nhau chơi.

Một buổi trưa sân ga vắng vẻ, không có giờ học, chúng tôi đang lúi cúi trên đường rầy với những cái nắp keng bỗng thấy một người đàn ông lạ mặt đang dán một mảnh giấy lên thân một toa xe mới được kéo vào sân chờ nhận hàng. Chúng tôi tò mò đến gần. Người đàn ông đội mũ sùm sụp quay lại nhìn. Một thoáng lưỡng lự rồi ông lôi từ trong túi ra một goí nhỏ chìa trước mặt chúng tôi: “Tụi bay ăn kẹo không? Chú cho nè.” Bọn chúng tôi đang rụt rè thì anh Đức mạnh dạn dơ tay nhận lấy, miệng cười toe toét. Người đàn ông chỉ vào những chử viết trên mảnh giấy dán trên toa tàu noí: “Tụi bay học thuộc cái này rồi vưà đi vưà hô to lên, mai chú lại đến thưởng kẹo cho.” Nói xong ông ta quay ngoắt đi, nhanh chóng vượt ngang qua mấy đoạn đường rầy rồi biến mất phía bên kia hàng rào sân ga.

Anh Đức và bọn tôi lẩm nhẩm những chữ viết trên mảnh giấy dán, sau đó anh bảo chúng tôi sắp hàng một; miệng lúng búng mấy viên kẹo chúng tôi vừa đi vừa hô to những chữ viết vừa đọc được đó. Chốc chốc lại lăn ra cười ngặt nghẽo. Khi đã chán chúng tôi quay ra dùng những chiếc nắp keng đập vào tường thay đồng tiền chơi đáo.

Chiều hôm đó đi học về tôi thủ thỉ kể lại cho mẹ tôi nghe chuyện người lạ cho kẹo ban trưa và trò chơi cuả chúng tôi. Mẹ tôi bỗng buông rơi đôi đủa đang xới nồi cơm, thất thanh kêu cha tôi. Hai người vừa noí qua laị với nhau một vài câu thì cha tôi đã cầm lấy con dao đi vội ra bờ rào ngoài sân trước nhà; thoáng sau ông đi nhanh vaò với một cành dâm bụt đã bị tuốt hết lá, miệng quát lớn bảo tôi nằm ngay lên giường. Cảm giác tê dại với trận đòn của ông thầy Sang hôm nào ào ạt bao phủ lấy tôi. Tôi vò hai bàn chân lại với nhau, hai tay vòng trước ngực: “Con xin lỗi cậu, cậu tha cho con, con đau lắm cậu ơi...” Cha tôi quát: “Đã đánh đâu mà than đau? Con cái thế này thì chết, giết cha giết mẹ như vậy đó sao?” Mẹ tôi thần sắc hốt hoảng, mặt tái nhợt nhưng cố hoàn hồn, ôm dằng lấy tôi: “Thôi, không phải đánh nó, nó nhỏ quá có biết gì đâu?” Cha tôi có vẻ như định thần lại được, ông buông cây roi kéo tôi đến đứng trước mặt, ông khe khẻ rít qua kẻ răng: “Từ nay cậu cấm con không được nói những lời tên cho kẹo bảo con nói nghe không? Con nói như vậy thì người ta bắt cả cậu cả mợ đi tù chẳng còn ai nuôi con nghe không?” Tôi vâng dạ lia lịa, trí óc cuả tôi dù bé dại đến đâu cũng hiểu được chuyện cha mẹ tôi bị bắt đi tù là rất nghiêm trọng.

Hôm sau mẹ tôi dắt chị em tôi đến trường, vưà đến chúng tôi đã nhận thấy không khí khác thường trên nét mặt những đứa trẻ đến trước. Chúng nhớn nhác đứng cả ngoài sân, vài đứa chúi đầu nhìn qua khuôn kính cuả những cánh cửa ra vào đang đóng chặt. Mẹ tôi và tôi cũng dí mắt nhìn vào. Anh Đức đang đứng sát tường, trước mặt anh là ông thầy Sang với ngọn roi mây cố hữu đang nắm trong tay. Mặt cả hai người đều tái nhợt, đôi môi cả hai đều mím chặt, đôi mắt cả hai đều chằm chằm nhìn nhau. Trên đôi chân cuả anh Đức từ ống quần sọt trở xuống chi chít những lằn roi ngang dọc, có nơi đang rỉ máu. Mấy vết roi trên má anh cũng nhoè máu khi anh chốc chốc đưa tay lên quẹt. Chiếc cà vạt trên cổ áo ông thầy Sang được kéo lỏng ra, xộc xệch; ông thở có vẻ mệt nhọc. Ngồi trên chiếc ghế cuả học sinh là một người đàn ông đứng tuổi, tóc đã loe hoe bạc, hai tay ông nắm chặt vào nhau, mặt căng thẳng, đầy vẻ xúc động, mắt không ngớt nhìn qua ông thầy Sang rồi nhìn lại anh Đức. Chúng tôi không nghe rõ họ nói gì với nhau nhưng tiếng ông thầy Sang thì chốc chốc vang vang ầm ỉ. Mẹ tôi kéo tôi ngồi xuống bờ thành một bồn hoa sát tường, tay bà run run. Chúng tôi và những đứa học sinh trên sân trường cứ im lặng như thế cho đến khi có tiếng cưả bật mở. Người đàn ông đứng tuổi bước ra, nắm chặt tay anh Đức dắt đi. Tất cả những cặp mắt của chúng tôi đều đổ dồn vào anh. Trên hai cánh tay trần và cặp chân anh từ đùi trở xuống chi chít những lằn roi rướm máu. Một vết cắt rất sâu trên má anh máu cũng đang ứa ra. Điều kì lạ là, cũng như tôi trong trận đòn mấy tháng trước, nước mắt anh ràn ruạ trên mặt nhưng không có một tiếng khóc nào.

Những buổi học sau đó rất nặng nề, lâu lâu chúng tôi được một vài ông hiến binh đến thăm hỏi nhưng không đứa nào trong chúng tôi nói với họ là đã thấy người đàn ông dán “khẩu hiệu” lên toa xe lưả buổi trưa đó, không đứa nào nhận được kẹo từ ông ta, không đứa nào biết anh Đức đã làm gì. Một hôm ông thầy Sang nói cho chúng tôi biết rằng anh Đức đã bị phạt và bị đuổi học vì anh đã phạm lỗi nhiêm trọng - vưà đi vừa hô vang khẩu hiệu cấm kị do một người lạ mặt dạy cho anh. Anh đã khai chỉ có một mình anh nhận kẹo. Anh là một học trò hư hỏng, là gương xấu mà mọi học trò khác không được noi theo.

Niên học sau mẹ tôi xin cho cả ba chị em chúng tôi được chuyển xuống trường tiểu học Phan Chu Trinh, gần khu Tạo Tác Ba Đình trên đường Chi Lăng. Từ đó tôi không bao giờ gặp lại anh Đức.

Hơn hai mươi năm, khoảng 1978, 1979, một buổi trưa hè lang thang trên đường Hai Ba Trưng khi tôi dừng lại bên một người đàn bà bán vé số trước chợ Tân Định, giọng noí cuả bà gợi cho tôi về Đà Lạt, một giọng nói mà chỉ có người Đà Lạt mới nhận ra là giọng Đà Lạt – không Bắc, không Nam, chẳng Huế, chẳng Sài Gòn; nằng nặng, nhưng lại nhè nhẹ. Tôi hỏi thì chị xác nhận là người Đà Lạt. Chúng tôi nhìn ra nhau qua vaì câu thăm hỏi. Chị chính là chị Nga, em kế cuả anh Đức, học chung lớp với chị kế cuả tôi. Khi nhắc đến anh Đức thì giọng chị man mác. Năm 18 tuổi anh gia nhập lực lượng biệt kích dù, một vài năm sau anh xâm nhập miền Bắc trong một nhiệm vụ tình báo và mất tích từ đó. Hình ảnh anh Đức là một chú bé mười một, mười hai tuổi dẫn đầu đám con nít vừa đi vừa hô vang trong sân ga Đà Lạt một câu khẩu hiệu mà lúc đó không đứa nào hiểu được ý nghĩa của nó là gì lại hiện ra rõ mồn một trong trí tôi. Nếu những người “bên kia” biết được anh đã ăn một trận đòn tươm máu vì mấy viên kẹo người cán bộ cuả họ cho để dụ chúng tôi hô lên cái khẩu hiệu quái ác của phe ông ta thì mọi tội trạng họ ghép cho anh khi xâm nhập vào miền đất cuả họ có lẽ phải được giảm nhẹ. Cho đến bây giờ tôi vẫn không biết tại sao anh Đức đã không khai với ông thầy Sang những kẻ “đồng loã” với anh trong vụ án “chính trị” có tôi tham dự đó; nhưng một điều tôi biết chắc rằng có nhiều kẻ anh hùng thì từ khi sinh ra đã anh hùng.


Image


12602



Image


h ậ p .h ộ i .c h ư a .p h ả i .l à .c h ệ t
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m


Tôi cầm bức điện tín trên tay, tần ngần một chút rồi quyết định đưa cho Buì, y có cái dáng dấp cuả thằng Vọi trong “Trống Mái” cuả Khái Hưng– to cao, điển trai, vai u thịt bắp. Có một lần y đã biễu diễn sức mạnh dành vác cái máy NRC nặng hơn 80kg dùng bấm fiches sổ tiết kiệm cuả Việt Nam Thương Tín chở từ trụ sở 79 Hàm Nghi xuống bổ sung cho chi nhánh từ dưới nhà xe lên lâù 2. Mấy cô nhân viên chạy theo coi, ré lên tán thưởng bắp thịt tay, chân cuả hắn run run giao động dưới sức nặng cuả cái maý khi hắn cố nhấc từng bước chân lên cầu thang. Bọn đàn ông con trai thì trố mắt nhìn, có người lắc đầu vì vô phúc mà y tuột tay hay cơ bắp bị duỗi ra dưới sức nặng đó thì cái maý trị giá mấy ngàn đô la Mỹ sẽ rơi xuống bể nát và không chừng chân y cũng chẳng còn. Nhưng cuối cùng y cũng đã thành công mang được cái máy lên đến nơi. Ba tên đoàn viên thanh niên đã chực sẳn ghé vai dơ tay bíu cái máy, giúp y đặt nó xuống cái bàn sắt. Thu, cô gái Sóc Trăng nhân viên ngân hàng chế độ cũ được cách mạng ‘lưu dung’, là người chiêm ngưỡng y nhiều nhất; cô vổ tay đôm đốp, xuýt xoa: “Chèng ơn, tui nhớ cái máy naỳ phaỉ bốn người khiêng mà ảnh vác có mình ênh. Anh Buì ơi là anh Buì, anh bộ đội đẹp trai...” Mấy cô nhân viên cũ được ‘lưu dung’ len lén nhìn nhau cười mỉm, lắc đầu. Ai cũng biết chuyện giưả cô Thu và tên Buì dù y đã có vợ ở ngoài Nghệ An. Ngoaì cái khả năng khuân vác đáng nể đó thì ngay cả đám đàn bà con gái “tăng viện” từ ngoaì Bắc vào cũng kháo nhau là trí óc cuả chàng nông dân naỳ tỉ lệ nghịch với sức mạnh cuả y. Nhưng y là “thủ trưởng” cuả tôi, tôi phaỉ trình bức điện tín cho y. Vốn sẳn ác cảm với tôi, Buì đọc xong bức điện tín thì quẳng nó lên bàn trở lại phía tôi rồi la toáng lên ngay giưả phòng làm việc: “Cại ni thì ôn bạo cạo cho anh Cạt, làm răng mà cọ chệ độ cho đi; thiệt giạ làm răng mà biệt!” Moị người quay lại nhìn tôi dò hoỉ, họ không biết có chuyện gì. Ông Cổn, bí thư chi bộ, người khá có cảm tình với tôi ngồi bàn bên cạnh chià tay ra bảo: “Chi rựa? cầu đưa mình xem.” Tôi đưa bức điện tín cho ông ta. Đọc qua, ông ấy có vẻ thông cảm, ôn tồn nói: “Cầu đưa cho anh Cạt, anh ậy lo về chuyên môn, ỵ kiện anh ậy thệ naò thì lên bạo cho mình biệt.” Buì nghểnh mặt ra cưả sổ, không thèm nhìn tôi và Cổn, giọng khinh khỉnh: “Trong nam ni nhân viên khôn biệt chi là chệ độ, tộ chực ra sao cạ, tệ rựa...”

Cát là Phó Gíam Đốc chi nhánh. Hắn cũng là gốc người liên khu tư – Thanh Nghệ Tỉnh. Hắn được ‘bố trí’ cái phòng riêng cuả phó giám đốc ngân hàng Nông Thôn thuộc chế độ cũ. Bổng chốc từ cái trụ sở chi điếm ngân hàng cấp huyện ngoaì Nghệ An - nền đất, mái tôn – chỉ mấy hôm sau đã được bổ nhiệm “tăng viện” cho Miền Nam; chểm chệ trên chiếc ghế xoay bằng da cuả Nhật bên một bàn làm việc lớn bằng gổ đánh vẹc ni nâu, lót kính sáng ngời nên hắn suốt ngaỳ loay hoay với đồ đạc và mấy cái ngăn kéo cùng đồ baì trí trong phòng. Hắn lé một mắt, khi nhìn thì nghiêng nghiêng cái đầu, miệng trể xuống có vẻ vưà mếu, vưà cười. Giao, nhân viên hành chánh của chi nhánh ngân hàng Nông Thôn cũ được lưu dung kể lại với bọn tôi chừng một tuần trước đó rằng Cát rủ Giao leo lên chiếc xe La Dalat tịch thu cuả Ngụy lái xuống Ngã Tư Bảy Hiền mua một tủ hồ sơ: “Tui với ổng đi dạo loanh quanh, tui chỉ cho ổng mấy cái tủ hồ sơ bằng sắt có ngăn kéo, cái to, cái nhỏ, cái màu xám, cái maù xanh, cái naò ổng cũng lắc đầu chê. Ổng cứ bám vô mấy chổ người ta trưng baỳ tủ quần áo bằng gổ, phọc mi ca, có kiếng. Tui noí với ổng là không được, ổng hoỉ: ‘Tại làm răng mà khôn được?’ cực chẳng đã tui phaỉ noí đó là mấy cái tủ đựng quần áo trong phòng ngủ. Ổng rảo tới rảo lui rả cẳng rồi chỉ vô một cái tủ nhỏ có kiếng soi và noí với tui: ‘Cại tụ ni chụng nọ đựng gì tau không biệt, nhưng nọ đẹp và vưà cại phòng cuạ tau, mi cự mua nọ cho tau!’ Tui không dám cười cũng cố gắng lắm để khoỉ khóc, noí với ổng là: ‘Không được đâu anh ơi, cái tủ naỳ là cái bàn phấn cuả đàn bà.’ Ổng cáu quá gắt toáng lên: ‘Phức tạp, phức tạp, tụ chi cụng là tụ, đựng cại chi mà khôn được? Tau thịch nọ, mi cự mua cho tau!’“ Cát vui sướng với cái tủ mới chưa được bao lâu thì mấy ngaỳ sau có vaì “đồng chí” bên quận uỷ qua làm việc, thấy cái bàn phấn sau lưng Cát họ phê bình sao đó mà nó được Cát chuyển lên phòng ngủ cuả chị em phụ nữ. Cô Bích Ngọc, một nhân viên nữ được cách mạng lưu dung kể lại những chị em cán bộ A –tức gốc ngoaì Bắc- được một phen tranh nhau ngồi trước cái “tủ” naỳ ngắm mình trong gương rồi cười ré lên. Thuở đó tôi cũng không biết tại sao cán bộ gốc Bắc hay noí oang oang, và cười ré lên. Mấy năm sau Nguyên, người anh họ bên vợ du học Liên Xô về, bố cuả hắn ta là cựu vụ trưởng vụ nghiên cứu “lịch sử đảng”, giải thích rằng đó là thoí quen cuả cán bộ công nhân ngoaì Bắc họ phaỉ tập noí cho to để ai cũng nghe được một cách công khai minh bạch, noí nhỏ chỉ vưà cho người đối diện nghe sẽ dễ bị nghi ngờ là có tư tưởng mờ ám, có âm mưu phản động chi đó. Còn cười ré lên là một cách baỳ tỏ cho công chúng và “tổ chức” thấy rằng mình đang hạnh phúc, vô tư, không mất lập trường, không buồn phiền, chống đối...Noí chung là để được yên thân.

Tôi đến cưả phòng cuả Cát thì hắn ta đang loay hoay với cái tủ hồ sơ bằng sắt có ngăn kéo. Tôi gỏ cưả nhè nhẹ; hắn không dừng tay, cũng không quay lại mà noí to lên: “Cọ chi rựa?” Tôi noí: “Anh Buì và anh Cổn bảo tôi gặp anh để báo cáo việc naỳ.” Cát quay lại, tôi đưa bức điện tín cho Cát, hắn chià tay cầm lấy, lôi cặp kính trong tuí áo trên ra đeo lên rồi nhướng mắt nhẩm đọc. Đọc xong Cát ngồi xuống ghế, đôi môi trễ xuống không biết đang cười hay mếu, mắt nhướng lên sau cặp kính nhìn tôi: “Cầu nghe choa nọi cho rọ nì vì choa thông cạm đặc điệm tình hình dân trong Nam chưa biệt chệ độ là gì. Thoạt ly cạch mạng là phại bọ chuyện nhà. Choa thoạt ly từ năm 15 tuội, đển 22 tuội cách mạng đồng ý cho cượi vợ cụng làm ợ cơ quan, khôn được về nhà. Điện tịn ni nọi rọ là ‘hập hội’ mà ‘hập hội’ là chưa chệt. Cách mạng chị cọ chệ độ nghị phẹp khi cha mẹ chệt, chứ không có chệ độ nghị phẹp khi cha mẹ ‘hập hội’.” Noí xong hắn quăng bức điện tín lại cho tôi, trong đó mẹ tôi chỉ ghi có có sáu chử “Cha hấp hối, con về gấp”. Tôi noí: “Tôi không biết chế độ ra sao nhưng trong Nam chúng tôi nói HẤP HỐI thì có nghiã là trước sau gì cũng chết. Cha tôi sắp chết cần gặp tôi, đợi khi ổng chết rồi thì tôi về còn ý nghiã gì nưã...” Cát khoát tay bảo tôi lui ra, miệng hắn trể xuống khinh bỉ.

Tôi cầm tờ điện tín trong tay, quay trở lại lầu hai. Buì có ý đợi, vưà thấy tôi y hoỉ to lên: “Răng? Cạt nọi răng?” Tôi chưa vội trả lời, quay về chổ bàn làm -việc ngồi chung với tổ công tác rồi noí vọng với ông Cổn: “Ông Cát bảo với tôi rằng ‘cha hấp hối’ là chưa chết, không có chế độ cho nghỉ phép khi cha mẹ hấp hối, chỉ có chế độ nghỉ phép khi cha mẹ chết.” Buì la to lên: “Thì tau đạ nọi rồi mà mi khôn nghe, làm răng mà cọ chệ độ ‘hập hội’...” Lúc đó tất cả moị người có mặt trong phòng mới biết nội dung bức điện tín tôi nhận được một giờ trước đó, mấy cô gái nhạy cảm nhứt bu lại chổ tôi ngồi, người naò cũng baỳ tỏ sự ngạc nhiên, rồi ái ngai: “Vậy là ba cuả anh bịnh nặng lắm sao?”, “Ôi vậy là bác đang hấp hối ở nhà sao?”, “Sao anh có tính về không?” Ông Cổn nhìn tôi, gật đầu nhè nhẹ rồi rời chổ đi xuống tầng dưới. Tôi biết là ông ta xuống gặp Cát.

Một lát sau ông Cổn đi lên, mặt tươi cười tay cầm mảnh giấy đưa cho tôi: “Mình biết là cậu sẽ bỏ về thôi, nhưng không có giấy cơ quan cậu không mua được vé xe đâu. Đây, mình noí với Cát viết giấy phép cho cậu về.” Cầm tờ giấy phép ba ngaỳ lòng lạnh lùng chai đá cuả tôi kể từ cái ngày tháng Tư ấy bổng dưng xúc động. Tôi thấy loáng thoáng trong con người cuả ông Cổn hình bóng người anh cuả tôi đang ở ngoaì Bắc. Anh thuộc những người Bắc đầu tiên vaò Nam thăm gia đình sau gần 25 năm không gặp. Anh và tôi đã nằm noí chuyện suốt một đêm không ngủ trên chiếc giường cuả tôi trong căn phòng ở Đà Lạt. Anh thú thật là trong cái ba lô mang từ ngoaì Bắc vaò có hai chục cái chén sành, khi vaò đến nơi, ăn bưả cơm đầu tiên với gia đình nhìn chén bát, ly tách cuả mẹ tôi trong nhà anh không dám lôi chúng ra; anh cứ tưởng dưới chế độ kềm kẹp bóc lột tàn khốc cuả Mỹ-Ngụy chúng tôi không có bát ăn cơm như những gì người ta noí ra rả trên báo chí, đài phát thanh Hà Nội và các loa phường...Tôi cảm nhận trong tâm tư cuả ông Cổn có sự tử tế pha trộn với sự hổ thẹn như cuả anh. Suốt hơn 15 năm sau đó tôi và ông Cổn vẫn có duyên gặp nhau và giưả hai chúng tôi vẫn giử được mối giao tiếp tử tế cho tới ngaỳ ông ấy mất vì ung thư tuyến tiền liệt cũng giống như anh.

Tôi về đến nhà thì cha tôi đã nửa tỉnh, nửa mê. Mẹ tôi và chị tôi đang toan tính những gì cần phaỉ làm để chôn cất. Chuyện giấy tờ, xin chính quyền mới một chổ trong nghiã đia trên số 4 sẽ không khó khăn gì với ông già gần tám mươi tuổi; nhưng đến bưả cơm thì tôi biết nan giải nhất là cái hòm. Hôm từ trên chiếc xe than cuả HTX vận tải bước xuống bến xe cạnh bờ hồ Xuân Hương để đi bộ về nhà, khi lên dốc chợ Hoà Bình tôi hơi ngạc nhiên vì xa xa trên dốc đi xuống là một đàn con nít mà thoạt trông tôi cứ tưởng là những đồng baò Thượng tôi vẫn gặp cách đó mười mấy năm - một màu đen xám; những cái đầu gối rách bươm nhấp nha, nhấp nháy theo bước chân cuả chúng như những con mắt - nhắm, mở; nhắm, mở. Khi chúng đi xuống đến gần sát tôi mới thấy cách ăn mặc cuả đa số trong bọn chúng lẫn lộn những áo len củ kỹ, chắp vá bởi vải cuả màn cưả, cuả bất cứ thứ gì có thể tưởng tượng được; quần thì vá hoặc may bằng bao cát Mỹ mà trước đây quân đội dùng xây lô cốt. Trên lưng đưá naò cũng có cái guì đựng hạt dẻ, vaì giò lan, hoặc cuỉ khô; có đưá đang kéo lê một nhánh củi lớn, lệt xệch dưới đất. Khi chúng đi ngang qua tôi rồi về cuối dốc, ngoái nhìn lại tôi cũng thấy những con mắt nhấp nha, nhấp nháy nhưng lần naỳ thì ở trên những cái mông cũng rách bươm khi chúng lê lết trong rừng. Chẳng lẽ chỉ hơn một năm mà Đà Lạt đã về đến cội nguồn bộ lạc như vậy sao? Tôi thầm nghĩ người sống đã như thế, người chết hẳn phải tệ hơn.

Sau khi ăn hết một tô su su luộc thì xong bưã tối; tôi móc trong tuí ra cái đồng hồ Seiko “hai cưả sổ, có người lái” đưa cho chị tôi: “Chị bán cái naỳ đi mua cho cậu cái hòm.” Chị tôi noí: “Quý hoá quá, chị sẽ xin mua mấy tấm ván thông hợp tác xã họ tuồn lậu ra bán. Ông Nguyễn Đình Thưà hưá sẽ đóng giùm cái hòm.” Mẹ tôi noí: “Làm sao khiêng mấy tấm ván đó về được?” Chị tôi noí: “Mợ kêu chồng con Khôi, nó có cái xe ngưạ, hôm qua mẹ nó mới đến thăm cậu rồi noí có cần gì thì kêu nó.” Tôi hoỉ: “Không có xe lam hay sao?” Mẹ tôi cười xuỳ một tiếng, chị tôi chậc lưỡi: “Mấy hôm nay em có thấy cái xe lam naò không? Làm gì có xăng? Thằng chồng con Khôi kiếm được khối tiền nhờ nó giử được con ngưạ kéo xe cho cái ‘ba toa’ hồi trước.”

Đêm hôm đó cha tôi tỉnh lại; tôi nắm lấy tay; mẹ tôi khẻ noí sát tai ông: “Con trai về, thằng Tâm, ông có nhận ra không?” Tôi ghé sát mặt ông: “Con đây cậu.” Ông hé mở mắt một chút, môi động đậy. Mẹ tôi gặng hỏi: “Ông có nhận ra con không?” Tôi gật đầu thay ông: “Có đó mợ, cậu có siết nhẹ tay con.” Loáng thoáng tôi thấy bà đưa tay lên quẹt mắt. Hôm sau cha tôi vẫn chưa đi, nhưng đã đến lúc tôi phaỉ ra đi; lời cuả ông Cát văng vẳng bên tai: “Hập hội chưa phại là chệt!” Mẹ tôi noí với tôi: “Thôi con về gặp cậu như vậy là mãn nguyện rồi, khi cậu đi con không cần phaỉ về nưã, mợ sẽ báo tin sau.” Tôi noí: “Mợ viết thơ, đừng đánh điện tín nưã tốn tiền.” Chị tôi noí: “Em đi thì chỉ một vaì hôm là cậu đi thôi, không còn bao lâu đâu.”
Tôi ra bến xe HTX vận taỉ lúc 2 giờ sáng để sắp hàng mua vé. Gần nưã đêm tôi mới đến chi nhánh công tác dù con đường không quá 320km. Sáng hôm đó moi người xúm lại thăm hoỉ. Tôi noí cha tôi đã mất rồi, và biết rằng noí vậy tôi đã tước mất cuả Buì, và nhất là cuả Cát, một chiến thắng: ‘Hập hội chưa phại là chệt.”

Gần một tháng sau tôi nhận được thơ từ nhà. Thơ báo rằng cha tôi mất hai hôm sau ngaỳ tôi đi. Trong thơ có một tấm hình do anh Hải, người thợ hình dạo từng thuê nhà cuả chị tôi, chụp tặng gia đình làm kỷ niệm. Anh bây giờ là hội viên hợp tác xã nhiếp ảnh du lịch Đà Lạt, mua được phim và giấy hình theo giá nhà nước. Tôi vô tình đưa tấm hình cho Bích Ngọc xem trong lúc cô Thu cũng ngồi gần đó. Một lúc sau tên Buì xuất hiện, hắn đứng trước bàn tổ công tác cuả bọn tôi, noí to như ra lệnh: “Nghe nọi cọ hình đạm ma cha cuạ cậu, đưa mình xem chụt được khôn?” Tôi lục ngăn kéo lấy tấm hình đưa cho Buì. Mọi người nhìn chúng tôi có vẻ “khẩn trương”. Buì xem rất kỹ, xong y nhếch miệng cười cười rồi noí to như thể Archimedes rống lên: “Eureka, eureka!” khi nhaỷ ra khoỉ cái bồn tắm: “Hình đạm ma cha cuạ cậu sao không thậy cậu trong đọ¬¬???” Tôi không dự phòng “sự cố” như vậy. Moị con mắt dồn về phiá tôi; bổng một tia sáng thoáng qua trong đầu cùng cảm giác cái xiết tay nhè nhẹ cuả cha tôi tối hôm đó giúp tôi chậm rải trả lời: “Tôi là người cầm cái máy hình, làm sao có tôi ở trong hình được, phaỉ có ai cầm máy hình chớ!” Một lần nưã tôi biết Buì bị tước mất một chiến thắng khác.

Năm đó, khi bình bầu “sơ kết” sáu tháng đầu năm tôi “được” đoàn thanh niên điều đi lao động trồng luá ở Củ Chi nên không tham dự được. Mấy hôm sau về lại “cơ quan” thì được cô Bảnh, người con gái sinh trưởng ở Hốc Môn, nhân viên ‘lưu dung’ từ ngân hàng Nông Thôn thuật lại khi đến lượt “tổ chức” góp ý phê bình tôi thì Buì bảo viết vô biên bản rằng: “Đ/C Tâm là người thâm trầm, khó hiểu.” Noí xong Bảnh cười híp đôi mắt lá răm: “Tuị tui noí dí nhau là anh đâu có gì thâm trầm, anh noí dóc nghe cười muốn chít, anh cũng có gì khó hiểu đâu...” Tôi noí với Bảnh: “Cô Bảnh không biết đó thôi, noí như vậy là Buì cố tình báo cho ‘tổ chức’ theo dõi tư tưởng cuả tui, người thâm trầm khó hiểu là người rất đáng nghi ngờ. Từ đây cô coi chừng chơi với tui sẽ mang họa lây đó.” Bảnh cười, con mắt lá răm càng híp thêm.


Image


17262



Image

l a n.h u ệ .
____________________________________________________________________________
c a o d u y t â m



Lan Huệ sầu ai, Lan Huệ héo,
Lan Huệ sầu đời, trong héo ngoài tươi...


Những năm đầu cuả chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm ở nhà ga xe lưả Đà Lạt cũng như những nơi công cộng người ta thường dán những ‘áp phích’ tuyên truyền cuả bộ Thông Tin trong đó vẽ những cán bộ cọng sản Bắc Việt là những người ốm nhách, mặt xương xẩu, hai gò má nhô cao, răng vẩu, đội nón cối, mang dép râu, quần ống thấp ống cao, vai vác súng daì, tay mang mã tấu. Chú Trần Văn Thiều, chef de train, mà mẹ tôi goị là “xếp ranh”, tức trưởng các đoàn taù Đà Lạt – Nha Trang, một cảm tình viên cuả chế độ miền Bắc, đến nhà chơi với cha tôi khi thấy tôi hý hoáy vẽ lại trên tập vở học sinh hình ảnh những cán bộ đó thì chú mắng: “Mi là đồ con nít, biết gì, chúng nó bôi bác bộ đội mình đó, người như rưá răng thắng được giặc Pháp ở Điện Biên Phủ.” Thằng nhóc sáu, bảy tuổi như tôi thì không thể hiểu ‘bôi bác’ là gì, ‘chúng nó’ là ai và nhất là Điện Biên Phủ ở đâu. Tôi có năng khiếu vẽ bậy, thấy cái gì ghi thì nhớ rồi về vẽ lại trên bất cứ mảnh giấy naò tôi vớ được; chú noí gì thì cứ nói tôi cứ vẽ như thế. Thời gian sau không thấy chú đến chơi tôi hoỉ thì cha tôi trừng mắt xuỵt biểu im, mẹ tôi thì thì thầm: “Chú bị bắt đi tù rồi, con đừng nhắc đến chú nưã, người ta bắt luôn con đó.” Tôi không biết đi tù là gì nhưng bị bắt thì tôi biết, nghe đến là phát run lên rồi. Hai năm sau chú ở tù về, không còn được làm “xếp ranh” nưã mà ở nhà trông coi tiệm cơm cho bà vợ hai cuả chú ở đường Lý Thánh Tôn, Nha Trang. Mãi sau naỳ tôi mới được nghe kể nguyên nhân chú bị bắt. Là trưởng đoàn xe lưả cũng như ông thuyền trưởng trên con taù biển, chú có quyền hành rất lớn, đi lại tự do trên tất cả các toa xe, có thể bắt hoặc tha người nhảy taù không mua vé; có thể bắt hay tha cho các con buôn mang hàng lậu v.v... Những người thường xuôi ngược Đà Lạt – Tour Chàm – Phan Rang – Nha Trang trên các đoàn xe lưả không ai không biết chú. Nhiều người nể trọng và mang ơn chú, trong đó có bà vợ hai cuả chú. Bà đi buôn chuyến, mang hàng nhiều, được chú cưu mang lâu dần tình nguyện theo chú không cưới hoỉ gì dù biết chú đã có vợ và một đàn con. Thật ra ngoaì chuyện mang ơn, mẹ tôi noí bà ta còn mê chú ghê lắm vì chú rất đẹp trai, bởi vậy mà khi bị thím Thiều "lớn” la mắng thế naò ba ta cũng nhịn nhục. Thời ấy người ta thường hay noí về “Thiên Linh Cái” hễ khi nó xuất hiện thì trời đất tối om, thiên tai dịch hoạ, con người phaỉ biết hối cải đọc kinh niệm chú. Ai nhận được tờ báo tin “Thiên Linh Cái” xuất hiện thì phaỉ sao chép ra đưa cho trăm người, ngàn người để được tai qua nạn khoỉ; ai không làm như vậy, hay xé đi thì tai hoạ sẽ giáng xuống cho mình và cho cả gia đình. Dưới trang giấy báo tin đó thường có mấy câu thần chú đầy thần bí mà người ta phaỉ đọc nhiều lần mới thoát tai ách cuả Thiên Linh Cái. Qua sự xếp đặt sao đó mà chú Thiều có trên tay một xấp giấy báo “Thiên Linh Cái” như vậy, và có lẽ để baỏ vệ một gia đình đông đúc gồm hai bà vợ cùng hơn một chục đưá con, chú đã liên tục phân phát cho từng hành khách trên các đoàn taù. Môt thời gian sau mật vụ đã theo dõi rồi bắt chú. Người ta đã điều tra và biết được cảm tình cuả chú với chế độ cuả các ông cán bộ nón cối, dép râu ngoaì Bắc. Chú bị ghép tội chính trị - tuyên truyền tin tức bậy bạ gây hoang mang trong xã hội. Chú ờ tù hai năm thì được về. Dĩ nhiên là không còn là ông “chef de train” cuả sở Hoả Xa Việt Nam nưã.

Nhưng chú Thiều không là nhân vật chính ở đây; chú chỉ là người đầu tiên cố tâm đánh tan cái hình ảnh “nón cối, dép râu, răng vẩu, vác mã tấu” cuả các cán binh Bắc Việt trong đầu óc non nớt cuả tôi. Mãi đến mười bảy, mười tám năm sau tôi mới biết chú noí đúng khi một sáng thức dậy cả thành phố Sài Gòn tràn ngập bích chương hình ảnh những bộ đội giải phóng to lớn, khoẻ mạnh, tay rắn chắc vung nắm đấm thép lên trời, hoặc cầm súng gắn dao lê chiả về phiá trước. Sau naỳ tôi có nghe tin chú ra tiếp thu ga xe lưả Nha Trang khi bộ đội cuả chú từ Bắc vaò chiếm thành phố. Nhưng có lẽ chú già quá rồi, hoặc người ta không còn chức vụ “chef de train” nưã nên một thời gian sau đó chú lại về ngồi trông cái quán cơm cuả thím Thiều Nhỏ, bấy giờ đã hạ bảng hiệu, điù hiu vắng vẻ vì chẳng còn tìm đâu ra cơm gạo, rau quả, thịt cá ngoaì chợ, moị ngành nghề lại phaỉ vô tổ hợp kinh doanh, sản xuất. Thật ra thì sau bao nhiêu năm không gặp và lại bị quay mòng mòng với cuộc đời lên dốc, xuống đồi quá gắt cuả mình, hình ảnh chú không còn vương lại chút naò trong đầu tôi cho đến hôm tôi gặp tên Tính ở xã Trung Mỹ Tây.

Vưà thoạt thấy Tính thì tôi sững sờ vì có cảm giác quen biết y từ thưở naò, bổng nhiên chú Thiều lại xuất hiện trong tâm trí tôi cùng với Tính. Tôi phaỉ lặng đi một chốc để định thần nhớ lại. Tính là hiện thân hoàn hảo cuả người cán bộ cọng sản được vẽ trong những tấm hý hoạ cuả bộ Thông Tin chế độ Ngô Đình Diệm, hình ảnh mà chú Thiều tố cáo là giả dối và tìm cách xoá bỏ trong đầu óc con trẻ cuả tôi gần hai chục năm trước. Tính đội nón cối, chân mang dép râu, quần ống thấp ống cao, người ốm tong teo, mặt xương xẩu, hai gò má nhô cao, môi trề, răng vẩu cáu thuốc lá. Chỉ khác là tay Tính không cầm mã tấu, vai không đeo súng daì mà đang ghì trên cái ghi đông, dắt chiếc xe đạp băng qua cái sân lót gạch taù cuả căn nhà gạch ba gian goị là “bàn tiết kiệm Trung Mỹ Tây” để đi ra cổng. Thấy tôi Tính chỉ liếc mắt rồi noí vọng: “Mợi xuổng đọ hạ? Làm việc vợi Lan kệ toán đị nhạ. Mềnh lên chi nhạnh đây!” Tôi ừ một tiếng rồi bước lên thềm đi vaò “bàn tiết kiệm”. Hệ thống chi nhánh ngân hàng nhà nước đã được thành lập ở các huyện nông thôn miền Nam sau gần một năm “giải phóng”. Tiết Kiệm là chính sách hàng đầu ‘ích nước lợi nhà’ xây dựng xã hội, xã hội chủ nghiã. Mỗi xã đều có một “bàn” tiết kiệm gồm có một “trưởng bàn” mà hầu hết là cán bộ A từ ngoaì Bắc vào ‘tăng viện’ cho miền Nam phụ trách lãnh đạo, một kế toán, một thù quỹ và ở nhiều xã lớn có thêm một ‘phong traò’ là người làm công việc tuyên truyền, ‘hợp đồng’ với các uỷ ban và đoàn thể thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nông hội v.v...cuả xã để ‘vận động’ nông dân ‘đóng’ tìên tiết kiệm. Xã Trung Mỹ Tây không có phong trào, tôi được chi nhánh phaí xuống ‘hợp đồng’ với ‘bàn tiết kiệm’ để lên kế hoạch tuyên truyền vận động trong vaì ngaỳ. Do chế độ ‘Ngụy’ không có kiểu ‘ngân hàng’ xã như vậy nên khi giải phóng vaò họ không ‘tiếp thu’ được cơ sở vật chất naò, chính quyền điạ phương phải chọn một gia đình nông dân khá giả naò đó có nhà cưả khang trang rộng rải vận động gia chủ cho ‘bàn’ tiết kiệm ‘đóng’ trong nhà. Gia chủ phaỉ nhường nguyên gian nhà trước thường là phòng khách, có bàn thờ tổ tiên cho ‘bàn’ làm việc, và ‘bố trí’ chổ cho cán bộ tiết kiệm, thường là ba người, ăn ở ngay trong nhà mình.

Tôi vưà được ‘điều’ đến chi nhánh vaì tuần, lần đầu tiên xuống ‘bàn Trung Mỹ Tây’, cũng là lần đầu tiên gặp Tính, người vưà gây cho tôi một chấn động hổn loạn giưả quá khứ xa xôi và hiện tại mông lung. Trên cái bàn trong gian chính cuả ngôi ‘nhà lai’(*) mái ngói, trường xây, nền gạch taù có hai cô gái đang cắm cuí ngồi viết. Nghe tôi vaò họ ngước lên nhìn. Cả hai trạc tuổi hai mươi mốt, hai mươi hai. Một cô làm tôi ngạc nhiên đến sững sờ vì moị thứ trong gian nhà đó trở nên tối tăm, hèn mọn trước cái nhan sắc lộng lẫy nổi bật dù y phục cuả cô cũng như tất cả đàn bà con gái trong Nam lúc đó rất đơn giản - chiếc áo bà ba màu lợt và quần sa teng đen mờ, chân mang đôi dép nhưạ. Cô đứng lên, tay còn cầm cây viết chấm mực cuả học sinh tiểu học; mắt sáng, to, đen lánh; miệng xinh, cười tươi lộ đồng tiền bên má; tay chỉ vô cái ghế bên cạnh mời tôi ngồi: “Anh Tâm mới xuống hé, mời anh ngồi đây, tui là Thuý Lan, còn đây là cô Phương...” Tôi vội quay đầu qua chào Phương, giật mình vì nãy giờ chỉ chăm chăm nhìn Thuý Lan. Chợt nhớ đến cách nhà văn Hồ Biểu Chánh mô tả con gái đẹp rải rác trong tác phẩm cuả ông: “Mặt maỳ sáng trưng, tay chưn dịu nhiễu, trông dáng vẻ con nhà giaù...” đúng là Thuý Lan nhưng không đầy đủ. Tôi không biết ông sẽ phaỉ mô tả như thế naò để người đọc thấy được nhan sắc, hình dáng thật cuả Lâm Thúy Lan. Tôi không có khả năng đó. Thuý Lan không những xinh đẹp, mà còn sang trọng, quý phái; hơn thế, cô còn toát ra một tính cách đơn giản, thẳng thắn, và cương quyết. Làn da mịn, trắng ngần; bàn tay, bàn chân mũm mỉm; cử chỉ dịu dàng nhưng mạnh dạn rõ ràng thuộc loại ‘trâm anh thế phiệt’ được chăm sóc, giáo dục bởi một gia đình rất truyền thống.

Sau buổi làm việc, tôi ra về, đạp xe cọc cạnh trên bờ ruộng vang tiếng uềnh oang, ộp oạp của cóc nhái, ểnh ương dưới sình lầy tôi không nghĩ về thân phân của mình, một sáng mai mở mắt chân lấm tay bùn, mà đầu óc tôi chỉ là hình ảnh Lâm Thuý Lan nơi ruộng đồng tối tăm mù mịt đó.

Ăn vội vàng vaì chén cơm tập thể cuả cô Láng ‘chị nuôi’; tôí hôm đó tôi nhập bọn với đám thanh niên thiếu nữ Sàigòn bị đày lên vùng ruộng đồng hiu hắt đang túm tụm tán dóc trên cái sân đất, dưới hàng cau sau trụ sở chi nhánh. Tôi gợi chuyện với Chúc, và Bình. Moị người ai cùng tầm trồ khi noí đến Lâm Thúy Lan nhưng không ai biết vì sao một cô gái như vậy lại lưu lạc lên chốn naỳ. Những ngaỳ tháng sau thỉnh thoảng tôi gặp Thuý Lan lên chi nhánh vội vã làm các thủ tục với phòng kế toán rồi lại tất tả đi nhanh ra bến xe đò trở về lại Trung Mỹ Tây. Mỗi lần thấy tôi thì Thuý Lan cười cả mắt lẫn môi, khẻ gật đầu như hai người bạn cũ mà sự thông cảm không cần phaỉ noí lên lời.

Nhân một ngaỳ lễ, đoàn thanh niên tổ chức hội nghị có văn nghệ, tất cả thanh niên, nhân viên ở các xã đều tập trung về chi nhánh. Tôi và Chúc đang đứng trên lầu hai nhìn xuống cổng thì một chiếc xe LaDaLat trờ tới, đậu lại. Lâm Thuý Lan bước xuống, khác hơn ngaỳ thường một chút, cô mặc một chiếc áo bà ba bông tím bằng soie, vậy mà trông cô lộng lẫy như Liz Taylor mặc áo dạ hội đi trên thảm đỏ bước vaò lễ trao giải Oscar cuả Hollywood mà tôi thấy hình trên tạp chí Newsweek trước đây. Người Lái xe bước xuống, anh ta mặc bộ đồ kaki xanh bốn tuí cuả cán bộ trong các xưởng máy, không đẹp trai nhưng cũng bảnh bao. Họ noí với nhau điều gì đó rồi Thuý Lan thoăn thoắt bước vô cổng chi nhánh. Anh ta đứng nhìn theo một lúc rồi lái xe đi. Chúc noí đó là chồng Thuý Lan. Những ngaỳ sau “giải phóng” người ta có thể biết được sự quan trọng và điạ vị cuả một người khi nhìn vaò phương tiện di chuyển. Những người được đi trên những chiếc ‘xe con’ nhứt là tự lái lấy nếu không là cán bộ rất cao cấp thì cũng con cháu cuả họ. Tôi hoỉ Chúc sao chồng Thuý Lan như vậy mà cô ta phaỉ về làm kế toán ở một bàn tiết kiệm ở cái xứ ruộng đồng quê muà như Trung Mỹ Tây. Chúc lắc đầu: “Chắc chắn là có uẩn khúc gì đó nhưng đôi khi con cái các chủ điền, tư sản phaỉ làm như vậy một thời gian để tránh né lưởi lê, mã tấu cuả ‘tổ chức’...”

Một hôm đi ngang qua khu tập thể cuả phụ nữ tôi bắt gặp Thuý Lan đang ngồi giưả đám các cô gái, có cả Mỹ Ngọc, cử nhân luật, trước là nhân viên tập sự ngành xuất nhập khẩu ở Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín. Họ đang noí gì đó mà thỉnh thoảng Thuý Lan đưa tay lên quẹt mắt. Thoáng thấy tôi các cô ngưng bặt, Thuý Lan ngước nhìn tôi thì cả mắt lẫn môi đều cười, nhưng cái cười gượng gạo không dấu được ngấn nước mắt đang quanh tròng và nổi buồn vời vợi. Mấy hôm sau Mỹ Ngọc và tôi được phái xuống xã Tân Hiệp để ‘vận động’ nông dân đóng tiết kiệm ăn mừng một ngaỳ lễ lớn. Khi tôi nhắc lại những giọt nước mắt cuả Thuý Lan thì Mỹ Ngọc cười chua chát: “Anh ơi, người đẹp naò cũng có một trăm, một ngàn nổi khổ, xấu xí như tui thì dễ yên thân. Anh đọc chuyện Kiều rồi chứ, đời nay đâu phaỉ là hết những thằng bán tơ, hay sở khanh, Thúc Sinh, Hồ Tôn Hiến...” Tôi không tiện gặng hoỉ thêm, nhưng tiếng ngân nga cuả Mỹ Ngọc noí lên nhiều lắm: “Thằng bán tơ kia dở doí ra; làm cho lụy đến cụ Vương già...”

Tôi cũng vẫn thường gặp Tính. Hắn hay đạp xe lên chi nhánh, noí oang oang chọc ghẹo các cô với giọng Đô Lương đặc sệt cuả xứ Nghệ An, xứ cuả đám kiêu binh thời Lê mạt mà khi người ta ruả nhau thì thường lôi chúng ra làm đối tượng như: “Mả cha mi, trăm thằng ‘chân vàng’, ngàn thằng ‘chân vàng’ vô nhà mi!” Người bị ruả hiểu rằng “chân vàng’ là chỉ đám kiêu binh Nghệ Tỉnh đi chân đất quấn xà ghệch bằng vải vàng, và vàng cũng là màu cuả củ ‘nghệ’ tức ám chỉ xứ Nghệ An, nơi phát tích cuả chuá Trịnh Tùng. Một tên kiêu binh vô nhà đã khốn đốn rôì huống gì trăm thằng, ngàn thằng; thật là câu ruả độc địa. Những từ ngữ địa phương cuả liên-khu-tư như ‘con mọi’, ‘cái đọi’, ‘cái trốc’- con muỗi, cái chén, cái đầu - đã là một thứ ngoại ngữ với các cô mà lại được phát âm bởi giọng Đô Lương cuả Tính thì hắn có noí tục tiủ các cô cũng tưởng là lời khen tặng nên nhiều cô cười khúc khích khiến hắn tưởng được đồng tình khích lệ. Thường thì trạm ngừng chân lâu nhứt cuả hắn là phòng cuả Cát, phó giám đốc chi nhánh, trong đó dưới chân ghế cuả Cát có một cái bô cho con nit đàn bà đi tiểu mà các cán bộ từ Bắc vaò lại dùng để đổ cặn nước trà, hay xộc nước thaỉ trong những cái điếu cày làm bằng tre. Hầu như tất cả các phòng làm việc và ngay tại bàn xa lông trong phòng tiếp khách đều có cái bô trưng ra công khai như vậy. Thậm chí có cán bộ không những đổ nước trà dư vaò bô mà còn súc súc miệng rồi nhổ toẹt vaò đó. Tính và Cát lại bi bô noí chuyện, rúc điếu cày ren rét, o, o, rồi nhả khói mù trời đất. Thỉnh thoảng Tính cắp lên ít trái cây ‘vận động’ được cuả bà con nông dân trong xã như đu đủ, bưởi, mãng cầu, vú sưả, và rất nhiều khi là một chai ‘đế Bà Điểm’. Đó là dịp cán bộ A xúm lại trong phòng Cát sau giờ ‘tan tầm’ để vui vẻ, cười đuà hể hả.

Một sáng thứ Hai khi moị người phaỉ tập hợp, xúm xít ở trước quầy kế toán nghe đọc báo theo thủ tục bổng Tính xuất hiện, hắn quăng cái xe đạp ở bậc thềm rồi xồng xộc đi vô, mặt nghiêm trọng nếu không noí là đằng đằng sát khí. Hắn noí gì với Cát xong thì chúng tôi được baỏ về chổ làm việc. Suốt hôm đó chúng tôi cảm nhận được một ‘sự cố’ gì đó ghê gớm đang xảy ra. Đến chiều thì nghe các cô truyền tai là Lâm Thuý Lan đã bị công an bắt. Tin tiết lộ thêm từ Dũng, một sinh viên năm thứ nhứt trường đại học Minh Đức cũ, tình nguyện làm kẻ thưà phái thân tín cho Mẫn, cán bộ A, bí thư đoàn thanh niên, với nguyện vọng được Mẫn giới thiệu kết nạp vaò đảng; theo đó thì Tính đã tố cáo lên đảng uỷ và ban giám đốc Thuý Lan là mỹ nhân kế cuả CIA cài lại. Cô ta đã lợi dụng sự gần guỉ chung một mái nhà với Tính, một đảng viên cán bộ cách mạng tăng phaí từ A vaò, để khiêu gợi Tính vaò một mối ‘quan hệ trai gái bất chính’ nhằm triệt hạ uy tín cuả đảng và cán bộ đảng. Nhiều đêm Lâm Thuỷ Lan đã chui vô mùng cuả Tính và bị cự tuyệt. Cao trào cuả âm mưu là thường tắm truồng không đóng cưả như tối hôm qua, lợi dụng đêm khuya vắng vẽ để khiêu gợi, kéo Tính vaò phòng tắm. Nhờ ‘cảnh giác cách mạng cao độ’ Tính đã chống lại âm mưu naỳ và tố cáo cô ta trước tổ chức.

Tin đó thật là chấn động, chúng tôi đều bàng hoàng. Dù Cát đã cấm anh em tụ tập bàn tán, gây hoang mang, không để bọn xấu lợi dụng tuyên truyền, chúng tôi vẫn lén gặp những chị em nhân viên cũ thân cận với Thuý Lan để tìm hiểu. Mỹ Ngọc khóc đỏ mắt, miã mai noí với tôi: “Anh biết hôm Thuý Lan lên khóc với tuị tôi là tại sao không? Nó than bị thằng Tính mò vô mùng, thường xuyên rình rập mỗi lần nó vaò phòng thay đồ, cầu tiêu, buồng tắm. Anh biết rồi, nhà quê đâu có phòng ốc gì kín đáo, thằng¬ Tính luôn luôn nhìn trộm được nó, có khi lên cơn nắm tay nắm chưn...Nhiều lần nó la lên nhờ con Phương giải cứu nhưng con Phương sợ thằng Tính không dám tố cáo. Khi Thuý Lan báo cáo cho tổ phụ nữ thì bị mấy bà cán bộ A mắng nó lẳng lơ. Tối hôm qua, sau mấy ngaỳ không tắm, nó đơị gần 12 giờ đêm người ta ngủ hết rồi mới dám đi tắm; đâu ngờ thằng Tính cũng thức canh. Lần naỳ vì chiụ không nổi sao đó thằng Tính kéo bung cưả xông vô ôm nó, Thuý Lan la làng cầu cứu; con Phương và ông bà chủ nhà thắp đèn ra coi. Thằng Tính biết bị lộ nên tri hô lên là Thuý Lan khiêu dâm nó. Sáng ra đi báo công an và ban giám đốc chi nhánh. Đơn tố cáo cuả Tính được ông Cát chuyển lên thành phố cho ban Tổ Chức Cán Bộ để xử lý Thuý Lan rồi.”

Thời đó bị ghép tội tàn dư CIA caì lại là nghiêm trọng, chẳng ai có thể chứng minh mình không phaỉ là CIA. Chúng tôi chỉ biết nhìn nhau buồn bả, ngơ ngác. Nhớ đến người đàn ông lái chiếc xe LaDaLạt chở Thuý Lan đến buổi văn nghệ tôi không hiểu hắn sẽ phản ứng như thế naò. Sao lại có chuyện vu cáo đơn giản như vậy, chẳng lẽ Thuý Lan sẽ bị kết án tù cải tạo và tên Tính vẫn tiếp tục là một đảng viên cách mạng “trung kiên đạo đức” hay sao?

Suốt ngaỳ hôm đó chúng tôi thấy tên Tính lăng quăng, qua lại, chuyện trò với đám cán bộ đồng chí cuả hắn ở chi nhánh mà không về lại Trung Mỹ Tây, thái độ có vẻ đắc thắng. Nhìn con người Tính nhất là đôi mắt ti hí thường đảo qua, đảo lại liên hồi, gò má xương xẩu nhô cao và nhất là hàm răng vẩu ngập nguạ nhựa thuốc laò không ai có thể tưởng tượng nỗi đó là một cán bộ cách mạng, đảng viên đạo đức, vưà hiên ngang chống lại được sự quyến rủ cuả một giai nhân tuyệt thế như Lâm Thuý Lan.

Bổng hôm sau tên Tính biến đâu mất, rồi Thuý Lan xuất hiện đột ngột ở phòng kế toán. Moị người tuá đến tìm cách hoỉ han nhưng Thuý Lan tránh né, khuôn mặt cô tái xanh, lạnh ngắt, cặp mắt long lanh pha lẫn giận dữ và kiêu hãnh. Cô không nhìn ai, chỉ làm thủ tục gì đó với những người trong phòng rồi, nhanh chóng rời khoỉ chi nhánh. Cát ra khoỉ phòng khoát tay baỏ chúng tôi giải tán về ngay chổ làm việc cuả mình. Đó là lần cuối cùng tôi gặp Tính và Lâm Thuý Lan.

Sự việc sau đó được biết rất ngắn gọn. Đơn tố cáo cuả Tính và lời ‘đề xuất’ bắt giam Thuý Lan cuả đảng uỷ, cùng ban giám đốc chi nhánh được chuyển lên các ‘cơ quan chức năng’ trong đó có văn phòng cuả ông Năm Hợp, trưởng ban tổ chức cán bộ cuả toàn ngành trong thành phố ở trụ sở đường Hàm Nghi. Chỉ một vaì giây sau khi đọc xong những thứ đó Năm Hợp đã giận tím mặt, và goị vaì cuộc điện thoại là giải quyết dứt khoát sự việc. Chi nhánh công tác cuả Tính bị bắt buộc khẩp cấp kiểm điểm Tính và tự kiểm điểm chi bộ cùng ban giám đốc về sự cáo gian đó. Đích thân Năm Hợp đề xuất lên Tư Châu, giám đốc ngành cuả thành phố ký quyết định ‘trả’ cán bộ Tính về Nghệ An là đia phương gốc trong vòng 24 giờ đồng hồ. Sao Năm Hợp có thể kết luận tức thời đó là sự vu cáo? Đơn giản Lâm Thuý Lan là cháu dâu cuả Năm Hợp, chính ông ta là người ‘bố trí’ Thuý Lan lên Trung Mỹ Tây công tác cách mạng, một phần để ‘giáo dục cách mạng’, một phần để ‘cải taọ tư tưởng’ và ‘cải tạo thành phần’ cho Thuý Lan.

Tập thể ban lãnh đạo cuả chi nhánh và các cán bộ A ngay sau đó rất im ắng. Chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra sau những cánh cưả cuả phòng làm việc và phòng họp cuả họ, nhưng họ làm như thể không có chuyện gì xảy ra, như thể chưa từng có tên Tính hay cô Thuý Lan trên đời này. Lâm Thuý Lan sau khi lên bàn giao hồ sơ kế toán không còn làm việc ở Trung Mỹ Tây nưã, cô bỏ đi không từ giả chúng tôi. Tên Tính cũng không gặp lại ai, hắn cầm quyết định ra thẳng nhà ga Hoà Hưng khẩn cấp trở về miền Bắc.

Những thắc mắc cuả tôi về Thuý Lan dần dần được giải toả qua lời kể cuả Mỹ Ngọc, Phương, Yến những người bạn thân cận cuả Thuý Lan và Hoa vợ cuả Bình cùng làm chung với tôi.

Đức Hoà là một quận lỵ nằm giưả Đức Huệ và Hốc Môn, là trái độn cuả một quận sát biên giới Cao Miên, nơi ẩn naú cuả Trung Ương Cục Miền Nam và một quận cưả ngỏ vaò Sài Gòn sát cạnh phi trườngTân Sơn Nhứt. Nó là hậu cần cho những trận tấn kích vaò Củ Chi, Hốc Môn và Sài Gòn cuả quân ‘Giải Phóng’ gồm cả du kích cuả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và bộ đội Bắc Việt, từ đó họ có thể vượt qua sông Vàm Cỏ về căn cứ trung chuyển ở Đức Huệ rồi vượt biên giới qua đất Cao Miên. Những khi quân đội Việt Nam Cọng Hoà hành quân ‘taỏ thanh’ Đức Huệ thì họ cũng dùng Đức Hoà làm bàn đạp để vượt qua con sông Vàm Cỏ. Do đó noí đến Đức Huệ thì phaỉ noí đến Đức Hoà. Đức Hoà trở thành vùng ‘xôi đậu’ – ‘Quốc Gia’ và ‘Cọng Sản’ lẫn lộn. Trước cuộc chiến tranh tương tàn khốc hại đó trong vùng naỳ đã có nhiều gia đình khai khẩn hàng ba bốn đời, họ trở thành chủ điền giàu có trong đó có ông Hội Đồng Lâm. Lâm Đắc Thắng người con trai đầu lòng cuả ông thưà hưởng gia sản rất lớn, nhà cưả ruộng vườn đình huỳnh, trù phú; lại thêm nhà máy xay luá, nhà máy ép miá đường. Thoí đời thì nhà giaù thường kén vợ đẹp, nên sinh con cái đẹp. Đến đời Hai Thắng ông ta cưới bà vợ lai Triều Châu sinh được hai cô con cái mĩ miều là Lâm Thuý Huệ và Lâm Thuý Lan. Trong bà con dòng tộc hai bên có nhiều người theo kháng chiến chống Pháp, rồi từ đó người theo Quốc Gia, người theo Cọng Sản. Dù bên naò đi nưã họ cũng trong vòng bà con hay bạn bè chòm xóm thâm niên. Đó là lý do tại sao quân đội Miền Nam không thể ‘bình định’ hoàn toàn được vùng naỳ vì quân ‘Mặt Trận’ lẩn lộn và được che dấu kỹ bởi người theo ‘Quốc Gia’.

Do chiến tranh không thể khai khẩn ruộng vườn hiệt liệt như trước, cha cuả Huệ và Lan đã di chuyển một phần taì sản về Saì Gòn, Chợ Lớn xoay ra đầu tư kinh doanh trong ngành thương mãi. Trong thân tộc có gia đình cuả người dòng họ xa nhiều đơì mà con cái đa số theo ‘Giải Phóng.’ Vì có thân thế lớn trong vùng nên ‘Tổ Chức’ bố trí họ về hoạt động cả quân sự lẫn ‘kinh taì’ cho ‘Mặt Trận’ ngay tại đia phương. Những người naỳ dần dần là những cán bộ rất cao cấp, trong đó có Năm Hợp và anh là Tư Hội. Tư Hội bị bắn chết trong một trận ‘càn’ cuả quân đội Quốc Gia, để lại một người con trai tên Tòng dưới sự bảo trợ cuả Năm Hợp. Lẽ ra ‘tổ chức’ đưa Tòng vaò khu để bồi dưỡng nhằm nối gót người cha nhưng vì Tòng là con một, gia đình Năm Hợp cũng muốn bảo toàn cho Tòng để lo bề hương hoả. Do đó Tòng không vô khu mà ở lại nhà ăn học theo sinh hoạt cuả phe ‘Quốc Gia’ nhưng luôn dưới sự giám sát, che chở cuả ‘Tổ Chức’. Vì mất cha khi mới mười ba, mười bốn tuổi, người chú bảo trợ lại thường ở trong ‘khu’ nên Tòng tự tung, tự tác, lêu bêu hư hỏng, y chơi nhiều hơn học. Khi đã trưởng thành không làm ăn gì nhưng tiền bạc ‘kinh taì’ cuả Năm Hợp thu được từ chủ vườn, chủ tiệm cho đến nông dân, hay người bán quán, bán rong cũng rơi rớt xuống, chu cấp cho Tòng đầy đủ. Đến tuổi đi lính cho phe Quốc Gia, gia đình lo lót tiền bạc cho Tòng được miễn dịch vì lý do gia cảnh. Bù khú với mấy cô gái quê hoaì cũng chán Tòng có lần gặp chị em Huệ Lan và xiêu lòng. Từ đó rắp tâm tán tỉnh, tìm cớ đến tận nhà thăm. Cha mẹ Thuý Huệ biết rỏ Tòng nhưng ngại thân thế lớn cuả gia đình Tòng bên ‘Giải Phóng’ nên cũng đối đải qua loa. Thuý Huệ, Thuý Lan là những cô gái được chăm nom, giáo dục tốt trong gia đình truyền thống nên cũng có ý coi khinh Tòng. Có lần đêm tối Tòng đến nhà chơi, mang cây súng K54 cuả ‘giải phóng’ lận trong lưng ra khoe. Cha mẹ Thuý Huệ, Thuý Lan lo ngại và từ đó đưa hẳn hai chị em xuống Sài Gòn ăn học, chỉ lâu lâu cúng giổ, tết nhứt mới về thăm quê. Tòng dò hoỉ và lần xuống tận Sài Gòn tìm đến nhà, dù biết gia đình Huệ Lan không thuận ý, chấp nhận mình.

Cơ ngơi taì sản cuả cha mẹ Huệ Lan ở Đức Hoà còn nhiều nên cũng phaỉ tham gia ủng hộ cho ‘Giải Phóng’ để được yên thân làm ăn, giử nhà, giử vườn, hương hoả bao đời cuả ông cha đến khai khẩn khu naỳ hơn một trăm năm trước. Khi Năm Hợp biết được ý muốn cuả Tòng thì nghĩ ngay đến cơ hội siết chặt thêm quan hệ giưả cha cuả Huệ Lan với ‘Giải Phóng’. Ông ta tìm đến, đề nghị cha Huệ cho Tòng cưới Huệ, khi đã là con dâu cuả ‘Giải Phóng’ thì Huệ sẽ có lợi cho ‘tổ chức’ rất nhiều không những về ủng hộ taì chánh mà còn các công tác khác với nhan sắc mỹ miều cuả nàng. Cha Huệ sinh sống cùng với ‘Mặt Trận’ bao nhiêu năm tháng rồi, sở dĩ được yên thân là do tiền bạc, cuả cải đóng góp nên hiểu rõ những ‘chính trị’ bên sau những mối quan hệ với ‘Giải Phóng’. Ông rất lo âu tiết lộ tin naỳ cho Thuý Huệ. Thuý Huệ thưa với cha nhờ noí thẳng với Năm Hợp và ‘Tổ Chức’ là nàng đã có người yêu và hưá hôn với người ở Sài Gòn. Những gì nàng noí cũng có thật. Hai chị em Huệ và Lan từ khi ở hẳn Saì Gòn đi học đều quen biết rồi có người yêu nhưng không dám thưa với cha mẹ. Bạn cuả Huệ là một sinh viên trường Y Khoa Saì Gòn, nhà nghèo, cha là một sỹ quan cấp nhỏ trong quân đội ‘Quốc Gia’, mẹ buôn bán nhỏ ngoaì chợ. Do thân thế cuả người yêu như vậy Thuý Huệ chưa dám noí cho cha mẹ biết. Bạn cuả Thuý Lan là sinh viên trường Bách Khoa Phú Thọ, cha là sỹ quan không quân cấp tá. Trước sự đề nghị có tính ép buộc cuả Năm Hợp mà thật ra là cuả tổ chức trong ‘ý đồ’ ‘tô hồng’(**) cả gia đình mình, cha Huệ Lan phần thì thương con, phần thì không muốn đi theo con đường cuả Năm Hợp vì ông đã từng chứng kiến những người bị ‘tổ chức’ chặt đầu, bỏ bao bố trấn nước trong những năm Nam Kỳ Khởi Nghiã chì vì tội có đất, có vườn, có làm ăn với Tây, hay quan hệ với phong kiến, ông đã cáo lui với Năm Hợp là Huệ và Lan đã có ‘mối’ ở Saì Gòn chỉ chờ khi hai chàng rể tương lai học hành xong thì gả.

Sự từ khước cuả cha con Huệ Lan như nước lạnh xối vô mặt Tòng và Năm Hợp. Tòng phản ứng bằng cách công khai đe doạ sẽ bắt cả hai chị em Huệ Lan mang vaò ‘bưng’ một khi hai cô về Đức Hoà. Năm Hợp từ đó không trực tiếp đứng ra thu ‘thuế’ gia đình cha mẹ Mỹ Lan mà sai cấp dưới từ đia phương khác đến. Đang đêm họ mang cả tiểu đội võ trang tận răng đến đập cưả gia đình Huệ Lan. Họ nêu ra những danh mục tài sản cuả ông tận Sài Gòn và đưa ra một thuế biểu cao gấp đôi những gì ông phaỉ ‘nộp’ cho ‘Giải Phóng’ trước đây. Cha mẹ Huệ Lan phaỉ làm theo ý họ trong phập phồng lo sợ vì chẳng biết họ có ngừng lại ở giới hạn naò không; đã có người bị kết án chống đối, rồi mang đi bắn bỏ giưả đêm khuya. Cuả nổi họ có thể chuyển về Sài Gòn nhưng nhà máy xay luá, nhà máy ép đường miá, ruộng lúa, vườn cây ăn trái, nhà cưả không thể bứng lên mà mang đi được. Ông bà tìm cách đóng cưả hai nhà máy nhưng không qua khỏi mắt cuả ‘tổ chức’ - Năm Hợp, và các đồng chí cuả ông ta. Họ gơỉ cho ông một ‘cáo trạng’ kết án hành động đóng cưả xưởng máy là phá hoại nguồn tiếp tế cho ‘giải phóng’, taì sản đó là cuả nhân dân và nhân dân sẽ lấy lại. Cha Thuý Lan chỉ có bổn phận phaỉ tiếp tục điều hành nhà máy nếu không sẽ chiụ hậu quả tàn khốc.

Chuyện xảy ra chỉ vaì tháng mà cha mẹ Thuý Lan đã bạc đầu. Mẹ Thuý Lan bỏ xuống Sài Gòn với hai con để tỉnh dưỡng, nhưng rồi thương chồng bà lại quay về Đức Hoà. Có lần bà bàn với ông bỏ hết tất cả gia sản ở Đức Hoà cho ‘Giải Phóng’ về sống cùng hai con ở Sài Gòn. Cha Thuý Lan đăm chiêu suy nghĩ rất lâu rồi noí ông cha cuả gia tộc đến đất Đức Hoà một trăm mấy chục năm trước với hai bàn tay trắng, đổ mồ hôi nước mắt, thậm chí xương máu mới gây dựng nên được cơ nghiệp ngaỳ hôm nay. Gia đình ông được thưà hưởng cuả hương hoả naỳ phaỉ có bổn phận gìn giử, gây dựng cho đời con cháu mai sau. Bỏ hết ra đi là ông có tội với tổ tiên. Thà để cho ‘Giải Phóng’ ‘ăn’ phần lớn mà ông giử được cơ nhiệp còn hơn là mang tội với tổ tiên. Chiến tranh rồi có lúc tàn, thanh bình sẽ trở lại và mọi chuyện đâu sẽ vaò đó.

Ông đã nghĩ đúng, chỉ vaì năm sau chiến tranh đã đến lúc tàn, và thanh bình đã trở lại không những ở Đức Huệ và trên toàn cõi Bắc Nam; nhưng moị chuyện lại không đâu vaò đó.

Vaì ngaỳ trước khi quân Bắc Việt tông sập cửa Dinh Độc Lập bạn trai cuả Thuý Lan tìm gặp nàng đề nghị cùng di tản với gia đình cuả anh. Anh là con trưởng, mấy em còn nhỏ phaỉ đưa mẹ theo cha anh ra đi vì ông là sỹ quan cấp tá trong không quân chắc chắn sẽ bị cộng quân trả thù. Thuý Lan không thể bỏ nhà đi theo anh một mình, cha mẹ cô ở tận Đức Hoà mang trong người sứ mạng baỏ vệ hương hoả, mồ hôi nước mắt cuả tổ tiên, ho sẽ không chiụ ra đi. Hai người chia tay trong nước mắt. Cha cuả bạn trai cuả Thuý Huệ, người lính già đã chết trong trận đánh cuả tướng Lê Minh Đảo chặn quân Bắc Việt ở Xuân Lộc, mẹ anh đi tìm chồng cũng lạc đạn chết đâu đó ở rừng cao su Trảng Bom, Biên Hoà; những ngaỳ đầu ‘giải phóng’ anh được điều đi phục vụ thương binh trong các bịnh viện cuả bộ đội, họ không gặp được nhau. Đúng như cáo trạng cuả Năm Hợp nhà xưởng cuả cha mẹ Lâm Thuý Lan là cuả nhân dân và nhân dân lấy lại, tất cả tài sản ruộng vườn cuả gia đình ông được cách mạng ‘tiếp thu’. Ngay hôm sau ngaỳ ‘giải phóng’ một toán du kích đến nhà mời ông bà ra trụ sở Ủy Ban Nhân Dân xã làm việc. Họ nhốt cả hai ông bà trong căn phòng nhỏ tại trụ sở ấp cuả Nguỵ quyền trước đây; hai ngaỳ không cơm nước. Hai chị em Huệ Lan không nghe tin tức cha mẹ đã chở nhau trên chiếc xe LaĐalạt cuả gia đình về đến Đức Hoà. Ngaỳ thứ ba Tòng xuất hiện, tay đeo băng đỏ, lưng lủng lẳng cây súng K54 quát tháo du kích mở khoá đưa ông bà lên phòng làm việc. Huệ Lan ôm cha mẹ khóc như mưa. Tòng cho xe chở cả gia đình về căn nhà gạch to lớn cuả ông bà mà du kích đã chiếm đóng, chàng ta ra lệnh cho họ ra hết rôì mời ông bà cùng Huệ Lan cơm nước cẩn thận. Sau đó trang nghiêm noí rằng Năm Hợp đã rời Đức Hoà xuống tiếp thu Sài Gòn trong Uỷ Ban Quân Quản cuả Cao Đăng Chiếm, nhưng trước đó có dặn Tòng tìm gặp ông bà để truyền đạt mấy việc. ‘Mặt Trận’ quy kết gia đình ông bà vaò giai cấp đia chủ, cường hào tại Long An. ‘Cách Mạng’ cũng ‘nắm’ được hoạt động thương mãi và taì sản cuả ông bà ở Sài Gòn Chợ Lớn nên ông bà còn bị quy kết thành phần ‘tư sản mại bản’. Hai thành phần naỳ đều bị triệt hạ trước tiên. Ông bà sẽ bị toà án nhân dân truy tố; nợ máu nặng có thể tử hình, Cách Mạng khoan hồng thì được đi cải tạo lao động. Tất cả moị taì sản sẽ bị tịch thu. Huệ Lan là thành phần tiếp tay cho ông bà gây nợ máu, nhưng xét tuổi còn trẻ, còn giáo dục giác ngộ được nên sẽ được điều đi kinh tế mới hay thanh niên xung phong. Tòng ngừng lại để cho những gì y noí ngấm vaò mạch máu, vaò trí não cuả gia đình điền chủ họ Lâm. Y thích thú trong lòng khi thấy những đôi mắt mở to kinh ngạc cuả Huệ Lan, sự kinh hãi trên nét mặt người mẹ đang không ngớt nhìn chông rồi nhìn hai con, sự đau đớn tuỉ nhục hằn trên mặt người cha. Mẹ Thuý Lan thảng thốt kêu lên: “Nhưng chúng tôi có làm gì đâu...?” bà không thể hiểu nổi những từ ngữ mới mẽ từ miệng cuả tên thanh niên hư hỏng, ít học đi một chân bên naỳ, một chân bên kia mà có lần đã đe doạ ép uổng con bà.

Khi đã thỏa mãn với những chấn động gây ra cho gia đình Thuý Lan, Tòng chậm rải buông chử “NHƯNG...” Nó như cái phao quăng cho người chết đuối hay lời phán goị cuả Thương Đế khi con người vưà bước đến ngưỡng cưả cuả địa ngục. Họ ngước mắt nhìn Tòng. Y đổi sang thái độ vui vẻ: “Nhưng chú Năm Hợp noí đó là chủ trương, chính sách cuả ‘Cách Mạng’ cuả ‘Tổ Chức’ không phaỉ cuả chú...vì tình gia đình và những giao hảo từ bao nhiêu đời nay. Để cải đổi ‘thành phần’ Cách Mạng quy kết cho gia đình, tránh tù tội cho chú thím và khổ cực cho hai em cách duy nhứt là chú thím gả em Huệ cho con, với tư cách đó chú thím sẽ là gia đình cách mạng, có con rể là cán bộ cách mạng, và với vị trí sui gia với chú Năm mà chức vụ cao trong tổ chức chú Năm có thể ảnh hưởng, bao che cho gia đình; chính quyền điạ phương sẽ không dám đụng chạm đến. Tất cả ruộng đất, taì sản ở Đức Huệ và nhà cửa, kho hàng ở Sài Gòn sẽ không bị tịch thu, chú thím chỉ làm giấy “hiến tặng” cho Cách Mạng. Cách Mạng sẽ khoan hồng cho giử lại căn nhà và khu vườn này ở Đức Huệ để chú thím sống, dưỡng già, và căn biệt thự ở đường Hồng Bàng Chợ Lớn cho hai em ở. Thành phần cuả chú thím và lý lịch cuả hai em từ đó sẽ là ‘tư sản yêu nước’, ‘gia đình cách mạng’...”

Sau lần gặp gở đó, Tòng đã chỉ đạo đội du kích xã sinh hoạt trong khu vườn cuả gia đình, để ông bà họ Lâm được tự do trong căn nhà lai cuả họ, phần thì để canh không cho họ trốn đi, phần thì để trấn áp tinh thần cả gia đình. Huệ Lan không kiếm mua được xăng cho chiếc xe LaDaLat trong vùng quê lúc nhúc du kích đó. Trên các ngã đường đâu đâu người ta cũng đang làm cổng chào để mừng ‘Cách Mạng’; Tòng thì xuất hiện khắp nơi trên chiếc xe Jeep cuả Nguỵ quân, ‘kiểm tra’, ‘đôn đốc’ việc naỳ, việc nọ. Tuy vậy y vẫn e ngại chị em Huệ Lan tìm cách trốn về Sài Gòn, nên đề nghị ‘mượn’ chiếc xe LaDalạt cuả họ. Hôm naò y cũng ghé qua nhà thăm hoỉ gia đình. Ông bà chủ điền họ Lâm chỉ mấy tuần mà xơ xác, già xọm đi. Ông đăm chiêu không noí, nằm liệt trong phòng; Huệ Lan loanh quanh trong vườn tìm rau quả, nấu ăn vì kẻ ăn người ở trong nhà đã đi hết không còn ai; mẹ Huệ Lan lâu lâu liếc nhìn hai con, rồi đưa khăn quẹt nước mắt. Một hôm Tòng đến nhà buổi chiều, đưa cho ông Lâm một bức thư cuả Năm Hợp từ Sài Gòn:

“Gởi Hai Thắng, lóng raỳ tui quá bận công tác trong Uỷ Ban Quân Quản. Chính quyền còn non trẻ mà âm mưu ngóc dậy cuả phản động, tàn dư Mỹ Ngụy là không nhỏ, do đó không về Đức Hoà noí chiện với anh và thím Hai cùng sắp nhỏ được. Tui đã dặn Tòng noí lại những sắp xếp cuả tui cho moị chiện được dẹn toàn. Anh kịp thời cho tui biết quyết định ngay, đợi quá trể, tổ chức mà sắp xíp xong thì tui không còn can thịp được. Chaò đoàn kết. Năm Hợp”

Cha Thuý Lan đọc xong buông thư xuống, ông thở daì. Mẹ Thuý Lan hoỉ: “Ông tính sao?” Ông trả lời: “Nước naỳ còn tính sao, moị chuyện đều do con Huệ thôi.” Cuối tuần đó ở hội trường Uỷ Ban Xã người ta trang hoàng hoa hoè, khẩu hiệu cho một lễ “tuyên bố” giưả đồng chí Dư văn Tòng và cô Lâm Thuý Huệ. Nhiều đoàn thể được mời đến tham dự, nhiều diễn văn đã được đọc, đó là một đám cưới cách mạng đầu tiên được tổ chức ở Đức Hoà. Du kích đã được điều đi khoỉ khu vườn trái cây cuả gia đình chủ điền họ Lâm, ông đã làm đơn hiến tặng hầu hết tất cả cuả cải ruộng đất và nhà xưởng ở Đức Hoà và Sài Gòn cho Cách Mạng. Mấy tháng sau Dư văn Tòng được điều về làm bí thư đoàn thanh niên Hồ Chí Minh ở xưởng Bason. Y dọn vô ở cùng với vợ trong căn biệt thự cuả chi em Huệ đường Hồng Bàng. Dù được cơ quan bố trí xe con đi công tác nhưng y vẫn sử dụng chiếc LaĐaLạt màu xám xanh cuả Huệ. Thuý Lan được Năm Hợp bố trí công tác ở Trung Mỹ Tây, giưả đường từ Sài Gòn lên Đức Huệ. Mỗi cuối tuần cô thường về nhà ở Saì Gòn hủ hỉ với chị, hoặc theo xe đò hợp tác xã về Đức Huệ thăm cha mẹ. Như cái nhìn sắc sảo cuả Năm Hợp cô có tính cách mạnh mẽ nên đã thích hợp được với việc giáo dục tư tưởng để giác ngộ cách mạng, thay đổi thành phần gia đình. Cô tập quen với không khí đồng ruộng, lội sình cầm đuốc đi họp hàng đêm với nông dân để thu tiền tiết kiệm xây dựng xã- hội xã- hội-chủ-nghiã. Những tâm sự và những giọt nước mắt cuả cô chỉ âm thầm bùng vỡ khi có dịp quấn quýt với những chị em cùng cảnh ngộ trên chi nhánh.

Chỉ vaì tháng sau, một đêm khua về nhà sau khi dự liên hoan tại một hội nghị cuả Thành Đòan, Dư Văn Tòng thấy Thuý Huệ nằm chết trên giường, trong tay cô nắm chặt một ống thuốc seducen một trăm viên. Y đã chở xác cô gái trẻ có nhan sắc tuyệt trần đó trên chiếc xe LaĐàlạt, trả cô về cho cha mẹ ở Đức Hoà. Họ chôn cô trong vườn, dưới bóng những cây xoaì, cây vú sưã mà cô hay bắc võng nằm chơi mỗi khi từ Sài Gòn về thăm nhà. Căn biệt thự ở Sài gòn mặc nhiên trở thành taì sản cuả Dư Văn Tòng nhưng hắn không bao giờ thể hiện điều đó. Cả gia đình ông điền chủ, tư sản mại bản họ Lâm ngã bịnh lê lết sau cái chết cuả Thuý Huệ, rồi dần dần họ cũng phục hồi. Bà Lâm thường ôm Thuý Lan khóc sướt mướt mỗi khi cô về. Nhìn cảnh cha mẹ tiều tụy Thuý Lan cương quyết căn răng, gạt nước mắt mà sống. Cô thường theo những chuyến xe cuối cùng từ Trung Mỹ Tây về Đức Huệ thăm cha mẹ và đeo những chuyến xe sớm nhứt từ Đức Huệ về Sài Gòn chay ngang Trung Mỹ Tây để kịp giờ làm buổi sáng.

Sau cái chết cuả Thuý Huệ, một hôm Thuý Lan về lại căn biệt thự đường Hồng Bàng nơi cô từng sống hơn mười năm để thu góp quần áo đồ đạc cũ cuả chị mình và cuả mình mang ra chợ trời Bình Tây bán lấy tiền. 30 đồng tiền lương hàng tháng, 14 kg gạo, 400 gram đường, 400 gram thịt giúp cô không chết đoí nhưng cô còn cần ít tiền để đeo xe đò thường xuyên về Đức Huệ. Cô khóc trước những đồ vật vô tri giác nhưng chất chưá biết bao nhiêu kỷ niệm sống động cuả cuộc đời tươi trẻ sung sướng cuả cô cách đây chỉ hơn một năm. Nước mắt và tiếng nấc ru cô vaò giấc ngủ trên chiếc giường gọng đồng trong căn phòng cuả mình để rồi choàng thức dậy với sức nặng cuả người đàn ông sặc suạ muì rượu bia. Hai bàn tay rắn chắc cuả hắn ghì chặt tay cô xuống giường, hai bắp đuì lực lưỡng đè cứng thân mình cô. Thuý Lan la hét vùng vẫy đến lúc kiệt sức, bất lực. Căn biệt thự cuả cô biệt lập trong khu vườn chung quanh trồng những cây nhản xum xuê. Cái thưở mà ngoaì đường người ta vẫn thản nhiên qua lại trước mặt một người kiệt sức ngã gục xuống vì bệnh hay đói lã thì dù có ai nghe tiếng cô la họ cũng chẳng bận tâm. Tòng biết như vậy, và dù có ai dám xông vaò nhà y thì y cũng cho một phát K54 là xong. Cái thuở mà bọn tàn dư Mỹ Ngụy trốn chui trốn nhủi, một phát đạn cuả cán bộ đảng không cho ngóc đầu dậy là một ân huệ, chẳng ai điều tra hạch hoỉ.

Xong việc, Tòng ngồi dậy, y vuốt ve khuôn mặt vỡ vụn vì đau đớn và mái tóc rối bù cuả Thuý Lan đang nằm sấp trên giường. “Anh sẽ cưới em, căn nhà naỳ là cuả Huệ và Lan, anh không thể lấy vợ khác rồi đem về đây để em sẽ phaỉ ra đi. Em công tác cải tạo thành phần trong một thời gian rồi cũng xong, rồi sẽ về với gia đình, em sẽ ở đâu? ở Trung Mỹ Tây luôn hay về Đức Hoà? Sao em có thể sống nổi với bọn địa phương đó? Mình ở đó quá lâu, biết hết tuị nó rồi mà. Tương lai ba má em ai sẽ chăm lo? anh phaỉ cùng em chăm sóc cho họ. Em còn đẹp hơn Huệ nưã, anh yêu em, anh muốn em ngay từ khi thấy em về Đức Hoà hồi tháng Tư năm ngoái...”

Chính sách và chế độ cuả cách mạng không quy định thời gian cư tang, Tổ chức chấp thuận cho Dư Văn Tòng đăng ký kết hôn với cô Lâm Thuý Lan khi trình giấy khai tử cuả Lâm Thuý Huệ là xong thủ tục và đã không có đám cưới hay đám tuyên bố gì. Dư Văn Tòng không phaỉ là người noí dối, Thuý Lan được chăm sóc chu đáo; y vẫn đón rước nàng bằng chiếc xe LaĐaLạt; với ‘chế độ’ đãi ngộ cuả vị trí bí thư Đoàn Thanh Niên một công xưởng lớn nhất miền Nam và quan hệ rộng, bổng lộc nhiều, y đủ sức chu cấp cho cả cha mẹ Huệ Lan, nhứt là thuốc men khi sức khoẻ cuả hai ông bà suy sụp sau cái chết cuả cô con gái lớn. Họ luỉ thuỉ đi ra đi vào căn nhà và khu vườn được xây dựng, bồi đắp hơn một trăm năm như những bóng ma cuả tổ tiên họ trước đó.

Lời kể về Lâm Thuý Lan, cuộc đời và hoàn cảnh cuả cô, làm cảnh sống cuả tôi ở vùng quê đó nặng nề hơn trước. So với Thuý Lan chúng tôi có vẻ may mắn hơn nhiều. Từ khi có sự cố tên Tính gây ra rồi Thuý Lan bỏ việc, hình ảnh cuả cô vẫn lảng vảng trong đầu và trong những câu chuyện cuả chúng tôi. Moị người thầm mong rằng ông Năm Hợp ‘bố trí’ được cho cô một công việc khác nhẹ nhàng, dễ thở ở Sài Gòn; mong cô đã về ở lại trong căn biệt thự ở đường Hông Bàng; Dư văn Tòng giử lời hưá chăm sóc và thương yêu cô; hàng tuần y sẽ chở cô trên chiếc xe LaDaLạt về Đức Hoà thăm cha mẹ với những giỏ đầy ắp thức ăn và thuốc men cho hai con người bất hạnh đó.

Thơì gian ngăn sau đó, môt cuối tuần tôi về thăm gia đình ở Sài Gòn rồi trở lại chi nhánh vaò buổi sáng thứ Hai. Khi vưà bước vô cổng tôi thấy Mỹ Ngọc và vaì cô gái đang đứng bên chiếc xe cuả cơ quan, bác Còn taì xế đang loay hoay châm xăng từ mấy can sắt 20 lít cuả quân đội Saì Gòn vào xe. Thấy tôi Mỹ Ngọc quay lại nhìn, miệng mếu máo, cặp mắt đỏ hoe. Biết có chuyện chẳng lành tôi đi vội đến hoỉ: “Chuyện gì vậy?” Mỹ Ngọc nén tiếng nấc: “Thuý Lan chết rồi!!!” Tôi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy suốt xương sống lên đến đầu làm cả người như đông đặc, bất động: “Uí Trời? Sao vậy?” Mỹ Ngọc thì thào: “Tự tử!”

Tôi cứ đứng thừ người ra như thế. Bác Còn từ từ lái chiếc xe ra cổng với Mỹ Ngọc và hai ba cô đã ngồi trên đó. Sáng đó tôi đã được phân công xuống Tân Hiệp ‘hợp đồng’ với Ủy Ban xã để mở một bàn tiết kiệm ở Xã; tên Buì, thủ trưởng cuả tôi chắc sẽ không tha thứ nếu tôi bỏ lỡ việc đó. Nhưng đôi chân cuả tôi tự nhiên vùng chạy theo chiếc xe đang lấy trớn; tôi la to lên với bác Còn: “Cho tui đi theo với!” Người taì xế chậm lại, tôi bám vaò thành xe, các cô nhích vaò nhường chổ cho tôi. Gần một tiếng rưởi đồng hồ sau khi băng qua những ổ gà, ổ trâu và đường đất buị mù chúng tôi ngừng trước căn nhà lai to lớn nhưng âm u trong khu vườn rợp bóng cây ăn trái. Ngay gian giưả, trước bệ bàn thờ mà trên đó bày biện đủ thứ baì vị hình ảnh cuả những người đã chết, người ta đặt chiếc hòm cuả Lâm Thuý Lan trên hai con ngưạ gổ. Một cái bàn thờ nhỏ, có chén cơm cắm đôi đuả, bát nhang, hai cây nến leo lét, và bức chân dung. Cô rất xinh đẹp, nhìn tôi, đôi mắt to trong suốt, cái má lúm đồng tiền và nụ cười bằng mắt lẫn bằng môi. Khu nhà lặng trang, không tiếng động, chỉ có tiếng tích tắc cuả cái đồng hồ quả lắc bằng đồng lớn treo bên tường. Trên chiếc phản gổ kê ở gian bên cạnh, có một người đàn bà đang ngồi têm trầu baỳ trên cái mâm gổ sơn son thếp vàng. Chúng tôi chắp tay chào. Một cô hoỉ: “Thưa bác, tuị cháu ở ‘cơ quan’ cuả Thuý Lan xuống chia buồn với gia đình. Bác có phaỉ là mẹ cuả Thuý Lan không?” Người đàn bà lắc đầu: “Không, tui là bà con hàng xóm, ba má nó ở nhà trong, đâu có dậy nỗi...”

Khoảng một năm sau tôi xin đổi đi nơi khác, trước khi rời khỏi chi nhánh, nhân ngày giổ đầu cuả Thuý Lan tôi lại theo xe chở mấy cô gái trở lại khu nhà đó trên Đức Huệ. Ngôi mộ cuả Thuý Lan sát ngay bên mộ Thuý Huệ, nằm đối diện là mộ cuả người mẹ. Vài tháng sau ngày Thuý Lan ra đi, bà đã nằm xuống và không bao giờ trở dậy được nưã. Tôi mơ hồ nghe thấy tiếng cười rúc rích cuả hai bé gái chạy đuổi nhau quanh mấy gốc xoài, gôc vú sưả, tiếng võng kẻo kẹt lẫn trong gió rì raò qua kẻ lá rồi tiếng gọi cuả người đàn bà: “Huệ à, Lan à, lại mẹ biểu coi...”




Chú thích:

Câu chuyện và tất cả các nhân vật đều có thật, một số được đổi tên vì lý do tế nhị. Người viết không chứng kiến những gì xảy ra trên Đức Hoà, chỉ cố găng tường thuật lại chi tiết theo lời kể cuả cac bạn Thuý Lan.

(*) Loai nhà ở vùng quê Nam bộ lai giưả kiến trúc Pháp và nhà ba gian Việt Nam - lợp ngoí, xây tường, có "hàng ba" tức hang hiên phiá trước. Thường là cuả những nhà trung lưu hay giaù có.

(**) Tô hồng: nghiã đen là sơn đỏ lên, là cách thức dân vận, địch vận cuả "cách mạng" để biến người dân hay quân lính "Ngụy" - đen- trở thành maù “đỏ” cuả cách mạng, người sẽ ủng hộ, hay hoạt động cho cách mạng


25986 top -
_______________________________________________
Lệ Đá - thơ - Nguyễn Tư Phương _______________________________________________

Image

trong hơi thở
đá nằm
nghe lạnh quá
hồn phong linh
quạnh quẽ
tiếng rung buồn.

xem tiếp...

_______________________________________________
Cũng Cùng Là Mẹ - văn - Hoài Yên _______________________________________________

Image

Con người sinh ra ai cũng muốn có cái quyền nói lên tiếng nói của chính mình. Tại sao một đứa bé vừa rời lòng mẹ lại khóc oe oe? Tại sao không cần chỉ hít vào lồng ngực một luồng không khí là buồng phổi tự động nở ra mà phải khóc thét lên một tiếng? Phải chăng tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh ấy cũng như một tiếng nói của riêng nó hầu nhấn mạnh sự có mặt của nó trên cuộc đời này.

xem tiếp...

_______________________________________________
Lời Cầm Sương Tôi - nhạc - Nguyễn Tiến Dũng _______________________________________________

Image

buông tay
ngây ngất dịu dàng
buông hồ cầm bặt âm vang
buông thanh âm
thơ ngát không gian
khép mặt giã từ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Hsinbyume - tranh - Đỗ Danh Đôn _______________________________________________

Image



xem tiếp...